Hòa Thượng Thích Thế Long
Bậc Chân Tu Khả Kính




Giữa lúc nhân dân ta đang rên xiết dưới ách thống trị của thực dân phong kiến thì đạo Phật du nhập vào đất Việt như một luồng gió mát, mang theo những tư tưởng giáo lý nhà Phật: Từ bi - Hỷ xả - Đại hùng - Đại lực...

Nắm bắt được tư tưởng và hạnh nguyện “Hòa quang đồng trần” của đạo Phật. Cha ông ta đã tiếp thu tinh thần giáo lý đó. Một mặt đánh đuổi giặc ngoài, mặt khác củng cố xây dựng tình thương, quê hương ở trong nước.

Đầu thế kỷ thứ X, đã có sự xuất hiện của các nhà Sư: Ngô Chân Lưu, Đỗ Thuận..., có nhà Sư phò tới ba triều như Ngài Vạn Hạnh Thiền sư, Ngài có công nuôi dạy Lý Công Uẩn từ chú tiểu nhà chùa mà cầm quân đánh giặc giữ nước, sau dựng lên nhà Lý và dời Đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

Đầu thế kỷ XX, ở Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định, Hòa Thượng Thích Thế Long sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, thuần thành Phật giáo. Năm lên 6 tuổi, theo bác ruột đi tu là Hòa Thượng Phạm Quang Tuyên một trí thức Nho học uyên thâm ở Quốc học Huế. Ngài luôn đau đáu trong lòng về tình hình đất nước bị ngoại bang đô hộ. Ngài đã tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. Sau đó Ngài đi tu làm Chủ tịch phong trào Văn Thân chống Pháp, Ngài đã xây dựng và Trụ trì trên 30 ngôi chùa ở khắp mọi nơi... trong đó chùa Cổ Lễ là nơi Ngài Trụ trì và viên tịch cuối cùng.

Kế thừa sự nghiệp của Sư Tổ Quang Tuyên, Hòa Thượng Thích Thế Long đã được Sư Phụ cho du phương học đạo tại các chốn Tổ đình lớn như: Vĩnh Nghiêm, Liên Phái. Năm 1934, Sư Tổ viên tịch Ngài được kế vị trụ trì chùa Cổ Lễ, từ đó Ngài dấn thân trên con đường “Hoằng dương Phật pháp”, cứu vớt chúng sinh.

Về kế vị trụ trì:

Ngài đã tiếp tục thực hiện các dự án của Sư Tổ và Hội Văn Thân “Chấn hưng Phật giáo” là xây tháp Cửu phẩm liên hoa, xây Phật giáo Hội quán, đúc đại Hồng chung.

Về “Hoằng dương Phật pháp” :

Hòa Thượng Thích Thế Long đã dương cao đuốc tuệ, thực hiện tinh thần “Duy tuệ thị nghiệp”, mở các trường và các đạo tràng để tuyên truyền giáo lý nhà Phật, cho các em học chữ nho và học chữ quốc ngữ...

Về cứu độ chúng sinh:

Đối với người sống, Hoà Thượng đã cho làm nhà “Dưỡng anh” để nuôi trẻ mồ côi, cho học nghề dệt vải, dệt chiếu, mộc, đan mây, tre, cói... Nhất là nạn đói ất Dậu năm 1945, Ngài đã phát chẩn, tế bần cho hàng ngàn người từ khắp nơi về nương cửa Phật.
Đối với người chết, Cụ Phạm cho thu liệm tử thi, làm lễ cầu siêu... Sau giải phóng Điện Biên phủ, Cụ mua tiểu sành để cát táng và quy lăng phổ độ.

Từ tinh thần từ bi, cứu khổ đó, nhân dân các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Hà Đông, Hà Bắc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hải Phòng, Quảng Ninh, Yên Bái… đều về Tổ đình Chùa Cổ Lễ thụ Tam quy - Ngũ giới.

Đối với sự nghiệp Bảo vệ Tổ quốc

Khi đất nước lâm nguy, Ngài đã thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch “Toàn quốc kháng chiến, toàn dân kháng chiến, không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, tôn giáo... Hòa Thượng Thích Thế Long đã động viên Tăng Ny tham gia cùng quốc dân đồng bào nhập ngũ để đánh giặc cứu nước. Mùa xuân Đinh Hợi, ngày 27 tháng 2 năm 1947, tại Hội quán đường chùa Cổ Lễ cờ, hoa rực rỡ, dưới sự chứng kiến của Đảng, chính quyền, Mặt trận và nhân dân vùng đồng bằng châu thổ Sông hồng, đội quân vệ quốc đoàn cuả Phật giáo chùa Cổ Lễ đã chính thức làm lễ tuyên thệ cởi áo Cà sa, khoác chiến bào xông ra mặt trận diệt giặc cứu nước.

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và bảo vệ Tổ quốc, nghe theo tiếng gọi của Đảng Hòa Thượng lại động viên những người con thân yêu của mình, cởi áo Cà sa lên đường làm tròn nhiệm vụ của một công dân đối với đất nước.

Trong số những người con của Hòa Thượng Thích Thế Long đi bộ đội có 14 vị hy sinh, nhiều vị là thương, bệnh binh, có vị trở về bái tạ trọn thân tu hành, có vị trở thành sỹ quan cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam như Đại tá Đinh Thế Hinh, Trung đoàn trưởng Nguyễn Đức Vượng, có vị trở về quê hương tham gia các công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận, Giáo dục, Công an..., như đồng chí Tường Minh (Đại Đức: Thích Tuệ Minh) sau khi xuất ngũ chuyển ngành về Thành uỷ Nam Định - Bí thư Đảng uỷ xí nghiệp Gỗ Hà - Nam - Ninh.

Về trách nhiệm với đất nước, dân tộc:

Hòa Thượng Thích Thế Long đã lăn lộn ở khắp các chiến trường, chiến khu, trên các mặt trận..., khi Ngài mặc áo lính, lúc mặc áo Thầy tu, khi ở Chùa, lúc ở doanh trại, nhà dân, khi ở trong nước, lúc ở nước ngoài, khi ở Quốc Hội, lúc ở ngoài đồng..., thật là “Lai vô tích, khứ vô tông” như Đức Thánh Tổ Nguyễn Minh Không thời Lý hiện đang thờ tại chùa Cổ Lễ cách đây gần 1000 năm đã thực hiện phương pháp như vậy. Trên các diễn đàn quốc tế, Hòa Thượng Thích Thế Long đã dương cao ngon cờ độc lập, đấu tranh cho hoà bình, chống vũ khí hạt nhân, giải trừ quân bị..., Hòa Thượng Thích Thế Long đã được Hội nghị tôn giáo ABCP tại TOKYO bầu làm Sứ Giả Hoà Bình và được tặng thưởng Huân chương vì Hòa Bình.

Về trách nhiệm với Chùa cảnh:

Tuy rằng nhiều công tác Phật sự, song Hoà Thượng vÉn luôn quan tâm đến việc xây dựng, tôn tạo Tổ Đình và các Chuà thuộc sơn môn, pháp phái. Sách tiến các hậu côn trau dồi Giới - Định - Tuệ, tiến tu đạo nghiệp để trở thành người tu sĩ gương mẫu giúp đỡ nhân quần xứng đáng là người "Sư chi mô phạm"

Ngài đã dìu dắt nhiều đệ tử xuất gia và tham dự nhiều Đại Giới Đàn, công hạnh - trí tuệ của Hoà Thượng gieo trồng đến đâu là hoa Giác Ngộ, quả Bồ Đề xanh tươi đến đó. Hội chúng xuất gia càng lúc càng đông, thiện nam tín nữ lớp lớp, hàng hàng thụ Tam Quy, Ngũ Giới, tinh tiến hành trì. Xe pháp luân của Hoà Thượng toả chiếu ánh từ quang khắp nơi trong nước và ngoài nước.

Hoà Thượng sống cuộc đời vì Đạo pháp nhân sinh, thanh bần, giản dị nhu yếu về ăn mặc, đạm bạc đơn sơ, thế mà gánh nặng oằn vai, Ngài dùng thân giáo, khẩu giáo, để giáo hóa môn đồ, tất cả đều vì lợi ích của chúng sinh.

Những năm cuối đời của mình, Hoà Thượng luôn nỗ lực niệm Phật thiện căn giữ gìn sự hoà khí với mọi người, khiến cho khắp nơi đều thơm danh nức tiếng về đức hạnh của Hòa Thượng.


. Đăng ngày 24.10.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .