TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT




Kỳ Thứ 4



CHƯƠNG 2


Về Quyển CHÂN THIỀN ZEN của Thiền Sư Taisen Deshimaru.

Phái Tào Động do dòng THANH NGUYÊN HẠNH TƯ là một người đắc pháp với Tổ Huệ Năng. Theo đồ biểu của dịch giả Trúc Thiên thì ta thấy: Từ Ngài HẠNH TƯ Thanh Nguyên (năm 740) cho tới Ngài Tào Sơn là người lập ra Phái Tào Động (840-869) là cách nhau hàng trăm năm.

Lối dạy về Thiền của phái Tào Động cũng giống như bên Phái Lâm Tế: là cũng “Đả Thiền”, tức là dùng gậy hay “thẻ tre” đánh lên người đang Ngồi Thiền. Thẻ của Tào Động được giải thích: Trước hết là những lời giáo huấn được viết lên đó (tr. 107). Sau đó là những cú đập của thẻ Thiền là để kéo những người đang bị rơi vào trạng thái hôn trầm hoặc tán loạn trở lại, gọi là để duy trì cường độ chăm chú của người Ngồi Thiền.

Nhưng việc “Đả Thiền” của Phái Lâm Tế thì hoàn toàn khác. Thiền Sư Taisen kể: Năm ông 17 tuổi. Ngày nọ ông đến một tu viện Phái Lâm Tế, thăm Đại Sư A… (về sau ông này trở thành chưởng môn phái Lâm Tế). Ông được đại sư giới thiệu đến Thiền Viện Kamakura gần Tokyo. Nghỉ hè sau đó, ông đến Thiền Viện này.

Nhưng kỷ luật ở đó quá nghiêm khắc, 2 giờ sáng là phải thức dậy để tọa Thiền. Các vị Sư thì không ông nào nói năng đúng đắn, lại thêm một vị sư trẻ sử dụng gậy hết sức mạnh bạo, mà cây gậy thì to, dài, khác hẳng thẻ roi của thiền Tào Động. Ở đó muỗi lại nhiều vô số, khiến trong buổi tọa thiền ông ta phải động đậy để xua. Thế là cứ nhúc nhích thì vị sư lại giáng cho một gậy tá hỏa tam tinh. Đôi lúc ông ta lại ngủ gục, thế là có dịp cho sư nọ phang thẳng tay! Hai vai của ông ta rướm máu. Ông ta chán nản muốn bỏ đi, nhưng lỡ hứa ở lại l tuần nên đành chịu trận.

Vào một buổi sáng cuối tuần, khi vị sư (có lẽ cũng đang mớ ngủ) giáng cho ông ta một gậy, nhưng thay vì đánh vào vai lại trúng vô đầu. Thế là ông nổi nóng, đứng dậy, giật phắt cây gậy, quật cho vị sư kia tới tấp. Mọi người đang ngồi thiền nhôn nháo đứng cả dậy, vây quanh ông để khuyên can, nhưng ông vung gậy đánh tứ tán rồi chạy đi”.

Ông trở lại đạo thất của Đại Sư A… và nói là không thích Thiền, muốn bỏ đi. Vị đại sư còn đang ngạc nhiên thì lúc đó vị sư bị đánh cũng đến than van về vụ tai tiếng ông ta đã gây ra cho đạo tràng. Vị Đại Sư phá lên cười: “Đấy mới thật là Chân Thiền”.

Quả thật ta khó mà nghĩ ra ai mới là Chân Thiền? Người đánh hay người bị đánh! Và nếu cho rằng cứ ngồi cho muỗi đốt, rồi ăn gậy mà thành Phật thì ta chưa thấy chính Kinh nào nói đến!

Thiền Sư Deshimaru, là Tổ đương thời của phái Tào Động viết quyển CHÂN THIỀN ZEN. Trong quyển này ta lại thấy một số điều đáng lưu ý như sau:

I- Ông tự xưng mình là Tổ thứ 84 tính từ Đức Thích Ca (tr. 179) là sai, vì trong Đạo Phật chỉ được tính có 33 vị Tổ mà thôi. Trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH có viết: Đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì do những người tranh chấp Y Bát, sẵn sàng giết người có nó để chiếm đoạt để lên làm Tổ. Vì thế, Ngũ Tổ đã dặn Ngài phải dấu đi không truyền nữa”. Cho nên, dù Phái Tào Động xuất phát từ gốc là Hạnh Tư Thiền Sư là người đắc pháp với Lục Tổ. Nhưng Lục Tổ không hề truyền Y Bát cho Ngài Hạnh Tư được làm Tổ kế vị, vì thế các nhánh về sau không thể theo đó mà tính tiếp. Bởi Lục Tổ có rất nhiều đệ tử đắc pháp, phải riêng đâu Hạnh Tư Thiền Sư? Do đó, Đúng hơn là phái này nên xếp lại thứ tự của mình cho khớp với lịch sử. Chỉ được quyền xếp thứ tự của riêng Phái mình, tính từ người đặt cái tên Tào Động mà thôi. Gom chung với chư Tổ quá khứ để mọi người tưởng lầm phái của mình chính thức được Truyền Y Bát là sai. So với chánh pháp là Vọng Ngữ.

II.- THIỀN CỦA PHÁI TÀO ĐỘNG :

Đây là một trong NGŨ PHÁI THIỀN nổi tiếng một thời, chuyên Tu và dạy THIỀN.

THIỀN được Thiền Sư Taisen giải thích như sau: “Nếu có ai hỏi “Thiền là gì?”, tôi trả lời: “Thiền không gì khác hơn là ngồi yên”.

TỌA THIỀN của Phái Tào Động là:

* Tọa Thiền không mục đích, không vì cái gì cả.

*Nhờ Tọa thiền, các hoạt động của vỏ não, của chất xám êm lắng xuống, và trung não mới có thể vận hành, phát triển, cho phép đạt đến trí huệ vô hạn. Như vậy Tọa Thiền là chân lý tuyệt đối chứ không phải chân lý tương đối. thực hành tọa Thiền, đó là nhắm thẳng đến cõi Ngộ.

*Tọa Thiền là tĩnh lặng tuyệt đối, tĩnh lặng mọi tư tưởng, Tọa thiền là Vô Niệm. Tọa thiền là thực nghiệm Bồ Đề, Trí Huệ tối thượng (57).

* “Chân Thiền của Phật chính là tọa thiền. Vậy tọa thiền là gì? Đó là ngồi xếp bằng, thân thật ngay ngắn, tâm không suy nghĩ điều gì, dù là nghĩ về Phật hoặc về giác ngộ. Có thái độ này, tâm ta sẽ trùng khít với chân tâm của chư Phật. Không suy nghĩ đến sinh tử, đến nghiệp quả hoặc luân hồi” .

*“ Không làm gì hết, chỉ ngồi đó là Thiền. Ngồi tự nhiên là thực hành tuyệt đối. Như vậy, tư thế ngồi tự nhiên là con đường đưa đến thành Phật”.

So sánh với THIỀN của Đạo Phật ta thấy như sau:

Ai cũng biết Đức Thích Ca sau 6 năm tu học với Lục Sư ngoại đạo mà không thành công. Ngài đã quyết định trải tòa cỏ để ngồi tĩnh tọa dưới cội cây Bồ Đề. Sau 49 ngày đêm thì Ngài đắc đạo. Hành động tĩnh tọa sau này gọi là Thiền Định. Kinh sách thì không đề cập đến Đức Thích Ca đã làm gì trong 49 ngày Ngồi Thiền Định đó, nhưng dựa vào lời Ngài hân hoan tuyên bố ngay sau khi cho là Đắc Đạo “Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Hỡi kẻ làm nhà, từ đây ta đã gặp được ngươi rồi. Ngươi không được làm nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã gảy vụn, rui mè của ngươi cũng tan nát cả rồi. Trí Ta đã đạt đến Vô Thượng Niết Bàn, ta đã hoàn toàn giải thoát”... thì ta thấy rằng trong thời gian ngồi tĩnh lặng đó Ngài đã tập trung tư tưởng mà tư duy, tìm thủ phạm đã “làm nhà”, tức là đã xây nên ngôi nhà Sinh Tử, cái mà Ngài đã phải hy sinh, bỏ cả ngai vàng, vợ đẹp, con xinh để đi tìm cho bằng được. Cuối cùng, nhờ 49 ngày đêm Thiền Định đó Ngài mới tìm ra. Qua đó, ta thấy, Ngài đâu có ngồi đó, diệt hết tư tưởng mà có thể phát hiện ra điều mình cần khám phá?

Do Kinh sách không ghi lại rõ là Đức Thích Ca đã làm gì trong lúc NGỒI, nên những phái tu học về sau mạnh ai nấy giảng giải theo cách hiểu của mình. Phái Tào Động cho là: “Ngồi xếp bằng, thân thật ngay ngắn, tâm không suy nghĩ điều gì, dù là nghĩ về Phật hoặc về giác ngộ. Có thái độ này tâm ta sẽ trùng khít với chân tâm của chư Phật”.

Qua khẳng định này, ta thấy Thiền Sư Taisen chưa hiểu thế nào là Phật và cách thức tu hành để Thành Phật, cho nên cũng không thể nào hiểu được thế nào là Tâm của Chư Phật. Theo Ngài, “không suy nghĩ gì hết, bỏ cái tâm trống không thì đó là trùng khít với Tâm của Chư Phật”. Như thế, hóa ra cỏ cây gỗ đá không có tâm, không biết suy nghĩ thì đồng với chư Phật? Chư Phật không phải Vô Tâm. Các Ngài có đến TỨ VÔ LƯỢNG TÂM. Và Tâm của các Ngài thì thanh tịnh, đâu có phải là chỉ trống không? Và cái tâm ngổn ngang, đầy phiền não như ta, nếu chỉ bỏ trống không trong thời gian Ngồi Thiền, thì khi xả Thiền nó cũng trở lại phiền não, đâu thể rỗng rang được?

Theo Đạo Phật, trong Tâm của mỗi con người có hai trạng thái được gọi là PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ. Phiền não, xao động, nghĩ ác, thương, ghét, hơn, thua… thì đó là cái Tâm Chúng Sinh, hay là Phàm Tâm. Và cái gọi là Bổn thể Tâm hay cái Chân Tâm thì thanh tịnh, như như. Vì thế, người tu phải tìm cách “Điều phục” hay là “Diệt độ chúng sinh” hay là “chuyển hóa cái tâm” để nó từ trạng thái PHÀM trở về với trạng thái thanh tịnh, hay là THÁNH, gọi là tu hành. Đâu phải cứ NGỒI lặng im không suy nghĩ mà nó sẽ tự thánh hóa?

Với kiểu ngồi bất động, ta thấy Lục Tổ có Kệ:

“Lúc sống ngồi, chẳng nằm

Khi chết, nằm, chẳng ngồi

Gốc là cục thịt thúi

Làm chi vậy mệt ôi” !

Có nghĩa là cái Thân này do Tứ Đại hợp thành, chỉ là đống thịt hôi nhơ. Nếu lúc sống nó cứ ngồi trơ ra đó, gọi là ngồi hoài không nằm. Rồi khi chết đi thì nằm một đống, không ngồi được nữa, thì cả đời làm như vậy chỉ mệt thôi. Chẳng sinh ích lợi gì. Ý Ngài chê kiếu Ngồi Thiền mà Kinh Duy Ma Cật gọi là “ngồi sững ở đó”. Bây giờ Thiền Sư Taisen lài cũng dạy người tu: “không suy nghĩ gì hết, bỏ cái tâm trống không”, giống y như những gì mà Lục Tổ và Kinh đã chê trách!

Cách hướng dẫn Ngồi Thiền của Thiền Sư Taisen: “Tọa Thiền là tĩnh lặng tuyệt đối, tĩnh lặng mọi tư tưởng”, trong khi đó, Lục Tổ dạy:

“Có tình hiểu biết đương nhiên động

Không động là loài chẳng có tình

Học đạo nếu tu hạnh chẳng động

Giống loài chẳng động tức không tình

Muốn tìm cảnh thiệt tâm không động

Trong lúc động mà Tánh chẳng lay

Chẳng động, thiệt ròng tâm chẳng động

Không tình đâu có giống Như Lai”

Có nghĩa là con người là giống hữu tình đương nhiên là phải động. Nhưng làm sao để trong lúc động mà không ảnh hưởng đến cái Tánh, gọi là Động mà không Động. Do vậy mà phải tu học. Lời Lục Tổ dạy quá rõ: Nếu tu để trở thành không động như cây cỏ, là loài vô tình. Nếu thật sự không có tình thì chẳng phải là giống Như Lai.

Nơi khác trong Pháp bảo Đàn Kinh, Lục Tổ nói về những người dạy Thiền sai: “Chư thiện tri Thức, lại có người dạy ngồi xem cái tâm, quán tưởng Tâm, Cảnh vắng lặng, ngồi yên chẳng dậy, bảo theo đó mà lập công phu. Người mê chẳng hiểu, cố chấp làm theo rồi thành điên dại. Số người lầm như thế chẳng phải ít. Truyền dạy nhau như vậy thiệt là lầm to”! Trong khi đó, tất cả những phái Thiền, kể cả Phái Thiền Tào Động, cũng xưng Tổ Đạt Ma và Lục Tổ là “Tổ Sư Thiền”, nhưng lại không biết, không thấy lời cảnh báo này của hai vị Tổ Sư mình! Xem ra hình như các phải dạy TU THIỀN chỉ muốn mượn danh của hai Tổ như là một thứ nhãn mác để lừa người ngưỡng mộ hai vị, để họ vì tin các Ngài rồi theo họ để học mà thôi. Bởi những gì họ giảng dạy đâu có giống chút nào với lời của Hai Tổ?

Về Dứt hết tư tưởng, trong Pháp Bảo Đàn Kinh, có bài kệ:

Ngọa Luân tài rất hay

Dứt được cả tư tưởng

Đối cảnh lòng không động

Bồ Đề ngày vượn lớn”

Lục Tổ Huệ Năng thì :

Huệ Năng tài chẳng hay

Không dứt cả tư tưởng

Đối cảnh lòng động hoài

Bồ Đề đâu vượn lớn”

Tức là Ông Ngọa Luân nào đó, dứt được cả tư tưởng, đối cành lòng không động thì cho rằng mình rất hay, Bồ Đề ngày càng vượn lớn. Ngài Huệ Năng thì cho rằng Ngài chẳng có hay, chẳng dứt tư tưởng, đối cảnh lòng vẫn động và Bồ Đề không có vượn lớn”. Có nghĩa là người chẳng biết thế nào là tu hành thì dứt hết tư tưởng, đối cảnh không động, thấy rằng mình tu hành ngày càng cao. Ngược lại, Ngài Huệ Năng không dứt tư tưởng bởi vì Ngài lúc nào cũng Quán Sát, Tư Duy. Nếu dứt tư tưởng làm sao tư duy, để phân rõ đúng, sai, chân giả? Đối cảnh Ngài vẫn động, có nghĩa là thấy người đời còn mê lầm thì Ngài càng tìm cách để giảng giải cho họ thoát được cảnh mê. Có nghĩa là Ngài lúc nào cũng động, là làm công việc nối tiếp con đường “tát cạn vực nước mắt của chúng sinh đang đau khổ” của Chư Phật. Và người thật tâm tu hành thì không nhắm vào quả vị, vào cao, thấp, hơn, thua… nên đâu có thấy mình tu ngày càng cao mà cho là Bồ Đề vượn lớn?

Thiền Sư Taisen định nghĩa về GIÁC NGỘ như sau:

* Tọa Thiền chính là giác ngộ. Giác ngộ chỉ là tọa Thiền (44).

* Giác Ngộ không phải là một trạng huống đặc dị của tâm thức, đó không phải là cái chiếm hữu, nắm bắt. Giác Ngộ là một tâm trạng bình thường vốn có. Khi đã vào thế chỉ quán, chú ý hoàn toàn vào tâm hết vọng niệm thì đó là Giác Ngộ. (tr.77)

* Nếu lìa bỏ thân Tâm, quên đi bản ngã và đặt tất cả vào đại lực của Phật thì lúc đó không cần dụng tâm cũng có thể thoát vòng sinh tử, giác ngộ thành Phật.

Trước hết ta thấy Thiền Sư đã giải thích sai về Tọa Thiền và Giác Ngộ. Ngài cho rằng; “Tọa thiền là Giác Ngộ, Giác Ngộ là Tọa Thiền”, trong khi đó hai từ này nói về hai việc hoàn toàn khác nhau. Tọa Thiền nói về hành động của cái Thân, ngồi xếp bằng trong tư thế kiết già hay bán già. Còn Giác Ngộ là nói về tình trạng dứt hết mê lầm của cái Trí. Có thể nhờ Tọa Thiền, nhiếp niệm tư duy, gọi là Thiền Quán mà đưa đến kết quả là Giác Ngộ như Đức Thích Ca. Nhưng Tọa thiền dứt khoát không phải là Giác Ngộ. Bởi thực tế đã chứng minh: có biết bao nhiêu người Tọa Thiền, mà được bao nhiêu người Giác Ngộ?

Ngài cho rằng: “Nếu lìa bỏ thân tâm, quên đi bản ngã và đặt tất cả vào đại lực của Phật thì lúc đó không cần dụng tâm cũng có thể thoát vòng sinh tử, giác ngộ, thành Phật”. Đó là lời giải thích của người không hiểu ý nghĩa của từ Phật. Nếu Phật là Đức Thích Ca thì Ngài đã nhập diệt mấy ngàn năm rồi, ta biết đại lực Ngài là gì? Ở đâu? làm cách nào đặt tất cả vào đó? Thân tâm này làm sao lìa bỏ? Kinh Phật thì cho là “hàng phục rồi dùng lại”, Ngài bảo lìa bỏ, thì lìa cách nào? Trong chính Kinh dạy: VĂN-TƯ-TU, tức là nghe pháp xong rồi phải Tư Duy để hiểu cho rõ, cho chính xác, sau đó mới bắt tay vào hành trì. Đâu có nơi nào dạy đem Tâm của mình đặt vào đại lực của Phật để thành Phật?

Muốn “Đổ khuôn”, hay gọi là “đúc tượng” Phật, thìTổ Đạt Ma dạy: “Người cầu đạo giải thoát phải lấy thân mình làm lò, lấy Pháp làm lửa, lấy Trí Huệ làm tay thợ khéo, lấy Ba Giới tu tịnh, Sáu Ba La Mật làm khuôn phép, nấu chảy và rèn luyện chất chân như Phật Tánh ở trong Thân cho thấm nhập khắp tất cả các hình thức giới luật; y lời đó mà vâng làm, mỗi mỗi không hở sót, thì tự nhiên thành tựu hình tướng của chân dung”. Phải đâu chỉ cần NGỒI THIỀN là khỏi cần tu hành ? Hơn nữa. Kinh viết, Đức Thích Ca nhờ Ngồi Thiền mà Đắc Đạo, đâu có nói Ngài thành Phật nhờ Ngồi Thiền? Nếu chỉ cần Ngồi Thiền mà Thành Phật, khỏi cần tu hành, thì Kinh còn dạy làm các hạnh: Giới, Định, Huệ, Lục Độ, Bát Chánh Đạo, Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Nhiếp vv… để làm chi?

Thiển Sư Taisen giải thích: “Giác Ngộ là một tâm trạng bình thường vốn có. Khi đã vào thế chỉ quán, chú ý hoàn toàn vào tâm hết vọng niệm thì đó là Giác Ngộ”. Giác Ngộ giải thích theo kinh là sự bừng tỉnh khi dứt hết mê lầm. Đó không phải là một tâm trạng bình thường, vì nếu binh thường thì lẽ ra mọi người đều đã giác ngộ, cần chi phải giữ Giới, phải Thiền Đinh, phải có Trí Huệ? Vào thế Chỉ Quán tức là chỉ mới dừng mọi vọng niệm để quán sát, tư duy. Đó mới chỉ là hành trình để tiến tới Giác Ngộ, chưa thể gọi đó là Giác Ngộ.

Nếu thiền Sư Suzuki ca ngợi “ngón tay của Câu Chi” hay việc đưa lên đưa xuống cây phất tử, cho đó là phương tiện “chỉ thẳng” của nhiều Thiền Sư, thì Thiền sư Taisen ca tụng Ngồi Thiền. Ông nói: “Chỉ trong mỗi việc đơn giản là ngồi yên cũng đã hàm tàng muôn vàn bí mật”. Ông nói : “Tọa Thiền là tĩnh lặng tuyệt đối, tĩnh lặng mọi tư tưởng. Tọa thiền là Vô Niệm. Tọa thiền là thực nghiệm Bồ Đề, Trí Huệ vô thương (tr.57).

Thiền Sư Taisen cũng hiểu lầm nghĩa của Vô Niệm. Lục Tổ dạy: “VÔ NIỆM là trong khi niệm lòng không động niệm”. Và “Chư Thiện Tri Thức. Đối với các cảnh mà tâm chẳng nhiễm gọi là Vô Niệm. Trong các niệm tưởng của mình, Tâm thường lìa cảnh, chẳng vì đối cảnh mà sanh tâm. Bằng đối với trăm việc tâm chẳng nghĩ đến, các niệm tưởng đều bỏ hết, và nếu một niệm dứt tuyệt thì chết liền và phải chịu đầu sanh chỗ khác. Ấy là một điều lầm to, người học đạo khá suy nghĩ lấy đó”. Như vậy ta thấy lời Tổ hoàn toàn khác với lời hướng dẫn của Thiền Sư Taisen.

Đối với Thiền Tào Động, “thực hành Tọa Thiền là giác ngộ” (tr.73).

Thiền Sư Taisen đã vật chât hóa cái Giác Ngộ và cho rằng vị trí nó là ở Trung Não. Ngài cho rằng: “chỉ cần Tọa Thiền, chất xám êm lắng xuống và trùng vào mới có thể vận hành, cho phép đạt đến trí huệ vô hạn…” Trí huệ thuộc về tư tưởng, đâu thể có vị trí hay màu xám như Ngài diển tả ? Ngài cũng không biết rằng trí huệ do Tư Duy mà có, chẳng phải do tư thế Ngồi Thiền. Bằng chứng là Lục Tổ, đâu có Ngồi Thiền ngày nào mà Trí Huệ vẫn sáng suốt nên được truyền Y Bát.

Thiền Sư Taisen cho rằng: “Hiệu quả của Tọa Thiền đặt căn bản trên sự đứng đắn của tư thế. Tư thế sai lệch có thể nguy hiểm hoặc ít ra cũng vô hiệu”.

Nơi trang 66 thì Thiền Sư Taisen giải thích: “Tọa Thiền là thực hành việc trần tư chiêm nghiệm trong tư thế ngồi. Chính nhờ trầm tư trong tư thế tĩnh tọa mà đức Thích Ca đã chứng ngộ”.

Chính Ngài đã viết: chính nhờ trầm tư trong tư thế tĩnh tọa mà Đức Thích Ca đã giác ngộ”. Nhưng khi hướng dẫn Thiền thì lại dạy: “Tư thế cho đứng đắn, Ngồi để tâm trống không, không suy nghĩ gì hết”. Rõ ràng Ngài đã không làm giống như Đức Thích Ca đã làm, là trầm tư trong tư thế tĩnh tọa như chính câu Kinh Ngài đã trích. Chứng tỏ Ngài đã mâu thuẫn với chính lời mình nói. Và chỉ Tĩnh tọathiếu trầm tư thì làm sao giác ngộ?

THIỀN ĐỊNH được Kinh VIÊN GIÁC giải thích: “THIỀN ĐỊNH LÀ CHỈ QUÁN, VÀ CHỈ QUÁN SONG TU”. Ngồi yên lặng mới là CHỈ. Thiếu QUÁN. Do đó chưa thực hành đúng cách của THIỀN ĐỊNH.

Con đường Thành Phật theo chính Kinh dạy là phải “Thấy chúng sinh”, rồi phải “Điều Phục Chúng Sinh”. Phải “Độ tận chúng sinh” thì mới thành Phật. Cách hành Thiền của Thiền Sư Taisen lại bảo “Tư thế Ngồi tự nhiên là con đường đưa đến thành Phật”. Thậm chí nơi trang 115 Ngài còn dạy là: “Trong tọa Thiền, trong khi ăn, trong lúc ngủ.nếu chuyên tâm thì nghiệp chướng có thể tiêu trừ, có thể thành Phật…” là hoàn toàn không đúng với chính Kinh. Đã gọi là tu TỨC LÀ PHẢI SỬA. Trước đó phải biết tại sao cần SỬA. SỬA ở đâu? Sau đó bắt tay vào thực hành, thì mới gọi là Tu hành. Thiền Sư chưa biết THIỀN chỉ có công dụng là sinh Trí Huệ, tức là để mở ra cái Trí hiểu biết, vì thế Ngài cũng không biết cả việc phải TU như thế nào, chỉ một mực đề cao THIỀN, cho đó là tất cả!

Đạo Phật được gọi là Đạo để ĐỘ KHỔ hay là để “Trừ Phiền Não”. Muốn “trừ Phiền Não” thì phải biết nó ở đâu? Vì thế mà cần THIỀN ĐỊNH là để tập trung cả Thân lẫn Tâm để tư duy. Trong khi đó, Phái Tào Động dạy “cứ Ngồi, tâm để trống không, không suy nghĩ điều gì”. Chỉ Ngồi suông, thi xả Thiền có hiểu biết được gì thêm?

Trong Pháp Bảo Đàn Kinh Lục Tổ dạy: “Chư Thiện Tri Thức. Đạo phải là thông lưu, sao lại làm cho nó ngưng trệ? Tâm không trụ pháp thì Đạo thông lưu. Còn tâm trụ pháp ấy là mình trói lấy mình. Bằng nói rằng thường ngồi chẳng động thì cũng như Xá Lợi Phất ngồi im lặng trong rừng mà bị Duy Ma Cật quở vậy”.

Dù các phái Thiền đều là đệ tử truyền đời của LỤC TỔ HUỆ NĂNG, nhưng cách hiểu, cách hành về Thiền đã khác hẳn với những gì Ngài truyền dạy được ghi lại trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH. Theo Kinh Lăng Nghiêm, tu hành quyết định phải đủ 3 điều: Thứ nhất, Dùng Giới Luật nhiếp phục tự tâm. Thứ 2, Nhơn Giới Tâm mới sinh Định. Thứ 3, Nhân Định, Tâm Phát Huệ”. thì Với Thiền Sư Taisen thì “chỉ cần Ngồi Thiền”. Nhưng Ngồi Thiền của phái Tào Động do Ngài hướng dẫn cũng không giống như bên Phật Đạo. Do đó, không thể tự xưng rằng Phái Thiền của mình là CHÂN THIỀN được.

Trong Pháp bảo Đàn Kinh, Lục Tổ dạy: “Nếu chẳng biết cái ý chỉ của pháp, tự mình lầm con khá, sợ e lại khuyên dạy người khác”. Nhưng hình như các Thiền Sư không hề đọc chính Kinh, cũng không đọc tích “Con chồn Hoang” của Bách Trượng, nói về một giảng sư chỉ hạ sai một chuyển ngữ mà phải đọa làm chồn 500 kiếp. Do đó các Ngài không hề biết gì để sợ.

Phật dạy: “Ly Kinh nhất tự đồng ma thuyêt”, nhưng đa phần sách của các Thiền Sư viết thì chẳng có chút gì liên quan tới chính Kinh, thậm chí như Ngài Suzuki còn đề nghị “tướt bỏ” Kinh đi! Vì thế, những người muốn tu học thời nay cần rất thận trọng, bởi nếu không đọc Chính Kinh làm sao ta biết được rằng việc Truyền Y bát đã kết thúc từ thời Lục Tổ Huệ Năng? Thiếu hiểu biết về lịch sử của Đạo cho nên thấy Thiền Sư Taisen là người của dòng Tào Động, xuất phát từ gốc của đệ tử Lục Tổ thì cho đó là dòng Chánh Pháp, cứ theo đó mà tin. Có mở Kinh ra để kiểm chứng thì ta mới biết Thiền Sư Taisen đã nói ngược lại với những gì chư Tổ dạy.

Đa phần chúng ta vào Đạo do Tin người đi trước. Nói về niềm tin thì Đức Phật có dặn dò: “Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy ta đã nghe thấy có người nói một lần rồi. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được truyền lại từ xưa. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy được truyền từ phương xa tới. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vi điều ấy được viết ra từ trong Kinh sách. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì chính ta suy diễn và nói ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến của ta. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì tính cách có thể chấp nhận của các điều ấy. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì sự kính trọng của ta đối với người đã nói ra điều ấy.

Nhưng tự các con, các con đã hiểu rõ ràng có một điều gì đó đúng với đạo lý, không bị chê trách, được các bậc thiện tri thức thiện tâm tán đồng và có thể mang lại hạnh phúc an vui. Các con phải thực hành điều đó”. Phật đã dặn dò kỹ như thế, nhưng nếu ta không đọc Chính Kinh làm sao biết để thực hành theo?

Trong Đạo Phật, người Thầy rất là quan trọng. Dù ta có thành tâm đến mấy, nhưng quả vị của ta sẽ tùy thuộc vào trình độ của người hướng dẫn. Kinh VIÊN GIÁC dạy: “Này Thiện Nam! Có loại chúng sanh có thể chứng được VIÊN GIÁC. Song, nếu chúng gặp Thiện Tri Thức là Thinh Văn hóa độ, thì chúng thành Tiểu Thừa. Còn gặp Thiện Tri Thức , là Bồ Tát hóa độ thì chúng thành Đại Thừa. Nếu gặp Như Lai dạy tu đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì chứng thành Phật Thừa”. Đó là nếu may mắn gặp những người Thầy chân chính. Dù họ chưa tu hành đến nơi đến chốn cũng không đến nỗi làm hư mất tâm Bồ Đề của người học. Nguy hiểm hơn hết là gặp phải tà sư: “Có những chúng sanh đi tầm Thiện Tri thức chỉ dạy đường lối tu hành, nhưng lại gặp ngoại đạo tà sư dạy bảo nên chúng nó sanh ra tà kiến, hiểu ngộ không chơn chánh. Đây không phải là lỗi tại chúng sanh đó, mà lỗi tại tà sư”.(V.G.)

Dù là lỗi tại tà sư, nhưng người lãnh hậu quả, chịu thiệt thòi lại là người nghe pháp! Nhưng người mới phát tâm tu hành làm sao phân biệt ai là tà sư, ai mới là người giảng dạy đúng chánh pháp, vì pháp sư nào xem ra cũng tu lâu năm, giảng pháp thao thao, uy tín lừng lẫy, được đông đảo người tin nhận? May quá, cũng không phải là hết cách, bởi thời này Kinh sách đã được các vị tu hành đi trước dịch ra tiếng Việt, tái bản liên tục, không sợ thiếu... Lời Phật từ cách đây mấy ngàn năm vẫn còn nguyên giá trị, tại sao ta không mở ra để tự đọc, tự hiểu? Có người cho rằng không nên đọc Kinh, vì “Kinh cao lắm, để các vị tu hành đọc, ta cứ sống thiện, ăn hiền ở lành là được rồi”! Họ không biết Phật dạy: “Giác Ngộ không cần tuần tự. Ly huyển không cần phương tiện”. Tức là không cần phải lần lượt theo thứ tự, từ thấp lên cao, mà mọi người đều có thể dùng phương tiện “Đốn Giáo” của Đạo Phật là “Trực chỉ Chân tâm” rồi tu ở đó. Tổ Đạt Ma đã dạy: “TỨC TÂM TỨC PHẬT”, “MUỐN TÌM PHẬT THÀ TÌM TÂM”. Như vậy tại sao cứ loanh quanh làm những việc khác, tìm thứ chi khác, cho phí thời giờ vốn hữu hạn của chúng ta ?

Không có Kinh cao, thấp, chỉ có Kinh liễu nghĩa và Kinh Bất liễu nghĩa đòi hỏi người đọc phải có một trình độ tu hành nhất định. Phật đã dặn dò: “Y Kinh liễu Nghĩa, bất Y Kinh vị liễu nghĩa”, vậy tại sao ta không chon Kinh liễu nghĩa mà đọc rồi thực hành theo đó? Và phải chăng, thà tự mình đọc, rồi hiểu nhầm, tu nhầm rồi tự chịu hậu quả lấy, còn hơn là để người khác đọc Kinh rồi giảng lại cho nghe, để rồi đôi khi họ cũng chỉ Y theo văn tự mà giải nghĩa, rơi đúng vào lời cảnh báo là: ”Y Kinh giải nghĩa tam thế Phật oan”?! Hoặc họ cũng chẳng cần đọc Kinh, tự sáng tác ra đường lối tu hành nào đó, thầy trò xưng tán nhau, rồi cứ thế truyền lần xuống, như trường hợp giảng dạy của các Thiền Sư vừa trích ở các phần trước, thì ta nghĩ sao? Bỏ bao nhiêu thì giờ, công sức để tu hành mà kết quả lại trở thành “báng Phật, nhạo Pháp”! Đời người lại qua mau. khi biết được thì đã muộn. Lúc đó ai sẽ đền cho ta?

 
 

... CÒN TIẾP...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 15.11.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .