BÀI THƠ QUỶ MÔN QUAN
CỦA NGUYỄN DU



Nhân ngày sinh lần thứ 191 của Thi hào Nguyễn Du (16/9/1820-16/9/2011) nhà báo Vương Liêm đã có buổi nói chuyện chuyên đề hàng tuần tại Cung văn hóa lao động thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 25/9/2011 với chủ đề: “Thi hào Nguyễn Du với bài thơ Quỷ môn quan”.

Dưới đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu nội dung bài nói chuyện của nhà báo Vương Liêm.


Newvietart.com

1- Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Du (1765-1820)

1.1 Thân thế:

Nguyễn Du sinh ngày 23/11 năm Ất Dậu nhằm ngày 3/1/1766 năm Cảnh Hưng thứ 26 tại phường Bích Câu – Thăng Long (Hà Nội ngày nay), trong một gia đình đại quý tộc.

Ông tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, nguyên quán làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con thứ bảy của Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708-1775), là Tể tướng Lê triều, tước Xuân Quận Công, từng cầm quân đi đánh giặc lập nhiều công, có lần đánh với quân Nguyễn Nhạc (Tây Sơn). Mẹ ông là vợ lẽ thứ ba của Xuân Quận Công tên Trần Thị Tần. Cụ Nguyễn Nghiễm có 8 bà vợ với 21 người con. Cụ còn là sử gia, nhà thơ.

1.2 Sự nghiệp:

Năm 1783, Nguyễn Du 18 tuổi, đi thi Hương ở trường thi Sơn Nam và đỗ Tam trường (Tú Tài), không học tiếp, lấy vợ và làm con nuôi viên Chánh Thủ Hiệu ở Thái Nguyên, khi ông này mất, Nguyễn Du được kế tập giữ chức ấy. Cuối đời, ông có hai vợ, một thiếp với 12 con trai và 6 con gái.

Năm 1789, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc đánh quân ngoại xâm nhà Thanh. Vua Lê Chiêu Thống bỏ chạy qua Trung Quốc, Nguyễn Du đi theo nhưng không kịp nên quay về quê quán.

Năm 1796, Nguyễn Du lại tìm đường vào Gia Định để theo Nguyễn Phúc Ánh chống quân Tây Sơn nhưng bị bắt ở Nghệ An. Nhờ quen biết nên ông được tha và quay lại Tiên Điền. Ông sống vất vả với nghề săn thú, bắt cá tại quê nhà nên đã đi khắp 99 ngọn núi của dãy Hồng Lĩnh (nên có biệt hiệu Hồng Sơn Lạp Hộ).

Mùa thu 1802, Gia Long lên ngôi, có lần ra Bắc mời Nguyễn Du ra gặp và được bổ Tri huyện Phù Dung, rồi thăng lên Tri phủ Thường Tín (Thăng Long). Năm sau, ông được cử lên ải Nam Quan tiếp đón sứ thần Mãn Thanh.

Năm 1805, ông cáo bệnh từ quan liên tiếp ba lần không được. Đến năm 1813, ông được thăng Cần Chánh điện Đại học sĩ và được cử cầm đầu Sứ bộ sang Trung Quốc. Ông mất năm Nhâm Thìn (16/9/1820), thọ 56 tuổi, do mắc bệnh dịch lan tràn từ Nam ra Bắc. Cuộc đời làm quan triều Nguyễn gần 20 năm.

- Tác phẩm: Quốc âm có 4 thi phẩm, trong đó nổi trội là Đoạn Trường Tân Thanh (truyện Kiều) và Văn tế Thập loại chúng sinh. Hán văn có 3 tác phẩm, trong đó nổi bật Bắc hành Tạp lục.

2-Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Quỷ môn quan

2.1 Giới thiệu tập thơ Bắc hành Tạp lục

- Đó là tập thơ ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc, từ đầu năm Quý Dậu 1813 tới đầu năm Giáp Tuất 1814. Tập thơ có 131 bài chữ Hán. Đây là tập thơ nói lên lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bị vùi dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùng nỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng và tàn bạo. Tất cả được Nguyễn Du nói lên bằng những vần thơ hết sức sâu sắc. Riêng bài thơ thứ 5 có tên “Quỷ Môn Quan”, tên một địa danh thuộc xứ Lạng.

2.2 Vị trí địa lý của Quỷ môn quan (Ải Chi Lăng)

- Quỷ Môn Quan sau này được gọi là Ải Chi Lăng, là một “ải” thuộc xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn trên QL 1A từ Hà Nội đi Lạng Sơn theo hướng đông bắc. Ải Chi Lăng cấu thành từ một thung lũng hẹp ép giữa hai dãy núi (đông là núi đất, tây là núi đất, tây là núi đá Cai Kinh dựng đứng).

- Dọc theo thung lũng ven đường cái quan dài 5km và rộng 3km có các núi thấp như Hàm Quỷ, Phượng Hoàng, Kỳ Lân, Mỹ Yên…

- Tại Ải Chi Lăng có thành Chi Lăng ở vào cây số thứ 109 tính từ Hà Nội (gần ga Trăm Năm ở cây số 105), tới cây số 154 thì tới thành phố Lạng Sơn.

- Thành cổ tại Ải Chi Lăng do quân Minh đắp trong thời gian xâm lược Việt Nam (khoảng 1410) có chu vi 154 trượng và cao 5 thước, nay chỉ còn nền cũ.

- Phía nam Ải Chi Lăng có hai khối đá lớn có hình dáng giống như thanh kiếm khổng lồ gọi là Lê Tổ Kiếm và một tượng đá có hình dáng như một người quỳ gối và bị cụt đầu gọi Liễu Thăng thạch (18/9/1427).

- Ngoài Ải Chi Lăng còn có Quỷ Môn Quan, theo sách cổ, nó nằm ở phía nam huyện Bắc Lưu thuộc châu Uất Lâm tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) cách 30 dặm. Mã Viện đánh Việt Nam thời Hai Bà Trưng có dựng bia và tạc rùa đá (năm 43 sau CN). Truyền thuyết dựng bia ghi “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” và người đời truyền tụng: Quỷ môn quan! Quỷ môn quan! Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn!

2.3 Lịch sử của Ải Nam quan:

- Địa danh này gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống các triều đại phong kiến Trung Quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam, như nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh…

- Ải Chi Lăng còn gắn liền với các hoạt động của các nhà quân sự tài năng như:

* Hai Bà Trưng (40-43 sau TL): Cuộc khởi nghĩa thắng lợi làm vua ba năm. Mã Viện đem quân đánh Hai Bà ngang qua ngã Lạng Sơn tới Quỷ môn quan được Nguyễn Du nhắc tới trong bài thơ Quỷ môn quan: “Hán tướng công gì kể bấy nay”.

* Thời Lê Hoàn tức vua Lê Đại Hành (980-1005): Sau khi nhà Đinh suy yếu, quân nhà Tống mở đầu cuộc xâm lăng Đại Việt, tiến vào Lạng Sơn, đi đến Chi Lăng bị Lê Hoàn chặn đánh giết chết tướng nhà Tống, tướng còn lại sợ phải rút quân về. (Chuyện kể Núi quỷ có 7 ngọn tượng trưng cho 7 chiến sĩ hy sinh tại đây)

* Thời Lý Thường Kiệt: Đầu năm 1076 quân nhà Tống lại đưa quân tràn qua biên giới chiếm đóng Lạng Sơn và tới Quỷ môn quan. Tướng Lý Thường Kiệt đưa quân đến ngăn chặn (chuyện kể về trấn áp 7 núi quỷ) nhưng lại lui về lập phòng tuyến ở bờ sông Như Nguyệt. (bài thơ là bản tuyên ngôn độc lập thứ 1).

Nhà Tống tham lam cố tình chiếm đóng đất Quảng Nguyên thuộc tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, tới năm 1084 mới trả lại cho ta sau nhiều năm đấu tranh ngoại giao.

* Thời Trần Quốc Tuấn:

+ Lần 1 năm 1257, quân Nguyên đánh nước ta qua ngã Vân Nam – Lào Cai dọc theo sông Hồng tới Thăng Long. Năm sau 1258, vua Trần Thái Tông đã ra trận đánh thắng ngoại xâm.

+ Lần 2 năm 1283, nhà Nguyên đem quân sang đánh nước ta qua ngã Lạng Sơn tới Ải Chi Lăng bị quân Trần Quốc Tuấn (tức Tiết chế Hưng đạo) cùng nhiều tướng giỏi dùng chiến thuật “hố bẫy ngựa” đánh đuổi khiến Thái tử Thoát Hoan phải chui ống đồng trốn về nước (1/1285).

+ Lần 3 năm 1287, Thoát Hoan chỉ huy sang đánh nước ta qua ngã Lạng Sơn và đường biển, bị đánh tại sông Bạch Đằng (1288).

* Thời Lê Lợi… và các thủ lĩnh của xứ Lạng: Tới cuối đời nhà Trần (hậu Trần), nhà Minh chiếm đóng Đại Việt (1414-1427). Lê Lợi khởi nghĩa ở đất Lam Sơn kháng chiến chống quân Minh 10 năm (1418-1427). Kết thúc bằng chiến thắng Chi Lăng và Xương Giang khu vực Quỷ môn quan. Liễu Thăng bị giết tại đây. Nguyễn Trãi sáng tác Bình Ngô đại cáo (bản tuyên ngôn độc lập thứ 2).

* Thời kỳ nước ta bị đô hộ:

+ Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc đầu tiên (214-208 tr TL): Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đánh nước Văn Lang của vua Hùng, quân Tần “thây phơi, máu chảy hàng mấy chục vạn” (Bên đường gió lạnh luồng xương trắng).

+ Cuộc xâm lăng của Triệu Đà nước Nam Việt (Quảng Châu - Trung Quốc ngày nay) đánh chiếm thành Cổ Loa của vua An Dương Vương (179 tr TL) nước Âu Lạc.

3-Nội dung và ý nghĩa bài thơ Quỷ môn quan

3.1 Nguyên tác và bản dịch của bài thơ:

Núi liên tiếp, cao vút tận mây xanh

Nam Bắc chia ranh giới ở chỗ này

Là nơi nổi tiếng nguy hiểm đến tính mạng

Thương thay, bao nhiêu người vẫn phải đi về qua đây.

Bụi gai lấp đường, mãng xà, hổ tha hồ ẩn nấp

Khí độc đầy đồng, quỷ thần mặc sức tụ họp

Từ thuở xa xưa, gió lạnh đã thổi bao đống xương trắng

Chiến công của tướng nhà Hán có gì đáng khen !

Bản dịch của Quách Tấn :

Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây

Ải chia Nam Bắc chính là đây

Tử sanh tiếng đã vang đồng chợ.

Qua lại người không ngớt tháng ngày

Thấp thoáng quỷ đầu nương bóng khói

Rập rình cọp rắn núp rừng cây.

Bên rừng gió lạnh luồng xương trắng

Hán tướng công gì kể bấy nay ?

3.2 Nội dung bài thơ:

“Quỷ Môn Quan” với núi non chập chùng, đỉnh núi mây giăng đêm ngày. Ải này là chỗ phân chia ranh giới hai xứ hay Nam và Bắc (nếu kể tới Ải Nam quan hay Hữu nghị quan – cửa khẩu Đồng Đăng). Xưa nay sự chết chóc hay cuộc chém giết (chiến trường) nổi tiếng là ác liệt, đẫm máu. Người người đều qua lại tấp nập bất kể đêm ngày – con đường cái quan lên tới biên giới, cửa khẩu (cuộc xâm lăng nào của phương Bắc cũng đều qua ngã này, cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nào của ta cũng đều tổ chức tại đây). Thú dữ cũng như ma quỷ, âm hồn của tử sĩ luôn hội tụ đêm ngày: nơi đầu sóng ngọn gió hiểm nghèo. Khắp nơi đều là gió lạnh và xương người trải qua bao đời. Đặc biệt, quân quan nhà Hán dù là tài giỏi nhưng liệu đánh thắng phụ nữ thì có gì là anh hùng!

3.3 Ý nghĩa bài thơ:

Rõ ràng, nội dung bài thơ mang ý nghĩa yêu nước và nhà thơ có tình yêu dân tộc đậm đà nên đã sáng tác bài thơ vừa mô tả nơi hiểm địa, nơi cửa khẩu nổi tiếng nhưng là chiến trường đánh thắng ngoại xâm từ xưa tới nay. Nơi đây đã chia rõ ranh giới hai nước. Vậy thì đừng có ai tới xâm phạm, gây hấn, chiếm đoạt.

3.4.Mở rộng : bài thơ trên sông Như Nguyệt:

Nơi đây quân của Lý Thường Kiệt đánh thắng quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy (sang hơn 8 vạn, chết đến quá nửa). Chiến thắng do chiến sĩ ta nghe khí thế của bài thơ mà hăng hái tiến công quân giặc. Tướng Lý Thường Kiệt đã từng đưa quân lên Quỷ Môn Quan để ngăn chặn quân xâm lược nhà Tống. Do thế yếu phải rút về trấn giữ sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay).

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời.

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời !


_____________________________________________________


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 14.11.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .