Giới Thiệu Các Tác Phẩm
Văn Học Hy Lạp Cổ Đã Dịch Sang Tiếng Việt
của Nhà Văn - Dịch Giả HOÀNG HỮU ĐẢN




HOÀNG BÍCH NGA



KỲ THỨ 5

PHẦN THỨ HAI


BI KỊCH HY LẠP


Đ ể người đọc hiểu một cách sâu sắc, có hệ thống nội dung các vở bi kịch của các tác giả viết kịch cổ đại Hy Lạp, dịch giả đã giới thiệu, phân tích khá kỹ lưỡng cả nội dung, ý nghĩa và nghệ thuật của Bi kịch Hy Lạp với ba tác giả nổi tiếng là Eschyle, Sophocle, Euripide. Dịch giả giới thiệu thân thế và sự nghiệp của các tác giả một cách sinh động cùng với tác phẩm của các ông để những người nghiên cứu về lĩnh vực này có thể tham khảo. Bi kịch Hy Lạp là một phần quan trọng của nền văn học cổ Hy Lap, nó như nền móng để ra đời những tác phẩm kịch nổi tiếng sau này của châu Âu. Xin giới thiệu với bạn đọc những nội dung chi tiết, cơ bản của cuốn sách Bi kịch Hy Lap mà dịch giả đã được nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2007.

Những vở Bi kịch Hy Lạp là sản phẩm quí giá còn được lưu lại đến ngày nay là bằng chứng cho sự xuất hiện và tồn tại của nghệ thuật sân khấu Hy Lạp thời cổ. Bi kịch Hy Lạp ra đời khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Nguồn gốc của nghệ thuật sân khấu Hy Lạp là ở những bài hát Dithyrambe được các đội đồng ca hát lên chúc tụng Tửu Thần Dionysos (còn gọi là thần rượu nho) trong ngày thờ cúng thần. Các bài hát Dythirambe được các đội đồng ca hát lên, gắn liền với những nghi thức diễn trò Satyre, tức là diễn lại những cảnh sinh hoạt của vị Thần Rượu đi đâu cũng có những nàng Ménades (Bachates) - nữ tư tế - đồng cốt của Tửu Thần và những Satyres đầu người, mình dê đi theo, nhảy múa, la hét như điên như dại. Vật tế lễ Dionysos thường là một con dê. Chữ Tragédie (Bi kịch) là một từ mới cấu tạo bằng hai chữ Tragos (Con dê) và Ode (tụng ca) ghép lại. Đội đồng ca do một nhạc trưởng (Coryphée ) điều khiển. Trong quá trình chuyển biến, dần dần một người (với Thespis - người sáng lập nền bi kịch Hy Lạp), rồi hai người (với Eschyle), rồi ba người (với Sophocle) trong đội tách ra, đối đáp với nhạc trưởng hoặc với nhau và trở thành diễn viên; cái nghi thức hát mừng Dionysos cũng từ đó mà biến đổi tính chất. Lễ mừng thần vẫn còn, nhưng từ đó một hình thức nghệ thuật mới, có hát, có múa và có đối thoại đã xuất hiện, có cuộc sống riêng và phát triển: Đó là Bi kịch.

Dân tộc Hy Lạp là một dân tộc rất tôn trọng thần linh và truyền thống cổ xưa, yêu cuộc sống vui vẻ, hồn nhiên, say mê những sinh hoạt ngoài trời. Mỗi năm, vào mùa xuân và mùa thu, có những ngày hội Tửu Thần, trong ngày hội đó có đám rước, những trò chơi, riêng lễ hội mùa xuân có tổ chức thi biểu diễn sân khấu. Mỗi nhà thơ dự thi phải trình diễn một bộ ba bi kịch (Trilogie) kèm theo một vở kịch châm biếm gọi là Satyre. Ban giám khảo được chọn bằng hình thức bắt thăm và bỏ phiếu. Họ làm việc khách quan, có dựa vào dư luận khán giả. Tất cả các nhà thơ dự thi và diễn viên đều được thưởng tiền. Nhà thơ nào trúng giải nhất nhì thì được vị đứng đầu thành bang đội lên đầu cho một vành hoa chiến thắng kết bằng lá nguyệt quế trường xuân. Hàng năm, tên tuổi các đạo diễn, tác giả, diễn viên chính, người lãnh đạo các đội đồng ca và cả ban giám khảo đều được khắc vào bia để lưu lại đời sau. Nhân dân và nhà nước Athènes - một thành bang phát triển nhất của Hy Lạp, quê hương của thi ca, nhạc kịch, văn hóa Hy Lạp - rất coi trọng và dành cho họ một địa vị vinh quang xứng đáng. Nhà nước bỏ tiền ra xây dựng những nhà hát lộ thiên có nhiều bậc ngồi hình vòng cung, có thể chứa được vài ba ngàn khán giả. Có nhà hát như nhà hát Epidaure chứa được gần bốn ngàn người. Mỗi năm hai kỳ, nhà nước chi cho dân nghèo tiền vé để mọi người được đi xem đủ cả ba ngày biểu diễn. trong những ngày đó, những việc công cộng, hội họp... đều nghỉ. Nhà triết học Platon đã gọi một cách hài hước mà đúng, rằng " Nhà nước Athènes là một nhà nước sân khấu trị".

Vì là một nền sân khấu hình thành từ những bài hát Dithyrambe và những nghi lễ thờ phụng Tửu Thần cho nên Bi kịch Hy Lạp có mang theo những đặc điểm rõ rệt phản ánh nguồn gốc tôn giáo của nó.

2.1. Quá trình hình thành của Bi kịch cổ đại Hy Lạp.

Trong nghi lễ rước thần Dionysos, trung tâm là Đội đồng ca gồm những thành viên đóng vai các “Satyres chân dê" bạn thường ngày của Tửu Thần. Tiếng Hy Lạp chữ Tragos nghĩa là Con Dê; do đó đội đồng ca rước thần gọi là “Choeur Traghique" nghĩa đen là Đội đồng ca chân dê. Lời hát của Đội đồng ca chưa phải là lời của một tác giả mà là lời những bài hát Dithyrambe.

Khoảng năm 535 TCN, Thespis tách người đội trưởng đồng ca (Coryphée) lâu nay chỉ hát những bài Dithyrambe ra thành một nhân vật riêng biệt đóng vai một vị thần hay một vị anh hùng, đối đáp với Đội đồng ca bằng những câu thơ nói chứ không hát. Vậy là từ những bài hát thuần túy, đã xuất hiện đối thoại, từ Đội đồng ca đã xuất hiện một diễn viên và từ một cuộc rước thần đã xuất hiện một hành động (Drama: bi kịch). (Tragodia - bài hát con dê) bắt đầu từ đấy.

Tiếp theo Thespis là Phrynicos, khoảng năm 510 trước công nguyên đã phát triển thêm những sáng tạo mới: tất cả mọi người ra sân khấu đều mang mặt nạ (không rõ cụ thể ai đã sáng tạo ra mặt nạ); với cái mặt nạ, người ta có thể mở rộng thêm số lượng nhân vật vì mỗi diễn viên có thể thay đổi áo quần và đeo mặt nạ mới để đóng những vai khác trong khi đội đồng ca múa hát. Với Phrynicos, vở bi kịch đã được mở rộng ngày càng có tính chất gây cảm xúc mạnh mẽ. Ông cho những nhân vật nữ xuất hiện trên sân khấu (vẫn do nam đóng), khai thác đề tài thời sự và lịch sử, ngoài những đề tài thần thoại và truyền thuyết. Vở Thành Milet thất thủ phản ánh lại thời kỳ người Hy Lạp ở Ionie bị quân Ba Tư chiếm đóng đã gây xúc động quá mạnh, dân chúng không chịu nổi đã phạt ông 1000 drachmes vì chuyện đó.

2.2. Tính chất chung của Bi kịch Hy Lạp.

1. Các kịch bản đều bằng thơ. Phần đồng ca là thơ hát, phần đối thoại là thơ nói. Đồng ca trong bi kịch giữ một vai trò quan trọng. Nó là dấu vết nguồn gốc Dithyrambe. Có khi nó là lời phát ngôn của tác giả, có khi là lời bàn, lời phê phán, bình luận của công chúng nhân dân, của lẽ phải, của lương tri, nó mang tư tưởng chủ đạo của tác phẩm. Trong mỗi vở kịch cụ thể, Đội đồng ca là đại diện của một tầng lớp nào đó trong nhân dân, phục trang của nó phải theo đó mà thay đổi, ví dụ: trong hai vở kịch liên hoàn Edipe làm vuaAntigone, đó là Đội đồng ca các cụ già thành Thèbes. Trong Prométhée, đó là Đội đồng ca các nữ thủy thần đại dương. Trong Eslectre, là đội đồng ca của những cô gái thành Mycènes.

2. Về hình thức, không chia thành hồi, lớp như kịch hiện đại mà diễn một mạch từ đầu đến cuối. Sau mỗi bước tiến triển của hành động kịch tương đương một hồi thì Đội đồng ca lại hát một bài tương đối dài để gói ghém lại (gọi là Stasimon) và chuyển tiếp bước sau. Phần lớn các vở kịch đều cấu tạo theo cùng một khuôn khổ năm bước (Chúng ta không lạ khi thấy bi kịch cổ điển Pháp chẳng hạn, nói chung, gồm năm hồi, theo khuôn mẫu Hy Lạp).

3. Kết cấu từ chỗ còn hết sức đơn giản mang tính thuần túy tự sự và trữ tình, như trong Những thiếu nữ cầu xin, chỉ qua có vài ba mươi năm phát triển mà đã đạt đến đỉnh cao về sự chặt chẽ lô gic như trong Édipe làm vua của Sophocle, Médée của Euripide.

4. Đề tài những tác phẩm bi kịch còn lại hầu hết đều rút ra từ thần thoại và truyền thuyết, nhất là những truyền thuyết quen thuộc như truyền thuyết Agamemnon, truyền thuyết thành Thèbes, truyền thuyết về Héracles, truyền thuyết về chiến tranh thành Troie...; một ít vở lấy đề tài lịch sử như vở Quân Ba Tư của Eschyle. Dù đề tài nào thì các vai thần linh vẫn có mặt trong đó, khi ẩn, khi hiện.

5. Nội dung các bi kịch là những câu chuyện có tác dụng xúc cảm: không có cảm xúc thì không có bi kịch. Xúc cảm chính là cái thương và cái sợ. Hòa hợp được sợ và thương thì người xem mới thấy được tâm hồn mình mà tự biết cách kiềm chế dục vọng của mình: đó là tác dụng "Tẩy rửa" (Catharsis) mà Aristote thường nhắc tới. Nhưng nếu mang nguyên xi sự thực của xã hội lên sân khấu thì dễ làm cho khán giả bị sốc, cho nên sân khấu muốn đạt tới tác dụng tẩy rửa ấy một cách nhẹ nhàng thì phải "hư cấu giống như thật". Đó mới là bản chất, chức năng và nghệ thuật của bi kịch.

6. Diễn viên ra sân khấu phải ăn mặc dài, rộng, đẹp, phải đi hài cao cổ để tăng thêm vẻ oai phong của nhân vật và phải đeo mặt nạ.

7. Sân khấu bi kịch cũng có nhiều dụng cụ biểu diễn như thật. Còn cảnh thì ghép sẵn cả trên sân khấu bởi vì diễn liền một mạch không có chuyện đóng màn nửa chừng.

8. Về luật Tam duy nhất, thời xưa cũng như thời nay chỉ có duy nhất hành động là bắt buộc, bởi vì nó gắn liền với bản chất bi kịch; tuy nhiên hành động chính không loại trừ hành động phụ, để làm cho vở kịch thêm phong phú và làm nổi bật chủ đề. Về duy nhất thời gian và địa điểm, chẳng có mấy người quan tâm. Ngay cả Aristote cũng nhận thức như vậy.

Người Hy Lạp xưa có những khả năng kì diệu để vươn tới đỉnh cao của văn học nghệ thuật. không qua một mẫu mực có sẵn nào, họ đã tìm tòi, sáng tạo, hình thành và khẳng định về cả hai mặt lý luận cũng như thực tiễn đủ các loại hình văn học chính và đúng với trình tự lịch sử lô gic của nó: anh hùng ca, thơ trữ tình, truyện ký (lịch sử), kịch, hùng biện... với những tác phẩm bất hủ mà không một giai đoạn nào về sau so sánh được. Đó là những bài học vô giá về các phương diện hiểu biết cuộc sống và con người đấu tranh cho lẽ phải và đạo lý, nghệ thuật và văn chương.

2. 3 Nội dung phản ánh trong Bi kịch Hy Lạp

Nguồn gốc xã hội trong bi kịch Hy Lạp

Ra đời vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã thị tộc và nối tiếp của chế độ chiếm hữu nô lệ, Bi kịch Hy Lạp mang dấu ấn của xã hội có giai cấp và những cuộc đấu tranh giai cấp đầu tiên của xã hội loài người. Đó là những cuộc đấu tranh giữa giai cấp nô lệ với chủ nô, của tầng lớp công thương và tầng lớp quí tộc ruộng đất, rồi những cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc chống lại sự xâm lăng của ngoại bang... Tất cả những đổi thay từ xã hội cũ - công xã thị tộc - sang xã hội mới - chiếm hữu nô lệ, và những cuộc đấu tranh trên đều được phản ánh khá chân thực trong bi kịch cổ đại Hy Lạp. Những tấn bi kịch của đời sống đã được thể hiện ở sân khấu với các vở bi kịch của các tác gia thời đó.

Bên cạnh những xung đột xã hội, vai trò và ý thức của con người cũng khác trước. Tinh thần dân chủ, tự do của thời đại, những đổi mới của nhà nước dân chủ chủ nô đã gợi mở cho con người thời đó có một cái nhìn mới đối với thực tại và đối với chính bản thân con người. Họ tự ý thức được vai trò, thân phận của bản thân mình trong thế giới, trước cuộc đời của mình. Những suy tư và khát vọng, những trăn trở và đấu tranh, tất cả những điều đó đã xuất hiện một mẫu người mới trong các tác phẩm bi kịch cổ đại Hy Lạp. Những con người trong tác phẩm biết đương đầu với số phận và cuộc sống khắc nghiệt. Họ chịu đựng những cuộc đụng độ, những cuộc đấu tranh giai cấp, những cuộc đấu tranh với số phận một cách thực tế chứ không mang tính huyền thoại, lý tưởng hóa cao độ như trong các bản trường ca trước đây. Mẫu người ấy đã được một hình thức mới của nghệ thuật biểu hiện, đó là hành động kịch, tức là sự phản ứng và cách giải quyết cuộc đấu tranh giữa hai cái đối lập (Hê ghen). "Một nghệ thuật mới đã xuất hiện" đồng thời với sự "xuất hiện con người mới" (Buy se - trong Bảo vệ thi ca - trích ở cuốn Văn học phương Tây tr 77, nxb Giáo dục 1998), đó là sân khấu kịch, mà nội dung được đề cập tới vừa mang tính bi tráng, vừa phản ánh thời đại một cách sâu sắc, đi vào lòng người. Tính xã hội được phản ảnh rõ trong bi kịch .

Nhân dân Hy Lạp chọn thần rượu nho Dionysos để thờ cúng, tế lễ trọng thể vì vị thần này gắn liền với bộ phận lớn dân chúng làm nghề trồng nho, cất rượu nho. Số phận của ông Thần này có cuộc đời gian nan, khổ ải nhưng ông là vị thần bình dân, đi với thần là những tùy tùng vui nhộn, luôn ca hát, vui sống. Người dân lao động tìm thấy sự đồng điệu trong những ca khúc về cuộc đời của vị thần này. Họ gửi niềm vui, nỗi buồn của mình vào những bài ca, điệu múa ấy. Ca vui khi mùa nho bội thu, ca buồn khi thất bát mùa màng, khi con người phải vật lộn với cuộc sống, mưu sinh, những gian nan vất vả của người trồng nho. Những khúc ca buồn chính là nguồn gốc của Bi kịch.

"Niềm say đắm của Dionysos... hình như đã được phác họa lên những tình cảm mà bi kịch sau này nuôi dưỡng: nỗi đau khổ, niềm sợ hãi, lòng thương xót. Và đặc biệt cuộc đời của thần rượu nho có nhiều chi tiết mang tính kịch, mang sắc thái quần chúng hơn, phong phú hơn về những nỗi đau khổ.."(Luyxiêng Đubêch - Lịch sử tổng quát của nghệ thuật dịch) (Sách đã đã dẫn tr 79).

Bi kịch Hy Lạp vay mượn hình thức biểu diễn của đội đồng ca thờ Thần Rượu nho vì nó chứa đựng nhiều yếu tố gần gũi với sự biểu hiện của bi kịch. "Chính những bài ca buồn thảm về cuộc đời đau khổ của Dionysos là mầm mống của bi kịch" ( Abramôvích). Trong bi kịch, buổi đầu, vai trò của đội đồng ca rất quan trọng vì thường là nó đại diện cho trí tuệ, tình cảm, tiếng nói của quần chúng, đứng ra phân tích tình huống, tường thuật sự kiện, khuyên giải nhân vật, tâm sự với khán giả, như ta thấy trong bi kịch của Eschyle. Vì vậy nó gần như hiện diện từ đầu đến cuối vở kịch, tham gia vào sự phát triển của hành động kịch, đội đồng ca lúc đó quả là "một chất liệu thực sự của bản thân cuộc sống..., là hình ảnh của nhân dân, một mảnh đất phì nhiêu để trên đó mọc lên những cá nhân" (Sile- Nghệ thuật kịch - sách đã dẫn, tr 81). Vai trò quan trọng ấy lu mờ dần trước những xung đột của các nhân vật mang bản sắc cá nhân và đến lúc đó, các nhân vật trong bi kịch đối thoại với nhau là chính chứ không đối thoại với đội đồng ca nữa (xuất hiện ở cuối thế kỷ VI trước công nguyên - trong bi kịch Euripide, thời kỳ chủ nghĩa Hêlen).

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM BI KỊCH HY LẠP

Thế kỷ thứ V trước công nguyên, có một năm đáng ghi nhớ với người Hy Lạp: đó là năm 480, năm mà quân đội Athènes, dưới sự chỉ huy tài tình và cương quyết của người anh hùng dân tộc Thémistocle, đại thắng quân Ba Tư trong trận thủy chiến Salamine - không đầy ba trăm thuyền chiến nhẹ của Athènes tiêu diệt hơn một ngàn hai trăm thuyền chiến hạng nặng của địch. Năm ấy ghi lại ba sự kiện có liên quan tới ba nhà thơ bi kịch lớn nhất của Hy Lạp:

* Eschyle, bốn mươi lăm tuổi, có mặt trong hàng ngũ đoàn quân chiến thắng trở về.

* Sophocle, mười sáu tuổi điều khiển Đội đồng ca thành bang múa và hát khúc khải hoàn trong ngày hội toàn Athènes mừng chiến thắng.

* Cậu bé Euripide khóc tiếng khóc chào đời, ngay tại đảo Salamine.

Ba nhà thơ có mặt trong một ngày hội chiến thắng, họ sẽ còn gặp nhau trong những ngày thi thố tài năng, để rồi, vĩnh viễn bên cạnh nữ thần Bi kịch Melpomène, kề vai sát cánh bên nhau, trong vầng hào quang chói lọi mà nhân loại dành cho họ trên lịch sử thi đàn sân khấu.

2.4. ESCHYLE (ESIN, 525- 456 TCN) – TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM

Tiểu sử

Không có tư liệu lịch sử nào nói rõ về cuộc đời của Eschyle, chỉ biết nhà thơ sinh năm 525 trước công nguyên, xuất thân trong một gia đình quí tộc cũ (quí tộc ruộng đất), nhưng bản thân ông lại được tắm mình trong bầu không khí trong lành của thời đại, của phong trào tự do dân chủ cổ đại, của xu thế tiến bộ, văn minh, và nhất là của những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Hy Lạp chống xâm lược Ba Tư. Eschyle là một nhà thơ tiến bộ đã thể hiện trong sáng tác của mình những tư tưởng, tình cảm cao quí của thời đại.

Với sự hình thành của nhà nước chiếm hữu nô lệ, sự chuyển biến của xã hội từ dã man sang văn minh là cả một sự "thoát xác", có những mặt tích cực, tiến bộ, nhưng cũng phải trả giá bằng những tổn thất, đau thương. Eschyle đã chứng kiến cuộc xung đột giữa tầng lớp quí tộc ruộng đất, mang tư tưởng độc tài chuyên chế, muốn duy trì trật tự cũ của chế độ thị tộc, và tầng lớp công thương kết hợp với những người dân tự do, tiêu biểu cho lực lượng tiến bộ của thời đại mới. Bản thân Eschyle vào những năm cuối đời mình đã chứng kiến cuộc xung đột gay gắt, quyết liệt này. Đó là những cải cách vào năm 462 tr CN của Ephianto, chính trị gia tiến bộ, một lãnh tụ xuất sắc của phong trào dân chủ Athènes, người đã biến hội đồng tộc trưởng Aréopage, gồm toàn thành phần quí tộc quyền thế, thành một tổ chức tôn giáo thuần túy. Giai tầng quí tộc thị tộc đã phản ứng quyết liệt, Ephianto bị ám sát. Sau này, Athènes trở thành thành bang phát triển nhất của Hy Lạp cũng muốn làm bá chủ Hy Lạp, đã cắt đứt mối quan hệ với Sparte, quốc gia lớn thứ hai trong Hy Lạp, đã từng là liên minh của mình trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Ba Tư xâm lược. Sau này, cuộc chiến tranh Péloponèse - giữa hai thành bang lớn nhất của Hy Lạp - bùng nổ đưa người dân vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn, đau khổ chồng chất.

Eschyle đã sống và sáng tác trong hoàn cảnh đó. Gia đình Eschyle là một gia đình quí tộc cũ nhưng anh em ruột thịt của ông, những người yêu nước, có công với đất nước. Bản thân ông đã tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước ở trận Marathon (năm 490 TCN) và trận thủy chiến lịch sử Salamine (năm 480 TCN). Ông thuộc thế hệ những chiến sĩ Marathon quả cảm, anh hùng, thế hệ của những người Hy Lạp cao quí mà nhân dân thời đó và sau nay nhắc đến với tất cả niềm kính trọng, sự ngưỡng mộ sâu sắc. khi Eschyle mất đi (năm 455 TCN), người đương thời đã khắc trên bia mộ của ông dòng chữ ghi nhận chiến tích của ông khi đất nước lâm nguy và coi đó là điều đẹp đẽ nhất, hơn cả sự nghiệp văn chương đáng kể của tác giả:

..."Nơi đây yên nghỉ Eschyle, người con của Ophorion, sinh ra ở Athènes, và qua đời trên cánh đồng màu mỡ Ghêla - khu rừng thiêng danh tiếng ở Marathon và người Metzơ (người Ba Tư - NTH) tóc dài có thể kể lại ngọn nguồn về lòng dũng cảm của người" ( sách đã dẫn tr 85).

Eschyle bắt đầu sáng tác kịch năm 25 tuổi (năm 500 TCN) và bắt đầu đoạt giải nhất trong kỳ thi năm 484 TCN. Những năm đầu sáng tác của ông chưa có gì đáng kể. Nhưng từ năm 472 TCN vở Quân Ba Tư ra đời thì danh tiếng của ông bắt đầu. Ông được mời đi để tổ chức công diễn nhiều nơi, sau đó, hàng loạt vở kịch có giá trị xuất hiện. Ông sáng tác 90 vở kịch (theo cuốn Lịch sử văn học phương Tây, theo dịch giả thì có 70 vở), ngày nay chỉ còn lại 7 vở: Quân Ba Tư - lấy đề tài thời sự, còn các vở khác lấy đề tài trong thần thoại như vở Những người thiếu nữ cầu xin, Bảy tướng đánh thành Thèbes, Prométhée bị xiềng, và bộ ba vở kịch Orestie gồm có Agamemnon, Những người phụ nữ mang đồ tế lễ Các nữ thần ân đức.

Ông còn sáng tác 20 vở Satyre (Hài kịch châm biếm), nhiều lần dự thi và trên 10 lần được giải nhất.

Tác phẩm

2.4.1. Vở Những người thiếu nữ cầu xin:

Vở kịch này dự đoán được trình diễn vào khoảng 468 TCN, nhưng các nhà nghiên cứu căn cứ vào kết cấu của tác phẩm cho rằng nó được sáng tác sớm hơn nhiều so với thời gian trên. Vì thế có thể coi đây là vở kịch đầu tiên của Eschyle. Vở kịch nặng về tính tự sự và trữ tình, hầu như chưa có gì thật sự là hành động kịch. Nó kể lại câu chuyện 50 cô gái của Danaos - cháu 5 đời của Épaphos (là con trai của thần Zeus với nàng Io) chạy sang đất Argos (Hy Lạp) xin với vua xứ này được trú ngụ tại đây để tránh được cuộc hôn nhân phi đạo lý với 50 người anh em của họ. Những người thiếu nữ cầu xin phản ánh thực tế lịch sử thời đại, biểu hiện tinh thần phản kháng đối với tính chất thô bạo, cưỡng bức của chế độ hôn nhân tập đoàn, tàn tích của chế độ quần hôn của xã hội thị tộc và khát vọng có được một cuộc đời trong trắng, tự do.

2.4.2. Vở Quân Ba Tư (472 TCN):

Đây là một vở kịch viết về đề tài lịch sử, ca ngợi mưu trí và tinh thần chiến đấu dũng cảm cùng những chiến thắng lẫy lừng của quân Hy Lạp. Vở kịch không bằng những nhân vật chính diện Hy Lạp mà qua lời một người lính Ba Tư thất trận kể lại cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai bên và nỗi kinh hoàng tuyệt vọng của triều đình Ba Tư trước cái tin sét đánh về cuộc bại trận. Vở kịch phản ánh chiến thắng Salamine của người Hy Lạp và thất bại thảm hại của quân xâm lược Ba Tư. Vở kịch bộc lộ tính tự cường dân tộc và tinh thần quyết tử của quân và dân Hy Lạp, lên án những mưu đồ xâm lược của quân Ba Tư. Nhà thơ đề cao Athènes, thành bang dân chủ nhất trong liên quân Hy Lạp đã đóng góp công sức nhiều nhất cho cuộc chiến chống quân xâm lược Ba Tư, giữ gìn được nền độc lập của Hy Lạp, vừa văn minh, đẹp đẽ lại anh hùng bên cạnh một Ba Tư chuyên chế xấu xa của phương Đông. Trận Salamine mà ông đề cập tới nói lên đặc điểm của người Hy Lạp thời đó là: "gắn bó với tự do còn hơn là với mạng sống..." (Hérodos, sách đã dẫn tr 87). Quân Hy Lạp chỉ có hơn 300 chiến thuyền nhỏ đã chiến thắng quân Ba Tư với hơn 1000 chiến thuyền cỡ lớn với tinh thần chiến đấu quả cảm. Lời thơ của Eschyle lồng lộng tinh thần của thời đại, tinh thần tự cường, tự chủ của một dân tộc mà không một bạo lực nào có thể tiêu diệt được.

2.4.3. Vở Bảy tướng đánh thành Thèbes (467 TCN):

Đề tài lấy ở truyền thuyết gia đình Lapdacos, kể lại cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai thành Argos và "Thèbes - bảy cổng", gây ra do mâu thuẫn giữa hai người con trai của Edipe: khi vua thành Thèbes là Edipe phát hiện ra chính mình đã giết cha và lấy mẹ thì ông tự móc mắt và trục xuất mình ra khỏi thành, trao quyền lại cho hai con trai là Polynice và Étéocle. Hai anh em đã ước định với nhau rằng mỗi người sẽ thay phiên nhau nắm quyền cai trị nước một năm nhưng Étéocle, sau khi đã làm vua, say mùi quyền bính không chịu trả ngôi báu cho anh, lại còn mưu mô cùng với cậu là Créon trục xuất Polynice đi. Polynice giận dữ chạy sang Argos, lấy con gái vua rồi thuyết phục được Argos cất quân đánh thành Thèbes. Ở sáu cổng thành, chống với sáu tướng Argos do Polynice chỉ huy, Étéocle bố trí sáu tướng Thèbes do mình lãnh đạo và dành cổng thứ bảy cho chính mình đánh nhau với anh. Mặc dù nguyên nhân sâu xa là như vậy, nhưng vở kịch lại ca ngợi cuộc chiến đấu dũng cảm của quân dân thành Thèbes chống lại ngoại bang với thủ lĩnh của họ là Étéocle - được suy tôn như một vị anh hùng can đảm nhất vì cuộc chiến này thể hiện lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần chiến đấu hy sinh cho sự sống còn của đất nước - Thành Thèbes. Kết quả, cả hai anh em đều tử trận.

2.4.4. Vở Prométhée bị xiềng (Khoảng năm 467 TCN):

Lấy đề tài thần thoại, vở kịch kể lại cuộc đấu tranh bất khuất của vị thần khồng lồ Prométhée vì đánh cắp lửa của Trời mang về cho nhân loại và dạy cho con người biết khoa học kỹ thuật, văn minh mà bị Zeus trừng trị, xiềng xích chân tay và đóng đinh xuyên ngực vào đỉnh núi Caucase. Đó là tác phẩm thể hiện chủ nghĩa anh hùng của con người thời đại, đấu tranh đến cùng cho tự do, dân chủ, hạnh phúc và văn minh, tiến bộ của con người.

Tác phẩm mở đầu với cảnh Prométhée bị xiềng và khép lại với cảnh Prométhée bị trừng phạt một cách tàn nhẫn. Nhân vật của vở kịch đều là các thần thánh sống trong thế giới của các thần linh, nhưng đằng sau là hiện thực nóng bỏng của của thời đại, cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp nô lệ với giai cấp chủ nô trong xã hội có giai cấp đầu tiên của loài người đã rất quyết liệt. Các nhân vật thần của ông, trừ thần Héphaistos có tên, miễn cưỡng chấp hành mệnh lệnh đi xiềng Prométhée, còn hai vị thần đi thi hành nhiệm vụ một cách đắc lực cho Zeus không có tên riêng, chỉ mang cái tên chung là Quyền lực và Bạo lực. Ngay màn mở đầu, tác giả đã cho Prométhée than thở cùng vũ trụ về những gì ông đã giúp cho loài người có cuộc sống văn minh, tiến bộ. Chính mối đồng cảm và việc làm của vị thần này với loài người mà ông bị Thần của các vị thần trừng phạt. Xung đột của kịch, giữa một bên là Prométhée - người bị trị - không chịu khuất phục mà chỗ dựa duy nhất là ý chí không chịu khuất phục, trước sự ái ngại của ông già Đại dương và những giọt nước mắt xót thương của các nữ thủy thần Néreide (hợp thành đội đồng ca), với một bên là Zeus - kẻ thống trị - với những tay sai hung hãn như Quyền lực, Bạo lực, tay sai miệng lưỡi như Hermès... và những xiềng xích, sấm sét, bão tố. Zeus không xuất hiện trên sân khấu nhưng qua mệnh lệnh, hành động ban ra và qua các thần nói lại thì rõ ràng Zeus là một bạo chúa thống trị bằng uy quyền bạo lực, chuyên chế, độc đoán "muốn biến sở thích riêng thành pháp luật" (sách đã dẫn tr 91). Zeus sai xiềng xích Prométhée, bắt Prométhée phải chịu cực hình. Zeus sai Hermès xuống tra khảo sự bí mật mà Prométhée nắm được một bí mật có thể đưa Zeus đến chỗ mất địa vị thống trị, không được, Zeus giáng bão tố, sấm sét chôn vùi Prométhée xuống địa ngục.

Đối lập với Zeus là Prométhée, hiện thân của tinh thần tự do dân chủ, của lòng nhân đạo. Mang lý tưởng phụng sự nhân loại, Prométhée không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo lực, đã chịu đựng mọi cực hình tàn khốc. Hình tượng Prométhée là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng thời đại Eschyle, thời đại của những chiến sĩ Marathon lừng lẫy không biết cúi đầu trước bất kỳ một sức mạnh thù địch nào. Đây là hình tượng mang tính thẩm mỹ cao, kết hợp hài hòa giữa cái hùng, cái cao thượng và cái bi kịch."Cái đẹp" của khát vọng tự do của nhân vật Prométhée khiến cho vở bi kịch giàu giá trị thẩm mỹ.

Mối xung đột giữa Prométhée và Zeus không dẫn đến một sự hòa giải nào cả, sự đối đầu đến tận cùng. Prométhée kiên quyết thách thức với Zeus: "Cứ việc phóng lửa sét thiêu hủy, cho cánh tuyết cánh trắng tung hoành, cho sấm từ lòng đất cứ gầm lên và đảo lộn cả đất trời! Tất cả đều không làm cho lòng ta nao núng". Cuộc đấu tranh của Prométhée là triệt để, ý thức dân chủ tự do nổi bật lên như đại diện cho quần chúng bị áp bức nhận thức được vai trò của mình là nền tảng, là cơ sở của xã hội: ''Nói tóm lại, ta căm ghét tất cả các thần thánh, các vị thần là những kẻ chịu ơn ta mà lại bạc đãi ta (tr 91).

Eschyle đã hư cấu nhân vật của mình khác với thần thoại. Trong mối xung đột không cân sức nhưng Prométhée vẫn mạnh hơn Zeus vì nắm được vận mệnh của Zeus, trong khi Zeus lại không thể biết được vận mệnh của mình. Lo âu, sợ hãi vì có thể bị lật đổ, Zeus sai Hermès tra khảo Prométhée, nhưng không có kết quả, cuối cùng, điên cuồng dùng bạo lực trừng phạt. Còn Prométhée tuy phải "nhận lấy số phận của mình" là chịu xiềng xích, cực hình nhưng lại là vị thần "hiểu quá khứ, nắm được hiện tại và thấu rõ tương lai" (nghĩa của từ Prométhée). Vì vậy, Prométhée vẫn ở thế chủ động, nắm được cái tất yếu.

Sự xung đột giai cấp giữa người bị trị và kẻ thống trị là không thể giải quyết được. Hình tượng Prométhée là hình tượng nhân vật mang lý tưởng thẩm mỹ của con người thời đại, lý tưởng phụng sự nhân loại cao quí và ý chí, sức mạnh của con người trong cuộc đấu tranh để chinh phục thiên nhiên, chống lại thế lực bạo tàn để mưu cầu hạnh phúc, văn minh, tiến bộ. C. Mác đã nhận định:"Các vị thần Hy Lạp đã bị đánh tử thương lần thứ nhất trong bi kịch Prométhée bị xiềng của Eschyle", và "Prométhée là vị thánh đầu tiên, là người tuẫn tiết đầu tiên trong lịch sử triết học" (tr 92).

Hình tượng Prométhée của Eschyle sống mãi trong lòng nhân loại.

Vở kịch này được coi là tác phẩm vĩ đại nhất của ông, nhiều nhà thơ, nhà văn đã tìm cảm hứng của mình trên tác phẩm này của ông, thậm chí các triết gia, chính khách có tầm cỡ nhân loại cũng bị ảnh hưởng sâu sắc tính tư tưởng của tác phẩm.

2.4.5. Bộ ba Orestie:

Đề tài lấy ở truyền thuyết Agamemnon, gồm ba vở kịch nối tiếp nhau theo thứ tự lịch sử. Orestie, bộ ba vở kịch liên hoàn còn lại mang một giá trị riêng biệt. Nó phản ánh sự chuyển tiếp từ xã hội thị tộc sang xã hội chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp. Cái giá đó là "máu" của Clytemnestre (vợ Agamemnon, mẹ của Oreste) phải đổ ra và nước mắt của Oreste khóc người mẹ do chính tay mình giết "theo lệnh của thần thánh" để trả thù cho cha. Chế độ mẫu hệ, mối quan hệ xã hội có tính chất cùng dòng máu không còn tồn tại. Chế độ phụ quyền cùng tư hữu tài sản cá nhân đã thay thế.

Các nhà nghiên cứu cho rằng trong các tác phẩm của Eschyle, tư tưởng chủ đạo là ý thức thực hiện công lý. Nữ thần Némésis - nữ thần công lý - sẽ thực hiện quyền lực "xử phạt phân minh" của mình đối với kẻ có tội và người có công, đối với lực lượng chính nghĩa và phi nghĩa, cái xấu và cái tốt. ý thức tư tưởng "công bằng đạo lý" khiến cho bi kịch của ông mang vẻ cao quí, đẹp đẽ, có tính giáo dục cao. Hầu hết các bi kịch cổ đại Hy Lạp là bi kịch của số mệnh, số mệnh chi phối cuộc sống của nhân vật, con người không thể thoát khỏi số mệnh. Thần thánh cùng với số mệnh đè nặng lên cuộc sống của con người và quyết định tất cả. Bi kịch ấy có mặt trong tất cả các vở kịch của Eschyle và các tác giả sau ông. Tuy vậy, các nhân vật của tác phẩm vẫn hành động theo ý chí tự do trong cái tất yếu đó.

1 . Agamemnon:

Agamemnon là vua thành Argos - là tổng chỉ huy quân đội Hy Lạp trong cuộc chiến tranh thành Troie. Chiến thắng thành Troie trở về, ông đã bị vợ là Clytemnestre tư thông với Egisthe (là em trai con chú của Agamemnon) giết chết và tiếm ngôi. Người con gái của Agamemnon là Eslectre cứu được em trai là Oreste giao cho người sư phó (người săn sóc, dạy dỗ) đưa trốn sang nước Phocée để sau này trở về trả thù cho cha.

2. Những thiếu nữ viếng mộ:

Hai mươi năm sau, Oreste trở về theo ý định của thần linh, cùng với chị lọt được vào cung điện, giết hai tên gian phu, dâm phụ, báo thù được cho cha.

3. Những nữ thần ân đức:

Mặc dù việc báo thù cho cha là chính đáng, Oreste vẫn bị các nữ thần báo oán Erinny theo đuổi ngày đêm. Oreste chạy đi đâu cũng không thoát nổi họ. Nữ thần Athéna phải đứng ra dàn xếp. Nàng lập một tòa án để xét xử Oreste. Apollon là người bào chữa. Tòa án xét xử khá gay go. Apollon biện luận hết tài năng, nhưng khi bỏ phiếu kín thì số phiếu chống và thuận ngang nhau. Với tư cách là chủ tịch, Athéna đứng về phía thuận. Thế là Oreste được trắng án. Các nữ thần báo oán Erinny được giao thêm trách nhiệm mới, họ trở thành những nữ thần ân đức, chuyên ban hạnh phúc cho nhân dân Athènes.

Bộ ba Orestie phản ánh hiện thực nào?

Theo lời thần dạy trước đây, để có gió thuận cho quân đội Hy Lạp viễn chinh sang thành Troie, Agamemnon đã phải hy sinh con gái mình là Iphygénie tại Aulis. Khi thắng trận trở về, ông bị vợ là Clytemnestre giết, viện lý do là báo thù cho con gái. Oreste - con của Agamemnon đã giết cả Egisthe và Clytemnestre để báo thù cho cha, chàng được thần linh khuyến khích, giúp đỡ và cuối cùng bảo vệ cho được trắng án, có nghĩa là, việc giết mẹ báo thù cho cha là chính đáng, đúng luật lệ thần linh. Thắng lợi của Oreste phản ánh một bước tiến hóa quan trọng trong xã hội: chế độ mẫu hệ đang phải nhường bước cho chế độ phụ hệ, và trong tình hình chính trị của Hy Lạp thì quyền lực hội đồng Aréopage của tầng lớp quí tộc đang cầm quyền bị lung lay, phân hóa trước cuộc đấu tranh của những lực lượng cộng hòa dân chủ. Đây là việc đề cao các nữ thần ân đức đang trở thành thời thượng ở Athènes.

Tuy chỉ còn lại 7 tác phẩm, nhưng chừng ấy cũng đủ để xác định vai trò lớn lao của Eschyle trong lịch sử phát triển của nền bi kịch cổ đại. Từ Những thiếu nữ cầu xin cho đến bộ ba Orestie, tác phẩm cuối cùng của ông, Eschyle đã đề cập tới những vấn đề xã hội tiêu biểu liên quan đến những chặng đường phát triển nhất định của lịch sử. Sự đấu tranh cho chế độ hôn nhân một vợ một chồng - thay cho chế độ quần hôn, tinh thần đấu tranh mưu trí và dũng cảm chống xâm lược bảo vệ đất nước, lên án những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, ca ngợi sự nghiệp đấu tranh kiên cường chống bất công và bạo lực vì nền văn minh tiến bộ và hạnh phúc của loài người, sự khẳng định tội ác phải trừng phạt..., đó là tính tư tưởng có tầm nhân loại chứ không phải những tình huống cá nhân đã xuất hiện trong các vở kịch của Eschyle.

Eschyle là người mở đường đưa vào kịch những tư tưởng cao đẹp, những ước vọng trong sáng về một xã hội có quy củ vững vàng, xây dựng trên cơ sở có một nhà nước vững mạnh. Ông xứng đáng là người đại diện cho thời kỳ đầu của một chế độ cộng hòa trẻ trung đang hình thành và được khẳng định.

Ngoài những tác phẩm ưu tú của mình, Eschyle đã góp phần đáng kể cho sự phát triển và hoàn thiện dần hình thức nghệ thuật sân khấu. Thespis đã có công tách từ đội đồng ca ra một diễn viên, làm cho hình thức kịch được tách ra khỏi nghi thức tôn giáo để thành một loại hình nghệ thuật có cuộc sống riêng. Eschyle đưa thêm một diễn viên thứ hai, rồi Sophocle đưa thêm một diễn viên thứ ba là thật sự mở ra cho kịch một chân trời mới thênh thang. Eschyle còn chú trọng nhiều đến các mặt phục trang nhân vật, trang trí sân khấu, thêm những dàn múa, nhảy... khiến cho hình thức của sân khấu ngày càng phong phú, đa dạng, hấp dẫn và có đủ điều kiện để đạt tới đỉnh cao rạng rỡ của nó với Sophocle.

Sau khi biểu diễn bộ ba Orestie, năm 458 TCN, Eschyle rời Athènes sang Géla, một thành phố của Sicile, và hai năm sau, ông mất tại đó hưởng thọ sáu mươi chín tuổi.

2.5. SOPHOCLE (496 - 406 TCN) - TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẩM

Tiểu sử

Nếu Eschyle là nhà thơ tiêu biểu cho buổi bình minh của chế độ cộng hòa thì Sophocle tiêu biểu cho thời kỳ cực thịnh của nó, thời kỳ Périclès.

Sophocle sinh ở Cologne gần Athènes, trong một gia đình quí tộc giàu có và thế lực. Từ nhỏ ông đã được hấp thụ một nền giáo dục toàn diện, có năng khiếu thơ ca, vũ, nhạc, diễn xuất. Ông có ngoại hình đẹp, từng thi tài gẩy đàn Xita và thủ vai Nausicaa trong khúc ca VI của Odyssée. Ông được may mắn tắm mình trong những niềm vui và những thành tựu trong cả hoạt động xã hội và văn chương.

Là người được các nữ Thi thần ban nhiều ân huệ và thụ hưởng nhiều điều tốt đẹp của một nền văn hóa vững chắc, Sophocle đã phát triển tài năng rất sớm. Năm 480 TCN, cậu thiếu niên mới 16 tuổi đã chỉ huy cả một đội đồng ca quy mô toàn thành múa hát mừng tổ quốc Athènes chiến thắng. Hai năm sau, chàng thanh niên Sophocle đã xuất hiện trên sân khấu Athènes để tranh giải trong các hội thi. Từ đó, suốt 70 năm, ông không ngừng cống hiến tài năng lỗi lạc và cả nhiệt huyết của mình cho sự nghiệp sân khấu.

Với tư cách là một công dân tích cực của chế độ cộng hòa, Sophocle đã tham gia chính quyền, được bầu làm Stratégos, một chức vụ tương đương thành viên Hội đồng Nhà nước. Nhưng so với hoạt động nghệ thuật thì hoạt động chính trị của Sophocle lại quá mờ nhạt. Ông mất năm 406 TCN, khi cuộc chiến tranh Péloponnèse (giữa Athènes và Sparte - hai thành bang lớn nhất của Hy Lạp) đang bước vào giai đoạn ác liệt, tranh quyền bá chủ biển Egée. Tương truyền rằng thành bang Athènes bị quân địch vây hãm bốn bề không có lối thoát ra, nhưng khi nghe tin Sophocle mất, Sparte đã mở một đường đi và kính trọng nghiêng mình trước xe tang của nhà thơ vĩ đại.

Sophocle đã sống và chứng kiến cả một giai đoạn lịch sử phát triển cực thịnh - Thời đại Périclès - và thời kỳ suy vong của nhà nước Athènes, sau chiến tranh Péloponnèse. Thời kỳ cực thịnh của Athènes được mở ra sau chiến tranh Hy - Ba với sự chiến thắng oanh liệt của quân Hy Lạp, đứng đầu là Athènes. Athènes đứng đầu 150 thành bang của Hy Lạp và bá chủ biển Egée. Athènes phát triển rực rỡ cả về kinh tế và văn hóa. Thời kỳ này Athènes xây dựng nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, nguy nga, tráng lệ nhưng thanh thoát, uyển chuyển, với những pho tượng tuyệt vời của Phidiax, Praxiten, nhiều công trình trở thành kỳ quan của thế giới sau này. Nhiều trường học và trường phái triết học, khoa học được mở ra, nhiều sáng tác văn học có giá trị lớn xuất hiện. Athènes trở thành chiếc nôi văn hóa của cả Hy Lạp. Trong bài diễn văn "Ca ngợi Athènes", Périclès đã khẳng định khuynh hướng nghệ thuật của thời đại qua câu nói nổi tiếng "chúng ta yêu cái đẹp trong sự giản dị".

Athènes suy vong sau khi đọ sức với Sparte và bị kẻ địch thiện chiến, quả cảm đánh gục, và cũng thời gian ấy Sophocle ra đi, thọ 90 tuổi.

Theo tài liệu để lại, ông đã sáng tác và trình diễn 123 (theo sách đã dẫn còn theo dịch giả là 126 vở) vở bi kịch, trong đó hàng chục vở đoạt giải nhất, nhì trong các cuộc thi. Nhưng hiện nay chỉ còn 7 vở: Ajax giận dữ, Những phụ nữ xứ Trachinie, Philoctète, Édipe làm vua, Édipe ở Cologne, Antigone và Eslectre.

Vở kịch đầu tiên của ông, nay đã thất lạc nhan đề là Tritolem. Tương truyền, vở kịch này có sức hấp dẫn khán giả mãnh liệt đến nỗi viên Acconta tổ chức việc thi kịch đã không để cho vở kịch được chấm thi theo thủ tục thông thường mà giao nó cho các nhà chỉ huy quân sự do Simon đứng đầu xem xét. Vở kịch được giải nhất.

Đề tài trong bi kịch của Sophocle hầu hết lấy từ chuyện thần thoại và truyền thuyết quen thuộc, như đề tài về cuộc chiến tranh thành Troie (Ajax, Eslectre, Philoctète), về truyền thuyết thành Thèbes (Antigone, Édipe làm vua, Edipe ở Cologne) và cả truyền thuyết về người anh hùng Héracles (Những người phụ nữ xứ Trachinie). Những sự kiện lịch sử và chính trị của thời đại ông không in dấu ấn trực tiếp lên tác phẩm của ông nhưng tác phẩm của ông đa dạng về đề tài, phong phú về mặt nội dung và giàu tính triết lý, "thực sự là những hình ảnh của cuộc sống mà bi kịch cũ chỉ là những nét phác họa” (Croaze, sách đã dẫn tr 97). Xung đột kịch trong tác phẩm của ông thường là giữa con người cao quý, trọng danh dự, tình nghĩa, giàu tính nhân bản... với những thế lực thống trị độc đoán, bạo tàn, ích kỷ, nhỏ nhen, hoặc giữa con người với những phẩm chất cao đẹp nhất với số phận bất công nghiệt ngã (Édipe làm vua), giữa thế thái nhân tình đen bạc xấu xa với phẩm chất đạo đức của tình người sâu sắc (Philoctète, Édipe ở Cologne). Kịch của ông cũng đề cập tới thân phận người phụ nữ với vấn đề hạnh phúc, tình yêu (Những người phụ nữ xứ Trachinie). Sophocle miêu tả thế giới của con người với những đau khổ, buồn vui do chính bản thân họ gây nên. Sophocle đã để cho các nhân vật của mình, những con người, hành động hoàn toàn độc lập và chịu trách nhiệm về số phận mình. Số mệnh trong bi kịch của Sophocle cùng với các vị thần đã bị đẩy lùi về phía sau sân khấu mặc dù nó vẫn còn tác động đến còn người một cách như tất yếu. Nhưng chính trong đau khổ, con người lại thể hiện phẩm giá cao quí của mình, trong bất hạnh vẫn ngẩng cao đầu giữ gìn phẩm giá (Édipe, Antigone, Ajax...). Khát vọng vươn tới đạo đức cao cả, phẩm chất đẹp đẽ của con người đã là những động cơ chi phối mọi hoạt động của các nhân vật và dẫn họ đến những bi kịch thê thảm - Ajax vì tự trọng, vì bảo toàn danh dự của người anh hùng mà phải tự sát, Angtigon vì tình cảm nhân đạo mang truyền thống bộ tộc, vì lý tưởng "tình thương" mà phải chết, Édipe vì trọng chân lý và công lý mà phải tự xử mình. Đó là những người anh hùng đã vươn tới những giá trị cao nhất của "tính người", với ý chí, nghị lực lớn lao.

"Tôi miêu tả những con người cần phải được như vậy", đó là lời tuyên bố của Sophocle về nhân vật của ông (sách đã dẫn tr 98). Chính vì vậy, Sophocle đã vượt Eschyle ở nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật. Ông đi sâu vào nội tâm nhân vật để thể hiện những dằn vặt, trăn trở, đấu tranh, lựa chọn... rồi cuối cùng là hành động. Ajax phân tích hoàn cảnh của mình trước khi tự sát. Trên đường đi đến nhà mồ, Antigone thương tiếc cho tuổi xuân và khát vọng hạnh phúc, Édipe nghĩ về tội lỗi ghê gớm, những kỷ niệm kinh hoàng và số mệnh bi thảm của mình. Ông còn mô tả những đau đớn về thể xác của con người một cách sâu sắc cụ thể: Héracles quằn quại trước khi chết... Nhân vật của Sophocle bao giờ cũng tỉnh táo, sáng suốt và giàu nghị lực nhưng tình cảm vẫn dạt dào, sâu sắc. Aristote rất đúng khi nhận định Sophocle miêu tả con người không phải như nó tồn tại mà như nó phải vươn lên. Bi kịch Sophocle vì vậy mang ý nghĩa đạo lý sâu sắc, là những bài học tốt cho việc xây dựng nhân cách con người.

Sophocle mất lúc 90 tuổi.

Tác phẩm

2.5.1. Ajax giận dữ.

Đề tài lấy trong truyền thuyết chiến tranh thành Troie. Sau khi Achille bị Paris, em của Hector bắn chết bởi một mũi tên trúng ngay gót chân, thì xảy ra cuộc tranh chấp giữa Ajax và Ulysse: cả hai vị tướng đều muốn chiếm một vũ khí thần thánh của Achille về mình. Cuối cùng thì Ulysse chiếm được, Ajax giận dữ hóa điên, lao vào giữa một đàn cừu mà tàn sát vì tưởng đó là Ulysse, Agamemnon và Ménélas.

Tỉnh ra, Ajax biết mình sai lầm, sau đó vì hối hận và đau xót, chàng đã tự tử. Hai anh em Agamemnon căm thù không cho mai táng. Nhưng Ulysse cao thượng và nghĩ tình đồng đội đã từng chiến đấu, vào sinh ra tử bên nhau, đã chống lại lệnh cấm đó và cùng với Teucer, em của Ajax, chôn cất cho chàng.

Trong vở kịch này Sophocle đã xây dựng các nhân vật có tính cách khắc họa sâu sắc hơn những nhân vật trong kịch Eschyle. Các nhân vật của ông cũng khác hơn các nhân vật trong thần thoại. Nếu trong thần thoại, anh em Agamemnon được ca ngợi như những người anh hùng thì trong Ajax giận dữ, anh em Agamemnon và Ménélas lại là hiện thân của những kẻ cầm quyền độc đoán, nhỏ nhen, ghen ghét với tài năng của Ajax, trái tim thì khô lạnh không chút tình người, thậm chí còn được xuất hiện trong tác phẩm như những kẻ ngu ngốc, kém trí tuệ trong đường lối cai trị và cách cư xử. Với những kẻ thống trị như vậy thì người tài năng và trọng danh dự như Ajax chỉ có thể chọn con đường tự hủy diệt.

2.5.2. Những người phụ nữ xứ Trachinie.

Đề tài vở kịch lấy trong truyền thuyết Héraclès. Đây là câu chuyện Djanyre, con gái vua Énée xứ Calidon. Héraclès sau mười hai chiến tích lẫy lừng, đã được trả lại tự do. Chàng đã chiến đấu dũng cảm với thần chết Thanatos, buộc Thần phải để cho Alceste vợ vua Admète được sống lại, đánh chiếm thành Troie, giúp các thần linh diệt bọn khổng lồ, rồi đến xứ Calidon lấy con gái vua xứ đó là Djanyre làm vợ, đưa về Tyrinthe. Giữa đường, gặp con sông Événos nước chảy cuồn cuộn, chàng thuê con nhân mã Nessos (đầu người, mình ngựa) cõng Djanyre sang sông, còn chàng sẽ lội qua theo. Con nhân mã mê sắc đẹp của vợ chàng, âm mưu bắt cóc đi liền bị Héraclès giương cung bắn chết. Để trả thù, Nessos cởi chiếc áo đẫm máu của mình trao cho Djanyre và dặn rằng: sau này, nếu Héracles phụ tình, hãy đưa chiếc áo này cho chàng mặc là lập tức chàng trở lại với tình xưa. Sau đó ít lâu, nghe tin chồng toan yêu một người con gái khác, Djanyre bèn gửi chiếc áo đẫm máu của con nhân mã cho chàng. Không ngờ máu độc con long xà giết chết Nessos đã thấm vào chiếc áo vẫn còn tác dụng như trước. Héracles mặc chiếc áo ấy vào cũng bị ngấm độc, không có cách nào cứu chữa. Biết là mình đã vô tình giết chồng, Djanyre đau đớn. Bị hối hận giày vò, cuối cùng nàng đã tự sát.

2.5.3. Antigone

Bi kịch Antigone là một bi kịch đặc sắc của Sophocle, là điểm son chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của ông. Đề tài lấy trong truyền thuyết của gia đình Lapdacos (gia đình Édipe).

Chủ đề tổng quát là cuộc đấu tranh dũng cảm và quyết liệt của lẽ phải và tình thương chống lại cường quyền. Cuộc đấu tranh có nhiều hy sinh nhưng vẫn thắng lợi, thắng lợi về cả hai mặt lý luận và hiệu quả thực tế.

Nội dung vở kịch xoay quanh mối xung đột giữa một bên là vua Créon của thành bang Thèbes, và một bên là nàng Antigone, vừa là cháu ruột vừa là con dâu tương lai của Créon đã bất chấp lệnh cấm của nhà vua chôn cất xác anh mình là Polinice. Hai người anh của Antigone là Etéocle và Polinice đều chết trong cuộc tranh quyền làm vua Thèbes, Créon lên ngôi vua nêu lý do "thưởng phạt cho công minh", Créon cho chôn xác Etéocle nhưng lại bắt phơi thây Polinice làm mồi cho chim, cho chó, ai chôn cất sẽ mắc tội chết. Bất chấp lệnh cấm, Antigone lén đi chôn cất anh mình.

Nhân vật trung tâm là một cô gái yếu ớt, dám coi thường lệnh cấm khắc nghiệt, vô nhân đạo của bạo chúa Créon - cậu ruột của nàng - và từ chối cả sự tham gia của cô em gái quá bạc nhược, Ismène, nàng đã một mình bí mật mai táng thi hài anh mình là Polinice, vì tình yêu máu mủ và cũng vì tuân thủ luật lệ thần linh. Chính nàng tự nguyện và chủ động làm nên số phận của mình, không có yếu tố ngẫu nhiên nào tác động.

Hành động của Antigone đã bị lính gác bắt được đem nộp cho Créon, nàng đã khảng khái đối đáp với tên bạo chúa bằng những lời lẽ thông minh, đanh thép và cao thượng; Créon đuối lý, ra lệnh giam nàng trong hầm mộ của gia đình cho đến chết.

Con trai của Créon là Hémon, người yêu của Antigone, và nhà tiên tri Tirésias nói những lời khuyên can nhưng hắn không nghe. Cuối cùng cái chết của Antigone đã lôi kéo theo cái chết của chính Hémon và của hoàng hậu Eurydice, như một hiệu quả tất yếu. Créon mất hết gia đình, trở nên điên loạn.

Créon chuyên chế và độc đoán. Khi biết Antigone dám trái lệnh mình đã bừng bừng nổi giận, quyết trừng trị kẻ phạm tội một cách tàn nhẫn, dù kẻ phạm tội là máu mủ của mình, đó là hành động phi đạo lý. Ngược lại, hành động của Antigone là hành động quả cảm, đấu tranh để có được quyền chôn cất và cúng lễ, mặc dù hành động của nàng phải trả giá bằng cái chết của mình. Đó cũng được ví như hành động của hai nguyên tắc sống: một bên là vì quyền cá nhân - đại diện là Créon, một bên là vì tình thương. Hành động của Créon chà đạp lên cả quyền lợi của người sống và người chết gây nên tấn bi kịch trong cuộc sống của con người. Còn tình cảm nhân đạo cao đẹp của Antigone lại mang tính nhân loại, tính truyền thống sâu sắc, nó biểu hiện hành động anh hùng, hy sinh vì nghĩa lớn, vì sự sống còn của đồng loại.

Trong Antigone, sự xung đột mang kịch tính rõ rệt. Kết thúc xung đột bi kịch thật bi thảm, Antigone, vợ và con của Créon đều chết. Trước cái chết, mỗi người một suy nghĩ. Antigone sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng tình thương nhưng vẫn luyến tiếc cuộc sống. Kiên nghị và dũng cảm nhưng vẫn dịu hiền và xúc cảm. Bên cạnh một Antigone hiên ngang không khuất phục đã làm cho vua Créon nổi giận, còn có một Antigone đau khổ, xót xa cho số phận mình, phải chết khi thanh xuân, chưa biết đến hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Antigone khao khát tình yêu và hạnh phúc nhưng vẫn chấp nhận hy sinh vì tinh yêu thương cao cả với những người ruột thịt của minh. Chính vì vậy, nhân vật Antigone mang giá trị thẩm mỹ cao, tạo nên sự xót thương và cảm phục cho nhiều thế hệ khán giả.

Vở kịch Antigone phản ánh thời kỳ hoàng kim của bi kịch Hy Lạp, đồng thời nêu được trình độ hiểu biết uyên thâm cũng như kinh nghiệm sống dồi dào, phong phú của tác giả. Vở kịch thể hiện một cách cụ thể và dứt khoát nguyện vọng muôn thủa của nhân dân, của con người, là được sống trong một xã hội thực sự công bằng và có tổ chức, trong đó quyền con người và quyền công dân được triệt để tôn trọng, đạo làm người phù hợp đạo trời. Mọi hình thức độc tài dựa trên quyền lực đều trái với yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và không thể tồn tại.

Hémon đã khẳng định với cha: Quốc gia là tài sản chung của nhân dân giao cho kẻ cầm quyền quản lý; nhưng quản lý không có nghĩa là biến quốc gia thành của riêng, muốn làm gì thì tùy ý, muốn giết ai tùy lòng. Hémon tự tử để chứng minh cho cha rõ chính sách cai trị bạo tàn, độc đoán và bảo thủ của ông ta mang đến những hậu quả tai hại như thế nào cho Thành bang và cho chính bản thân ông.

Cùng với Prométhée bị xiềngÉdipe làm vua, Antigone được xếp vào hàng đầu, xưa nhất và đặc sắc nhất của nền sân khấu Hy Lạp và thế giới.

2.5.4. Édipe làm vua

Đề tài của Sophocle là sự đấu tranh tự giác của con người chống lại số phận khắc nghiệt, rút ra từ huyền thoại hay truyền thuyết ly kỳ của những dòng họ lớn ở Hy Lạp xa xưa. Vở Édipe làm vua là phỏng theo truyền thuyết gia đình Lapdacos.

Vợ chồng vua xứ Thèbes là Laios và hoàng hâu Jocaste lấy nhau đã lâu mà không có con, bèn đi cầu tự. Thần báo cho biết họ sẽ có một con trai, nhưng đứa con này về sau sẽ giết cha và lấy mẹ mình.

Khiếp sợ vì lời tiên báo kinh khủng đó, ngay khi đứa bé chào đời, Laios sai gia nhân mang lên núi Citheron giết đi để tránh hậu họa, nhưng đứa bé đó lại được sống, phiêu bạt, được vua láng giềng nuôi làm con nuôi.

Hai mươi năm sau, dân thành Thèbes bị một tai họa lớn. Con Sphynx, quái vật mặt người mình sư tử, chiếm lĩnh một ngã ba đường ngoại thành. Bất cứ ai đi qua, nó đều đặt một câu hỏi, trả lời đúng thì nó cho đi, trả lời sai thì nó ăn thịt. Một hôm, có một chàng trai tuấn tú, hoàng tử của nước láng giềng đi qua, bị con Sphynx chặn lại hỏi: "Con gì sáng đi bốn chân, trưa đi hai chân, chiều đi ba chân?". Chàng trai đáp ngay: “Đó là con người" (bé thì bò, lớn thì đi, già thì chống gậy). Con Sphynx thua, nhảy xuống vực tự tử. Đi đoạn nữa, chàng trai gặp một ông già tướng mạo đẹp đẽ cùng với mấy người tùy tùng đi tới, ngược chiều tranh giành đường với chàng. Ông già bị chàng đánh chết. Vào thành Thèbes, chàng được dân chúng nhận ra là kẻ cứu tinh của Thành bang, được tôn lên làm vua và kết duyên với bà hoàng hậu, bởi vua cũ đi đâu đó, mất tích từ lâu. Hoàng hậu chính là Jocaste và người đàn ông bị giết chính là vua Laios.

Mở đầu vở kịch là cảnh dân thành Thèbes đang trải qua một bệnh dịch khủng khiếp. Vua Édipe cho người cầu nguyện xin thần linh cứu vãn thành bang. Thần cho biết: kẻ giết vua xưa hiện đang cư trú trong thành bang này. Phải tìm ra được và trục xuất khỏi thành bang thì nhân dân mới thoát khỏi tai họa. Là một ông vua thương dân, Édipe tiến hành điều tra và thực hiện đúng lời thần dạy, khi phát hiện ra kẻ tội phạm vô tình đó chính là mình, Édipe đã tự móc mắt mắt mình và rời thành bang mà mình rất mực yêu quí ra đi.

Vở kịch diễn tả những nỗi đau thương vô bờ bến của một con người mà tiền định là sẽ giết cha và lấy mẹ. Édipe đã tìm mọi cách để thoát khỏi số phận, nhưng không được. Sau khi phát hiện ra tội lỗi hoàn toàn vô ý thức của mình, Édipe tự trừng phạt mình một cách cực kỳ dũng cảm mà hợp đạo lý: để cứu lấy nhân dân thành Thèbes mà ông đang làm vua qua khỏi bệnh dịch nguy hiểm.

Vở Édipe làm vua là một trong những kiệt tác mang một nội dung đau xót nhất, được kết cấu một cách chặt chẽ nhất, logic nhất qua một hệ thống sự việc mà mỗi chi tiết xảy ra đều có một lai lịch cụ thể được đối chiếu và chứng minh, đúng như lời tiền định của số phận.

Dựng vở kịch, Sophocle muốn khẳng định:

1. Đã là số phận thì không ai thoát khỏi.

2. Số phận thường là chứng nghiệm của qui luật nhân quả. Về căn bản, đó là cái "tâm" của con người thể hiện ra hành động đúng hay sai và hành động đúng hay sai dẫn đến một kết quả tất yếu tốt hay xấu, gọi là số phận. Cái ngẫu nhiên chỉ chiếm một phần nhỏ.

3. Cho nên, nếu số phận không may hay là quá nghiệt ngã, thì con người đừng nên vội đổ lỗi cho số phận, mà trước tiên nên trách cứ chính mình để có một thái độ sáng suốt, trung thực và dũng cảm chấp nhận số phận với tinh thần trách nhiệm cao trên cương vị của mình.

Édipe là một tấm gương sáng cho kẻ làm vua, biết thương dân, lo cho dân, sẵn sàng vì tính mạng và cuộc sống của nhân dân mà hy sinh, kể cả quyền vị và mạng sống của cá nhân mình.

Với thủ thuật hư cấu nhân vật của mình, Sophocle đã xây dựng hình tượng Édipe tuyệt đẹp bước ra từ truyện thần thoại - còng lưng dưới gánh nặng của số phận, cuối đời phải lang thang phiêu bạt và chết nơi đất khách quê người - trở thành một con người hoàn hảo, thương dân, yêu nước, trọng chân lý và trọng công lý. Xung đột kịch là mâu thuẫn giữa con người và số mệnh. Số mệnh đã đẩy nhân vật vào thực tế phũ phàng, Édipe đành chấp nhận một cách dũng cảm và đương đầu với số phận, hướng tới chân lý và thực hiện công lý với chính mình, không chờ đợi một lực lượng nào ở bên ngoài tác động. Vở kịch ca ngợi lòng dũng cảm của con người trước số phận nghiệt ngã đã không bị gục ngã, họ chiến đấu đến cùng với những bí ẩn của tự nhiên và những bất công mà con người phải hứng chịu. Édipe đã lập nhiều chiến công nhưng ông không được hưởng hạnh phúc bởi số phận ngang trái của mình.

2.5.5. Eslectre

Cùng nằm trong hệ thống đề tài "thái độ con người trước số phận", nhưng vở Eslectre đề cập một khía cạnh khác: Eslectre không còn là một nạn nhân đau khổ của số phận, mà là cánh tay của số phận trừng phạt tội ác.

Vở kịch với đề tài lấy ở truyền thuyết Agamemnon. Clytemnestre là vợ của tướng Agamemnon và là mẹ của Iphigenie, Eslectre, Chrysothemis và Oreste. Iphigenie đã bị hy sinh để thần linh ban ngọn gió thuận cho quân đội Hy Lạp, do Agamemnon làm tổng chỉ huy đi chinh chiến ở thành Troie. Trong lúc chồng lăn lộn ở chiến trường, Clytemnestre ở nhà ngoại tình với Egisthe là anh em con chú con bác của Agamemnon. Agamemnon chiến thắng trở về bị hai tên gian phu dâm phụ gài bẫy giết chết. Eslectre lúc này là chị cả, kịp thời cứu được em trai còn nhỏ là Oreste, giao cho sư phó đưa trốn ra nước ngoài nuôi nấng, dạy dỗ. 20 năm trốn ra nước ngoài để tránh bàn tay tội ác của mẹ, Oreste trở về Mycènes, cải trang thành một người khách Phocée, liên lạc được với chị là Eslectre, rồi hai chị em lập mưu vào được cung điện, giết mẹ là Clytemnestre và Egisthe báo thù cho cha.

Vở kịch không đề cập nhiều đến vấn đề gia đình mà chủ yếu đề cập đến vấn đề công lí của cuộc sống. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ giữa cái thiện và cái ác, xã hội phải biểu hiện một thái độ rõ ràng dứt khoát: ủng hộ, bảo vệ, động viên cho cái thiện thắng lợi, đồng thời trừng trị cái ác một cách thích đáng ngay từ biểu hiện đầu tiên. Một vẫn đề nữa được trực tiếp đặt ra ở đây là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Người thi hành công lý ở đây là chị em Eslectre và Oreste; họ đã thực hiện đúng nguyên tắc "pháp bất vị thân".

Cũng như các tác phẩm khác của Sophocle, Eslectre để lại cho hậu thế dấu ấn đậm đà của một tâm hồn phong phú, trung thực, cao cả và thủy chung trong quan hệ xã hội, chứa chan tình cảm yêu thương trong quan hệ gia đình - đoạn Eslectre khóc em (câu 809- 859) là một ví dụ. Tác phẩm thể hiện vai trò của một người cầm bút luôn luôn thận trọng, logic trong xử thế và trong sự nghiệp sáng tác của mình.

2.5.6. Philoctète

Đề tài vở kịch lấy ở truyền thuyết chiến tranh thành Troie. Trước khi chết Héracles trao cho Philoctète cây cung thần diệu của mình. Trên đường viễn chinh sang Troie, Philoctète bị tai nạn, què chân, không đi theo đoàn quân được, bị bỏ lại ở đảo Lemnos. Chiến tranh kéo dài, quân Hy Lạp không sao hạ nổi thành. Thần cho biết phải có chiếc cung thần kỳ của Héracles hiện do Philoctète giữ. Ulysse và Néoptoleme (tức Pyrrhus, con trai của Achille) bàn nhau sang Lemnos lừa Philoctète lấy được chiếc cung đó. Nhưng rồi, Néoptoleme day dứt lương tâm, không đành để Philoctète tay không, đau yếu ở lại một mình trên đảo Lemnos hoang vắng, bèn nói hết sự thật với chàng và trả lại chiếc cung. Philoctète nổi giận định bắn chết Ulysse thì Héracles xuất hiện, động viên Philoctète lên đường cùng Ulysse và Néoptoleme sang tham gia cuộc chiến ở Troie. Thần Esculape (thần thày thuốc) sẽ đảm bảo chữa cho chàng lành vết thương.

2.5.7. Edipe ở Cologne

Sophocle viết vở kịch này vào hoàn cảnh con cái ông đối xử với cha không phải đạo.Vở kịch viết, Edipe sau khi tự móc mắt và trục xuất mình ra khỏi Thành Thèbes được con gái là Antigone dắt đi sang đất Cologne - Tức Athènes - lúc này do Thésée, vị vua anh hùng, giỏi nhất thành bang trị vì. Thésée rất vui mừng, niềm nở đón tiếp con người khốn khổ đó. Vì có lời sấm báo trước rằng ngôi mộ của Edipe ở đâu thì xứ đó được thần thánh ban cho đầy ân phúc. Créon đang lăm le chiếm ngôi vua, tới gặp Edipe toan dùng bạo lực mời ông về để "bảo vệ cho thành Thèbes", bị Thésée chặn lại. Polynice, con trai Edipe, đã chạy sang Argos mưu toan mang quân đánh lại em mình là Etéocle để tranh giành lại ngôi vua, cũng có ý định đón cha về để bảo vệ cho mình chiến thắng. Cả hai đều bị ông từ chối. Ông quyết định sẽ ở lại Cologne, xứ sở của vua Thésée anh hùng, cao thượng và hiếu khách.

Đây là tác phẩm chứa đựng niềm tự hào về đất nước Athènes và cũng là lời chúc cuối cùng của nhà thơ cho thành phố quê hương yêu thương của mình mãi mãi sẽ được hưởng nhiều ân huệ và sự chăm sóc của thần linh.

Người ta kể lại rằng, khi tòa án mời Sophocle đến giải quyết mối bất hòa giữa các con với ông, ông đã đưa kịch bản này thay vào lời trình bày sự việc. Sau khi xem xong ai nấy đều xúc động đứng lên công kênh ông, và mối bất hòa gia đình cũng tự nhiên được giải quyết.

EURIPIDE (ƠRIPID, 480- 406 TCN)

Thân thế và sự nghiệp của Euripide

Euripide xuất thân trong một gia đình quí tộc, học rộng, tài cao, giao thiệp với các nhà triết học đương thời như Socrate, Anaxagoras (vừa là bạn vừa là thày của Euripide và Pericles) hoặc Protagoras, nhà ngụy biện nổi danh. Ông có ảnh hưởng ít nhiều của họ nhưng không theo trường phái của ai cả.

Tác phẩm đầu tiên của Euripide được biểu diễn những năm 455 TCN, một năm sau khi Eschyle mất. Từ đó cho đến lúc qua đời, ông đã sáng tác 92 vở kịch, nhưng trong các cuộc thi ông chỉ trúng giải nhất được 4 hoặc 5 lần. Bi kịch của ông có những nội dung không giống với bi kịch của Eschyle và Sophocle, có lẽ vì thế mà công chúng chưa quen thưởng thức, chưa đánh giá cao về ông chăng?

Không vui vì gặp nhiều thất bại trong nghệ thuật, lại buồn vì cuộc sống riêng tư, ông đã rời Athènes sang xứ Magnesie, tới ở cung vua Macedoine là Archelaos vào năm 404 TCN, hai năm sau qua đời kinh thành Pella.

Người ta khoác cho ông cái tên"Kẻ ghét đàn bà", ta có thể đoán được Euripide chắc chắn nhiều lần đau khổ trong tình yêu, mất tin tưởng ở phụ nữ. Câu nói chua chát ông đặt vào miệng Médée có thể là một bằng chứng về sự việc này: "Thiên nhiên đã tạo ra đàn bà chúng ta; làm điều thiện thì chúng ta hoàn toàn bất lực mà làm điều ác thì chúng ta là những người thợ lành nghề". Nửa do bản tính con người, nửa do hoàn cảnh tác động, ông luôn sầu bi, cau có, thích sự yên tĩnh, cô đơn. Điều rất đáng chú ý là , trọn cuộc đời, ông không hề nhận được một chức vụ nào dù nhỏ trong bộ máy nhà nước, không có chân trong Hội đồng Năm trăm như Socrate, không làm tướng cầm quân như Sophocle đã từng làm. Thái độ sống của nhà thơ phản ánh một tình trạng xã hội vừa rất phồn vinh vừa đang suy sụp dần về lòng tin do cuộc chiến tranh Peloponèse hao tiền tốn của kéo dài gần ba mươi năm, kết thúc với sự thất bại của Athènes.

Sau khi Euripide mất, phần vì những câu chuyện thù oán, ganh tị đã tiêu tan, phần vì nhận thức của công chúng đã chuyển biến theo chiều tiến bộ, người ta bắt đầu hiểu quan điểm triết lý về nghệ thuật của nhà thơ, người ta trở lại tôn sùng nhà thơ, hơn cả Eschyle và Sophocle. Euripide trở thành "lãnh tụ của một trường phái". Người ta học tập, bắt chước Euripide, cả những phần nhược điểm của ông.

Euripide chỉ kém Sophocle có mười lăm tuổi. Vậy mà ông đại diện cho một xu hướng tư tưởng đã có nhiều khác biệt với tư tưởng của Sophocle. Tuy không là đồ đệ một phái triết học nào, ông cũng như nhiều người đương thời đã có một thái độ hoài nghi, chế giễu đối với thứ tôn giáo quá mộc mạc của cha ông. Ông không ưa những thần thoại hoang đường và tập quán buộc các nhà thơ phải sử dụng làm đề tài sáng tác. Thần linh trước con mắt ông chỉ là những câu chuyện phiếm, bịa đặt, những cái tên suông không mang một nội dung gì. Tuy nhiên cái mà ông chống lại là những mê tín dị đoan thô kệch của quần chúng, chứ không phản đối lòng tin ở Thượng Đế cao siêu. Trái lại, ông là một nhà tư tưởng lớn suy nghĩ sâu xa về những vấn đề quan trọng của nhân sinh và đã viết một số vở kịch, luận đề trong đó tiếng nói của ông trực tiếp vang lên quá rõ.

Số vở kịch còn lại đến ngày nay của Euripide nhiều hơn tổng số còn lại của Sophocle và Eschyle. Những vở đó có thể sắp xếp lại theo tính chất và chủ đề của nó như sau:

a. Hai tác phẩm có giá trị lớn, Alceste bi thương và Médée rất rùng rợn, không thuộc nhóm chủ đề riêng nào.

b. Năm tác phẩm lấy đề tài ở cuộc chiến tranh thành Troie và những ngày về: Những người đàn bà Thành Troie, Hécube, Andromaque, Hélène, Cyclope.

c. Năm tác phẩm lấy đề tài ở truyền thuyết Agamemnon, Eslectre, Oreste, Iphigenie ở Aulis, Médée, Iphigenie ở Tauride.

d. Ba tác phẩm về thành Thèbes : Những nàng Bachantes, Những người đàn bà Phenicie, Heracles giận dữ.

e. Bốn tác phẩm lấy đề tài ở truyền thuyết Attique : Những người con gái của Héracles, Những người đàn bà cầu xin, Hippolite, Ion.

Xét về hình thức cũng như nội dung, bi kịch Euripide đã có những điểm khác biệt với bi kịch Eschyle và Sophocle, khác biệt chứ không phải là tiến bộ, bởi vì cả về hình thức cũng như nội dung, Sophocle đã đưa nền bi kịch Hy Lạp đến mức độ hoàn chỉnh rồi. Euripide dường như không coi trọng lắm phần mở đầu và phần kết thúc trong tác phẩm của ông. Ông hay mở màn bằng lời độc thoại của một nhân vật giới thiệu tình huống và sự việc, kết thúc một cách dễ dãi bằng cái thủ thuật mà người ta gọi là: "deus ex machina" (tiếng Latinh, có nghĩa là "thần linh xuất hiện từ một cái máy"), đột ngột và thiếu chuẩn bị, không do quá trình phát triển của xung đột mà dẫn tới hoàn toàn ngẫu nhiên. Ví dụ trong vở Iphigenie ở Aulis (là một vở rất hay), khi Iphigenie sắp sửa bị hy sinh thì nữ thần Artémis biến nàng đi đâu mất, chỉ để lại dưới bàn thờ một con dê cái mới chọc tiết đầy máu me. Trong Iphigenie ở Tauride, khi hai chị em Iphigenie và Oreste đánh cắp được bức tượng Artémis đang chạy trốn, vua Thoas đang đuổi theo, thì nữ thần Athéna xuất hiện, ra lệnh cho Thoas thôi đừng đuổi theo nữa.

Vai trò Đội đồng ca trong bi kịch Euripide đại để vẫn như ở bi kịch Sophocle, không trực tiếp liên quan đến hành động kịch, nhưng vẫn là một chứng nhân tích cực theo dõi, bình luận sự việc một cách nhiệt tình chứ không hề bàng quan. Euripide cũng thường sử dụng như Eschyle, những đoạn độc thoại trữ tình hát giống như đoạn độc thoại ở Prométhée sau khi Quyền lực, Bạo lực và Hephaistos đã xiềng chàng vào mỏm đá núi rồi bỏ đi. Đoạn Médée khóc con thật là tuyệt diệu.

Thực ra Euripide không cách tân gì phần hình thức cả nhưng về phần nội dung, ông đã có sự chuyển hướng đáng chú ý. Như Aristote đã nói, Euripide miêu tả con người như nó đang tồn tại. Trong khi kịch Eschyle bay bổng rất cao, kịch Sophocle hạ cánh xuống với con người, thì kịch Euripide phản ánh những bản chất thông thường nhất, những dục vọng của cá nhân: ông là bậc thầy về phân tích tâm lý con người.

Nhân vật của Euripide không có nghị lực chống lại dục vọng cá nhân để vươn lên hoàn thành những trách nhiệm cao cả như nhân vật của Sophocle, mà chỉ có dục vọng và đi theo đến cùng những dục vọng phức tạp của bản năng; yêu đương, giận ghét, căm thù, ghen tuông, đau khổ, và nhất là tình yêu... Chính vì vậy mà những vai đàn bà trong bi kịch của ông chiếm vị trí trung tâm. Chỉ đọc qua nhan đề 17 vở còn lại thì đã có 12 vở mang tên nhân vật đàn bà, chỉ có 5 vở mang tên nhân vật đàn ông. Nhân vật nữ của Euripide có tính đa dạng và phong phú với đủ thứ sắc thái tình cảm: yêu đắm đuối như Phedre trong Hippolite, tự nguyện chết thay cho chồng như Alceste, ghen tuông dữ dội đi đến tội ác như Médée, thương tiếc cuộc đời mà vẫn bình thản chấp nhận hy sinh vì đồng bào như Iphigenie, Polycène, Macarie, nặng tình mẫu tử như Hécube, Andromaque. Nhân vật đàn ông có một số nhu nhược thiếu bản lĩnh hoặc ích kỷ đê hèn như Jason trong vở Médée. Một số như Thésée trong Những người đàn bà cầu xin, Lolaios trong Những người con gái của Héracles, anh nông dân trong vở Eslectre chiếm được tình cảm người xem vì có tinh thần dân chủ rộng rãi, trung thực và biết trọng danh dự, yêu lao động và đánh giá đúng mức con người. Nhất là Hippolite, người ta yêu mến chàng vì chàng có tính cách vô tư, cao thượng và hiếu thảo. Còn các thần linh thì mang rặt những tính xấu, bị khán giả và cả nhân vật nguyền rủa.

Người ta có thể có ý nghĩ rằng Euripide không như Sophocle, nghiêng về khắc họa những mặt tốt trong con người, nhằm tuyên truyền, bảo vệ cái đạo lý làm người tốt đẹp, mà nghiêng về bộc lộ những dục vọng thấp kém của con người với những hậu quả gơm ghê của nó để biết mà ngăn chặn như một lời răn đe bằng thực tế phản diện: hãy cảnh giác! Nguồn gốc mọi sự bất hạnh trong tương lai ở chính những dục vọng của chính bản thân mình. Bức tranh dục vọng hầu như toàn diện đó của nhân vật thuộc tầng lớp vua chúa, ngoài ý nghĩa răn đe đối với mọi người, còn là sự bóc trần bản chất xấu xa của các tầng lớp quý tộc thống trị, một bản cáo trạng đối với xã hội dựa trên quyền lực, đầy rẫy những vô lý và bất công. Nó còn là một sự đòi hỏi quyền bình đẳng cho người phụ nữ không những trong vấn đề hôn nhân - gia đình mà cả trong những lĩnh vực hoạt động khác. Những câu Médée nói với Đội đồng ca, với Créon, với Jason không cho phép nghi ngờ gì nữa về tư tưởng phản kháng và đấu tranh mãnh liệt đầy ý nghĩa nhân văn mới mẻ và tiến bộ của Euripide.

Con người có những kiến thức uyên thâm, am hiểu lòng đồng loại và giàu kinh nghiệm sống, đã có những câu định nghĩa bất tử: "Tình yêu, đó là sự ngọt ngào lớn nhất, niềm đau khổ lớn nhất", con người ấy trọn đời không nhận một chức trách gì trong xã hội, có tới Hội nghị Nhân dân chăng nữa cũng chỉ vì tò mò hay đến để quan sát và không quý yêu gì bọn mị dân lắm mồm. Con người ưa cô độc, khó tính, cáu gắt có lẽ vì đã nếm nhiều thất bại trên con đường sự nghiệp văn chương, nhiều thất vọng cay đắng trong cuộc sống riêng tư và tình cảm, con người ấy đã để lại cho đời một loạt những tác phẩm rất hiện thực, gần gũi với mọi người, với những lời lên án gay gắt, những câu trữ tình "có hương vị mật ong""âm thanh những tiếng hát Sirene" như nhà phê bình Alexandre xứ Etéolie ở thế kỷ thứ III đã nói, những đoạn phân tích tâm lý sâu sắc lạ kỳ, đặc biệt rất nhiều những hình tượng phụ nữ sáng chói yêu thương, ngây thơ, trong trắng. Đó là những sáng tạo của một tâm hồn mơ mộng mà bất chấp những gió mưa trên chặng đường đời, vẫn giữ được sự trong trẻo của mình để khắc họa nên những nhân vật đàn bà chung thủy, hy sinh, đáng mến, đáng yêu mà cuộc đời đã khước từ ông trong thực tế.

Chỉ với 17 kịch bản còn lại, Euripide đã đề cập tới bao nhiêu vấn đề và vấn đề nào nhà thơ cũng phát biểu rõ ràng bằng hình tượng và có khi bằng cả lời nói trực tiếp, không che giấu những quan điểm minh bạch của mình.

Euripide trước tiên là một nhà thơ đấu tranh kiên trì cho một nền dân chủ rộng rãi và tiến bộ. Trong vở Những người đàn bà cầu xin, Thésée, kẻ cầm quyền ở Athènes, đã nói vơi sứ giả của tên vua độc tài Créon thành Thèbes :

"Đô thị này (Athènes) không thuộc quyền riêng một người nào. Anh sẽ không tìm thấy ai là vua ở đây. Athènes tự do. Dân chúng ở đây là kẻ trị vì. Lần lượt hàng năm các công dân được bầu làm đại biểu quản trị nhà nước. Người già không được ưu tiên nào; giàu nghèo ở đây đều bình đẳng...".

Viên sứ giả ca ngợi chế độ độc tài ở Thèbes thì Thésée bác bỏ một cách hùng hồn:

"Đối với một đân tộc không có gì nguy khốn hơn là một tiếm vương. Dưới chế độ ấy, không có pháp luật nào chung cho tất cả. Chỉ có một người duy nhất cầm quyền và pháp luật trong tay hắn, do đó mất hết bình quyền. Trái lại, khi có một bộ luật pháp trong nước thì giàu nghèo đều bình quyền cả. Người yếu bị kẻ khỏe ngược đãi có thể phản ứng lại và người thấp, nếu đủ lý, thắng được người cao,... Ngoài ra, trong các nước mà chính quyền nằm trong tay quần chúng nhân dân thì dân chúng mong muốn tuổi thanh niên phải hết sức nồng nhiệt. Bọn tiếm vương, trái lại, rất ghét điều đó; những công dân tốt, những người biết suy nghĩ, có tư tưởng, thì hắn tìm cách hãm hại ngay vì hắn sợ cho ngai vàng của hắn. Như vậy Tổ quốc còn sức lực ở đâu ?".

Euripide luôn luôn có thái độ phê phán gay gắt đối với những phong cách đồi bại của các thần: Zeus, vị chúa tể thiên cung, trá hình chui vào giường hiếp vợ Amphitrion, Apollon cưỡng dâm cô gái Creuse, khi nàng thụ thai thì bỏ nàng không ngó đến... Thần thánh mà thế thì con người còn đến đâu! Cho nên Creuse than:

"Ôi! Tội ác của thần thánh! Bây giờ ta còn biết tới cửa nào mà kêu ca đòi công lý khi ta chết vì sự bất công của bọn quyền thế trên đời?".

Thái độ phản kháng những hành vi đồi bại của thần linh xét cho cùng là một khía cạnh tất nhiên của tư tưởng dân chủ, cũng như dân chủ tất nhiên dẫn tới lòng yêu chuộng hòa bình và sự thừa nhận vai trò quan trọng của người lao động trong cuộc sống. Trong vở Eslectre của Euripide (chủ đề của bi kịch Hy Lạp thường xoay quanh truyền thuyết về các gia đình lớn. Về nhân vật Eslectre, cả Eschyle, Sophocle và Euripide đều khai thác theo quan điểm riêng của mình - lời dịch giả), tác giả đã để cho Eslectre lấy một người nông dân và quí trọng anh ta một cách chân thành, nàng nói:

"Tôi kính phục một người bạn như anh chẳng kém gì kính phục thần thánh. Không bao giờ anh chê cười nỗi đau khổ của tôi. Đối với người trần tục, thật là một đặc ân khi gặp được người biết chăm sóc đến mình trong những ngày khó khăn mà mình đang sống, như tôi được gặp anh. Vì vậy, mặc dù anh không yêu cầu, tôi vẫn cố gắng gánh đỡ cho anh một phần công việc, cùng chịu khó nhọc với anh. Công việc nội trợ phải là phần của đàn bà. Người lao động đi làm về bao giờ cũng muốn thấy mọi cái trong nhà đều ngăn nắp".

Anh nông dân đáp lại rất thật lòng:

"Cái đó tùy ý. Một kẻ lười dù mở miệng là cầu khẩn thần này, thánh nọ, không lao động thì cũng đừng hòng nuôi nổi cái miệng mình".

Oreste, em của Eslectre, cảm động trước tấm lòng của anh, đã phát biểu một lời đầy triết lý:

"Muốn đo sự cao quí của một người trần, chỉ cần xem xét việc làm và hạnh kiểm của họ là đủ. Tôi mong được tiếp đón trong nhà một người nghèo mà có tâm hồn hơn trong nhà một kẻ giàu sang".

Và cái nét tâm hồn căn bản đọng lại trong nhà thơ vẫn là một tấm lòng yêu nước thầm lặng, kín đáo và một ý thức làm trọn bổn phận người dân đối với đất nước của mình. Trong vở Những người đàn bà thành Troie, Euripide cho nàng Cassandre nói lên những lời thật xứng đáng là người em gái của dũng sĩ Hector :

"Tráí với bọn xâm lăng Hy Lạp, người dân Troie đã thu được một vinh quang vô vàn quí báu: họ chết vì Tổ quốc! Nếu ngọn giáo đâm họ chết, thì những bàn tay thân thương khiêng thi thể họ về nhà, chôn cất trên mảnh đất cha ông sau khi được khâm liệm chu đáo... Tránh được chiến tranh là bổn phận của mọi người khôn ngoan. Nhưng nếu phải đi đến chỗ chết, thì chết không phải vì một lý do tốt đẹp là một cái chết nhục nhã; trái lại, vì đồng bào mình mà chết một cách vinh quang thì không ai có thể chối từ vinh hạnh ấy".

Trong vở Iphigenie ở Tauride, Oreste cũng tuyên bố:

"Người thanh niên không thể viện một khó khăn trở ngại nào để trốn tránh bổn phận mình đối với Tổ quốc!".

Không phải chỉ nói ngoài miệng mà nhiều nhân vật, những nàng trinh nữ vừa chớm xuân đời, chưa được hưởng hạnh phúc hôn nhân, đã tự nguyện bước lên giàn thiêu, hy sinh cả tuổi trẻ và tính mạng của mình cho Tổ quốc như Iphigenie, Polycène, Macarie... là những tấm gương yêu nước chói lọi từ ngàn xưa cho đến cả hôm nay.

Cái hấp dẫn của Euripide, đại diện cuối cùng của nền bi kịch Hy Lạp, là những tư tưởng yêu nước nhân đạo, dân chủ, tiến bộ đã được ông nhắc đi nhắc lại qua từng tác phẩm, trong hoàn cảnh bản thân chịu bao nghịch lý: tài hoa thì tuyệt đỉnh mà cuộc đời lại trải nhiều bất hạnh xót xa. Lời thơ của nhạc trưởng kết thúc vở kịch kiệt tác của ông phải chăng đã kín đáo gợi nên nghĩa đó:

"Thần Vương ngự đỉnh Olympe

Là người phân phát phận thường rủi may.

Bao sự việc trái lời nguyện ước

Được các thần thực hiện bỗng dưng;

Điều ta trông đợi, chẳng mòng,

Mà điều không đợi, rạch đường tới ngay".

Có phải nhà thơ bi quan hay là thực tế?

Euripide, "nhà thơ sáng tạo ra loại kịch tâm lý" bị người đương thời khiển trách là toàn đưa cái xấu xa của người đời lên sân khấu. Bởi vì ông là người họa sĩ lớn về dục vọng của con người, Phedro đau khổ vì tình, quằn quại, suy yếu, não nề. Médée ghen tuông, giận dữ, lồng lộn như "một con sư tử", phá phách như bão tố... Tuy nhiên các nhà bình luận lại hết lời khen ngợi ông, nhiều nhà nghiên cứu phê bình tuy quan điểm khác nhau nhưng lại thống nhất với nhau ở điểm: nhân vật của Euripide mang đậm tính người hơn nhân vật của các tác giả bi kịch đương thời. Đó là trường hợp của Nitso và Bonna. Rõ ràng là người đồng thời với Euripide chưa nhận thức được dụng ý của nhà thơ như Nitso đã phân tích: "Euripide đưa khán giả lên sân khấu để họ tự xét mình". Euripide đã miêu tả "những con người vốn là như vậy đấy", khác với những nhân vật kỳ vĩ siêu phàm của Eschyle hay con người tràn đầy sức mạnh, ý chí vươn tới lý tưởng của Sophocle.

Kịch của Euripide phản ánh hiện thực xã hội dân chủ chủ nô ở thời kỳ tan rã của nó, do đó các tác phẩm của ông đã đề cập tới hàng loạt các vấn đề nóng bỏng của xã hội với những lời nhận định phê phán sâu sắc. Cũng qua đó, tác giả đã thể hiện quan điểm tiến bộ của mình, chính vì vậy người đương thời gọi ông là "nhà triết lý trên sân khấu". Ông nói đến chiến tranh và lên án mặt phi nghĩa của nó. Theo ông "chỉ có một cuộc chiến tranh mà ai ai trong chúng ta cũng phải chấp nhận, đó là cuộc chiến tranh vệ quốc, còn ngoài ra chúng ta có quyền từ khước". Trong Những người đàn bà thành Troie, Hécube, Andromaque..., ông đã lên án cuộc chiến tranh Troie mà dân tộc ông tiến hành trong quá khứ vì đó là cuộc chiến tranh xâm lược, cướp bóc, phi nghĩa. Euripide ca ngợi hòa bình và thể hiện lòng khát khao hòa bình của người dân. Tác giả còn đề cập tới vấn đề tôn giáo thần thoại. Ông hoài nghi sự tồn tại của thần thánh. Ông viết: "Zeus, Zeus là ai, tôi chỉ biết Zeus qua những lời đồn đại mà thôi". Và dưới ngòi bút của ông, thần thánh hiện ra không còn thiêng liêng nữa, ngược lại mang nhiều tính xấu đáng phê phán như hiếu sắc (Apollon trong Ion), tàn ác, khát máu (Artemis trong Iphigenie ở Tauride)... Ông đả kích sự cuồng tín, nghi ngờ "định mệnh". Qua bi kịch của mình ông đã chỉ ra một thứ "định mệnh bên trong", tức là dục vọng của con người, chính là nguyên nhân dẫn dắt con người đến những tấn bi kịch trong cuộc sống. Chính vì vậy bi kịch của Euripide không nói về chuyện trên trời mà nói về chuyện dưới đất, không nói về thần thánh mà nói về con người với tất cả tính người sâu đậm của nó.

CAC TÁC PHẨM CỦA EURIPIDE

2.6.1. Alceste (438 TCN)

Theo tập quán sân khấu Hy Lạp, mỗi đợt biểu diễn bắt đầu với ba bi kịch, của ba tác giả, và kết thúc bằng một vở châm biếm. Alceste của Euripide biểu diễn năm 438 tr CN, sau ba vở của người khác, là vở kết thúc, ở vị trí của vở châm biếm ấy. Đây là một vở có nội dung phong phú dưới một hình thức có thể nói là đa dạng: khi thì nó là một bi kịch rất mực xúc cảm, rất mực thương tâm, khi thì nó pha chút hài hước nhẹ nhàng, và có khi nó châm biếm sâu cay gần như độc địa, để rồi kết thúc rất có hậu, vui vẻ, dễ thương, hợp với mong muốn của mọi người. Chưa bao giờ thấy có một ngôn ngữ trong sáng, ngọt ngào như thế được sử dụng để diễn tả một câu chuyện huyền thoại xúc động và dễ thương như thế.

Đó là câu chuyện nàng Alceste đang tuổi thanh xuân, tình nguyện chết thay cho chồng là Admete, trong khi một số những người già thì sống hèn nhát, như người cha của Admete là Pheres. Qua đoạn đối thoại triết lý giữa hai cha con khi Pheres mang lễ vật tới phúng con dâu và ca ngợi sự hiếu đễ của nàng, tác giả đã truyền được cho khán giả cái nhận thức và sự căm ghét sâu sắc của mình đối với sự hèn nhát và thói đạo đức giả.

Giữa lúc tang gia bối rối thì Héracles (tức Hercule) - người anh hùng có sức mạnh vô song đã lập mười hai chiến công kì diệu, tính luôn luôn vui vẻ, vô tư, yêu đời, sẵn sàng làm việc nghĩa cứu đời - tới thăm. Vì tính hiếu khách truyền thống của dân tộc, Admete tiếp đãi Héracles rất hậu, không để cho khách biết chuyện buồn. Nhưng khi Héracles tình cờ biết được sự thật, chàng đã lập tức đi tìm Thần Chết (Thanatos) đấu tranh thắng lợi, buộc thần chết phải trả Admete lại với cuộc sống nhân gian. Kết thúc là Héracles trở về nhà Admete với một thiếu phụ trùm kín mặt mà chàng nói là chiến lợi phẩm của một cuộc chiến đấu, chàng gửi nhờ Admete giữ hộ... Đó chính là Alceste. Nhờ Héracles, nàng được sống lại, từ cõi chết trở về đoàn tụ với chồng con.

Alceste là một tác phẩm vừa mang tính chất hiện thực phê phán sâu sắc đồng thời vừa rất lãng mạn - cái lãng mạn thể hiện nguyện vọng sâu sắc muôn đời của con người muốn có một cuộc sống gia đình hạnh phúc trong đoàn tụ, yêu thương, và mơ ước có một phương pháp thần diệu để khắc phục tự nhiên, kéo dài cuộc sống.

Về hình thức, dường như Alceste báo hiệu sự xuất hiện sau này của thể loại kịch drame thế kỷ XIX ở phương Tây.

Nhà văn Pháp Max Agger nhận định: "Alceste là một vở kịch vừa hài vừa bi, bi là chính, kết thúc có hậu. Chưa một tác giả nào vận dụng một văn phong trong sáng như thế để phục vụ cho một huyền thoại xúc động lòng người đến thế.".

Trong bi kịch của ông, cái hài kịch quyện với cái bi kịch gợi nên nụ cười và nước mắt, thể hiện cuộc sống thực với dạng vẻ đầy mâu thuẫn của nó. Trong vở Alceste, ông đã vận dụng cái hài qua việc khai thác những tình tiết phi lí của thần thoại, mà ngoài ông ra ít ai chú ý, để đưa cái cười nhạo kín đáo (Admete là "người tốt" nhưng lại muốn người khác chết thay cho mình). Rồi cảnh Héracles phàm ăn, tục uống, say sưa bí tỉ khiến tên nô lệ của Admete hầu tiệc phải thất kinh, có lúc lại làm người ta nghi hoặc chưa thật sự hòa mình vào cảnh khóc than thề thốt của người chồng mất vợ, có lúc làm người ta sửng sốt vì thực tế tầm thường của những chân giá trị mà xưa nay người ta vẫn ngộ nhận (sự thiêng liêng của thần thánh, tình phụ tử đậm đà qua các cảnh thần Apollon và thần chết gặp nhau, hay cha con Admete và Pheres trách móc lẫn nhau). Bên cạnh những cảnh có sự hòa quyện cái bi và cái hài thì sự hy sinh tận tụy của nàng Alceste phơi bày trên sân khấu và chiến công của Héracles để cứu nàng thoát tay thần chết... thì những cái đó là cơ sở của bi kịch thật sự.

2.6.2. Médée ( Mê đê - 431 TCN)

Médée là một vở kịch mang tính khốc liệt nhất trong lịch sử sân khấu nhân loại, tang thương hơn cả Hamlet và Macbet của Shakespeare, mà cũng lại rất trữ tình trong hình thức diễn đạt. Nó đánh dấu một chặng đường phát triển mới của tư tưởng dân chủ, bình đẳng và của quan niệm về vai trò và chức năng của sân khấu.

Médée không phải vở kịch ghen tuông như người ta quan niệm xưa nay, mà là vở kịch đầu tiên công khai và lớn tiếng đấu tranh cho sự bình đẳng giữa nam và nữ giới, vở kịch của sự trừng phạt. Trong ghen tuông, người đàn bà vẫn ở thế bị động. Trong vở Médée người đàn bà hoàn toàn chủ động: Médée nhân danh nữ giới đã lên án rồi trừng phạt thích đáng thói phụ tình của người đàn ông, tự giải quyết lấy số phận của hai đứa con mình. Vậy là tác giả mặc nhiên đặt ra cho sân khấu một chức năng lớn lao, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển đúng quy luật của xã hội.

Trong vở kịch có hai vụ án mật thiết liên quan với nhau được thi hành ngay sau khi phán quyết. Cả hai vụ, xét dưới góc độ của đạo lý gia đình thì có vẻ là vô đạo, nhưng xét dưới góc độ thúc đẩy xã hội phát triển thì nó hợp lý, nhân đạo và cần thiết; độc giả và khán giả tuy bị sốc nhưng vẫn chấp nhận, vì lương tri và lương tâm của họ luôn luôn xác định được thì phải đặt cái chung lên trên: phán quyết của Médée đã đặt cái quyền lợi nhất thời của gia đình dưới cái quyền lợi chung, bền vững lâu dài của nữ giới, của cả xã hội. Nàng đã phán quyết đúng.

Để lý giải thêm về cái tính chất ác liệt của tác phẩm, đúng qui tắc sân khấu - mọi mâu thuẫn trong hành động đều phải xuất phát từ tính cách của nhân vật - tác giả không quên giới thiệu một cách khá rõ ràng Médée là con gái của "nữ thần bói toán và bùa phép" Hécate và là cháu nội của thần Thái Dương. Nàng đã thừa hưởng cái tính dữ dội, nóng nảy và quyết liệt của ông và cái khoa học bùa phép của mẹ. Nàng đã nói một câu nổi tiếng, vừa biểu hiện cái cá tính của nàng vừa biểu hiện sự vùng lên của nữ giới giành quyền tự do và bình đẳng xã hội:

"Ta thà xông trận ba lần với tấm khiên trên vai hơn là chỉ một lần sinh đẻ" (câu 305- 306).

Và sau đó là tiếng khóc con xé lòng từ một trái tim người mẹ (câu 1266- 1356). Quyết liệt nhưng nhân đạo - đó là tính tư tưởng cao nhất của vở Médée.

Cái bi của tác phẩm của ông thường bộc lộ sự thảm khốc tuyệt đỉnh vì nó kết hợp với cái khủng khiếp mà ít người hình dung nổi như cảnh Médée giết hai con để trả thù chồng. Ông đi sâu vào "tâm lý nhân vật", phanh phui những dục vọng ghê gớm tiềm ẩn trong lòng con người, những dục vọng thúc đẩy con người đến những hành động bạo tàn, vượt ra ngoài khuôn khổ của "tính người", những dục vọng xô đẩy người ta đến những tấn bi kịch thê thảm nhất.

Euripide đã để lại cho nhân loại những sáng tác mang ý nghĩa lớn lao, phản ánh cả một thời kỳ lịch sử đầy biến động mà trong đó chân dung con người thời đại nổi bật lên với những yêu thương, căm giận sôi sục nhất


Đọc trong kỳ tới :

PHẦN THỨ BA : HÀI KỊCH CỔ HY LẠP



© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 20.10.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com