ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ HỘI NHẬP VĂN HÓA



VŨ LƯU XUÂN


Tuy bài viết đề cập tới một trường hợp cụ thể của GHCG Miền Nam, nhưng trên hết vẫn là những suy nghĩ về vấn đề văn hoá nói chung, và văn hoá Việt Nam nói riêng.
Qua bài này, người viết tự đặt mình vào một góc nhìn riêng biệt, có thể chủ quan, bởi thế sẵng sàng đón nhận những ý kiến trái chiều.

VLX

Xin thú nhận, tôi không phải là người chuyên nghiên cứu về văn hóa, đồng thời cũng chưa bao giờ dám mon men viết về đề tài phức tạp này. Nếu hôm nay liều lĩnh xông vào lãnh vực rất dễ gây tranh cãi, thì cũng bởi một lý do chẳng đặng đừng:

Nguyên cách đây ít ngày, tôi có dịp tiếp xúc với vị ni trưởng lớn tuổi, hiện trụ trì tại một ngôi chùa thuộc trung tâm thành phố. Vị ni trưởng là người có trình độ, đã tốt nghiệp đại học chế độ cũ, và cũng từng xuất ngoại nhiều lần. Khi bàn về phong trào xây các ngôi thánh đường theo kiểu nhà chùa hiện nay, vị ni trưởng đã nói: “Có dư luận cho rằng nhà thờ xây giống chùa, trên có đóng cây Thập ác (sic.), phải chăng đạo Công giáo muốn thống trị thế giới (sic.)”. Nghe dư luận (xin miễn phê bình), được một vị ni trưởng có trình độ nhắc lại, tôi thật sự ngỡ ngàng và hoảng sợ. Về phần mình, tôi cố gắng giải thích đó là một ngộ nhận vô cùng đáng tiếc, việc xây nhà thờ giống chùa, chẳng qua chỉ thể hiện nỗ lực của Giáo hội Công giáo Việt Nam muốn tìm về dân tộc, trong chiều hướng hội nhập văn hóa. Vi ni trưởng trầm ngâm: “Nếu vậy, đó là cách hội nhập mang tính hình thức và hời hợt (sic.)”. Bà không giải thích tại sao gọi là hình thức và hời hợt, nhưng đã đặt ra cho giới Công giáo câu hỏi lớn phải được suy nghĩ rốt ráo: thế nào là một hội nhập đích thực?

Viết bài này, tôi không dám có tham vọng giải quyết câu hỏi trên, mà chỉ muốn gợi mở vấn đề, với một số suy nghĩ có thể đúng và cũng có thể sai, có thể cực đoan, lệch lạc, do đó sẵn sàng đón nhận mọi hồi âm cả thuận lẫn nghịch.

VĂN HÓA VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA

Hội nhập bao hàm động tác từ ngoài vào (nhập) và hòa chung (hội), hội nhập văn hóa tức là đem nền văn hóa của mình (ở đây là văn hóa Kitô giáo) từ bên ngoài, hòa chung vào một nền văn hóa đặc thù nào đó (ở đây là văn hóa Việt Nam). Hiện tại, hội nhập văn hóa được hiểu như cách thế giúp Giáo hội Công giáo Việt Nam từng bước trở về với dân tộc, do đó khái niệm hội nhập văn hóa thường xuyên được giới chức Công giáo nhắc tới.

Tại sao phải “trở về”? Tự thân từ này cũng đã có vấn đề cần suy nghĩ. Con cá không trở về với nước, mà sống trong nước. Con người (dù ly hương) không trở về với dân tộc (theo nghĩa bóng), mà tất yếu phải sống bằng tình tự dân tộc và trong lòng dân tộc. Sống bên lề dân tộc là một cách thế tồn tại bất bình thường. Như vậy, “Trở về” tự nó hàm chứa một qúa khứ lầm lạc, đã tách lìa, đã đứng ngoài, bên lề. Đây là một thực tế lịch sử không thể chối cãi, nó là hậu qủa tất yếu của đường lối truyền giáo sai lầm trong quá khứ, phát xuất từ cấp cao nhất trong Giáo hội, một Giáo hội khô cứng, phủ nhận sạch trơn mọi gía trị văn hóa Đông phương (Khổng học chẳng hạn), tất cả đều bị coi là tà thuyết, dẫn đến việc mất linh hồn. Rất may, cách nhìn phiến diện và lệch lạc trên đã được Công đồng Vatican II nhận ra, và cố gắng thay đổi. Tuy nhiên, phải thành thực nhìn nhận thực tế lịch sử đó (phủ nhận mọi hệ thống tư tưởng phi Kitô giáo) hôm nay có vẻ như đang âm thầm tạo ra một mặc cảm đáng sợ, luôn canh cánh đè nặng trong lòng giới chức Công giáo Việt Nam. Bởi vậy, mọi nơi, mọi lúc, mọi hành vi dù nhỏ nhặt, các vị đều cố tỏ ra đang “hội nhập”, nó giống như một phong trào, và cũng chính mặc cảm canh cánh bên lòng, dù không được minh nhiên nhìn nhận này, đã tạo nên kiểu hội nhập tràn lan, hình thức chủ nghĩa: nhà thờ phải làm giống chùa, thánh Giuse phải khăn đống áo dài, Đức mẹ phải để tóc đuôi gà, chít khăn vành rây, mặc áo tứ thân. (Có anh bạn từng đi du học Nhật Bản đã cười đùa: “Cậu ạ, bên Nhật, Đức Mẹ không biết mặc áo Kimônô, và Chúa Mẹ cũng chẳng sống trong chùa”). Thậm chí có vị chức sắc cấp cao, trong lúc tiếp đón phái đoàn nước ngoài đã cho hội đồng giáo xứ mặc áo thụng, khăn đống, xếp hàng mời khách trầu, rượu.

Hội nhập văn hóa chỉ đơn giản thế thôi ư? Qủa thật tôi từng gặp một vài vị có bề ngoài, với nhiều hành vi, ngôn ngữ rất hội nhập, nhưng trong lòng chẳng có chút gì là cốt cách hòa nhã, vui vẻ, hiếu khách, thứ căn tính của người Việt Nam. Theo tôi, muốn hội nhập, phải tìm cho ra cái cốt lõi của văn hóa Việt, và trước hết, thế nào là văn hóa?

A. VĂN HÓA, MỘT THỰC TẠI RẤT KHÓ HÌNH DUNG

1/ Từ một số định nghĩa

Văn hóa là một khái niệm trừu tượng, hầu như các tác giả từ điển chưa có một cách nhìn thống nhất. Xin đan cử:

-THANH NGHỊ trong Việt Nam tân từ điển (nxb Khai Trí, 1967) định nghĩa: “Văn trong nghĩa văn minh, hóa trong nghĩa giáo hóa. Nền giáo hóa theo cái văn minh mỗi thời đại”. Định nghĩa nghiêng về việc giáo hóa mọi mặt, giúp thay đổi làm cho đời sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Ở đây Thanh Nghị thuần chú trọng đến khía cạnh tinh thần.

-Từ điển tiếng Việt (Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 1988): “Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá trình lịch sử”. Định nghĩa nghiêng về những thành tựu tốt đẹp mà một dân tộc thủ đắc qua chiều dài lịch sử.

-Grand Dictionnaire Hachette encyclopédique (1996): “Ensemble des activités soumises à des normes socialement et historiquement différenciées, et des modèles de comportement à un groupe social donné” (Gồm chung mọi sinh hoạt bị chi phối bởi những quy tắc đã cá biệt hóa về mặt xã hội, lịch sử, và những cung cách ứng xử chịu ảnh hưởng của một cộng đồng xã hội nhất định). Định nghĩa quan tâm đến tính đặc thù.

-Webster’ new Twentieth century dictionary of the English language, 1970 đưa ra

8 định nghĩa, căn cứ ở từ gốc Latinh “Cultura”, có nghĩa là trồng trọt. Riêng định nghĩa thứ 8, liên quan tới chủ đề này:

The concepts, habits, skills, art, instruments, institutions etc. of a given people in a given period; civilization “ (Khái niệm, tập quán, tài khéo, nghệ thuật, công cụ, cơ chế v.v. của một dân tộc nào đó, trong một giai đoạn nào đó; cũng có nghĩa là văn minh). Định nghĩa chú ý tới các mặt sinh hoạt có tính cá biệt.

Riêng ĐÀO DUY ANH, (ĐDA) khi định nghĩa từ văn hóa đã dẫn Félix Artiaux: “Văn hóa, về phương diện động, là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng xã hội về kỹ thuật, kinh tế, tư tưởng, nghệ thuật, xã hội tổ chức, những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tình thì văn hóa là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định, và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy bày ra ở các xã hội loài người”, từ đó ông đi đến kết luận: “Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng : Văn hóa tức là Sinh hoạt” (Việt Nam Văn hóa Sử cương, ấn bản 1951, nxb Bốn Phương, trg.13), cũng vì thế, viết về Lịch sử Văn hóa Việt Nam, ông đã chia sách làm ba phần: 1. Kinh tế sinh hoạt – 2. Xã hội sinh hoạt – 3.Trí thức sinh hoạt.

2/ Rút ra

Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu văn hóa là toàn thể các sinh hoạt của một cộng đồng dân cư, chịu ảnh hưởng của môi trường sống, của lịch sử, của các trào lưu tư tưởng, (có thể là ngoại nhập), tạo thành một nét riêng giống như một lực tác động đặc thù, chi phối cung cách sống của mọi thành viên trong cộng đồng. Xin lưu ý một số điểm :

a/ Vì tính đặc thù của mỗi nền văn hóa, nên chúng ta có thể nói: Văn hóa phương Đông, Văn hóa phương Tây, Văn hóa Kitô giáo, Văn hóa Phật giáo, Văn hóa Khổng giáo, Văn hóa Việt Nam, Văn hóa Đông Sơn, thậm chí Văn hóa ẩm thực, Văn hóa ứng xử. Tuy nhiên quá chú trọng đến tính đặc thù của văn hóa, sẽ dẫn tới tình trạng phủ nhận mọi hình thức hội nhập và giao lưu, theo kiểu Rudyard Kipling “East is East, West is West, the twin never meets” (Đông là Đông, Tây là Tây, cả hai không bao giờ gặp nhau). Ngược lại, không quan tâm tới tính đặc thù, sẽ dẫn đến tình trạng hội nhập theo kiểu hình thức, tràn lan.

b/ Cũng cần lưu ý văn hóa tuy nội hàm rộng lớn, và chuyển biến qua thời gian, nhưng vẫn là sợi chỉ xuyên suốt cuộc sống của một dân tộc, nó khác với những hình thức biểu hiện của văn hóa, giống như lớp vỏ bọc, xuất hiện, phát triển, rồi lỗi thời và tất yếu bị đào thải theo thời gian. Thí dụ “Người Việt Nam xưa có tục vẽ mình (văn thân) có lẽ đến đời Trần tục này mới bỏ” (ĐDA, sđd, trg 23). Hoặc quan điểm trọng văn khinh võ của nền văn hóa phong kiến dẫn đến việc đàn ông để móng tay dài, búi tóc củ hành, mặc áo chùng. Hoặc nếu nói: lòng hiếu khách là văn hóa của người Việt Nam, thì “Miếng trầu làm đầu câu chuyện” là một trong những hình thức thể hiện, tuy nhiên đã qua rồi thời kỳ lịch sử của nó, nên không thể coi miếng trầu như đặc trưng vĩnh cửu của văn hóa dân tộc, dùng để mời khách nước ngoài, như một vị chức sắc cao cấp đã ngộ nhận.

c/ Khổng Tử nói: “Quân tử hòa nhi bất đồng”.Trần Trọng Kim giải thích: “người quân tử hòa chung với mọi người nhưng không a dua” (Nho giáo, quyển thượng, trg 98), cũng có thể hiểu theo một cách khác: người quân tử sống chan hòa mà không biến mình thành đồng nhất với người xung quanh. Diễn tả theo kiểu bình dân: hòa chung nhưng không hòa tan. Câu nói của Khổng Tử thể hiện cách thế hội nhập của một cá thể, tiêu biểu cho đạo đức Nho học (người quân tử) với tha nhân. Rộng hơn câu nói cũng thể hiện mối tương quan giữa các cộng đồng, tuy hòa mà vẫn giữ bản sắc riêng của mình. Như vậy, xin lưu ý: hội nhập văn hóa phải có chọn lọc.

B. VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Phát biểu cái nhìn bao quát về văn hóa Việt Nam (nếu hiểu như toàn bộ những sinh hoạt đặc thù, cả về vật chất lẫn tinh thần của dân tộc) trong phạm vi một bài viết là bất khả thi. Ở đây tôi xin giới hạn vào một số điểm nhất định, liên quan đến việc “Giáo hội Công giáo Việt Nam hội nhập với văn hóa dân tộc”. Tôi cũng xin lược bỏ thời kỳ cổ sử, thời điểm đó, lịch sử trộn lẫn với huyền thoại, và chúng ta có rất ít tài liệu chính thống, minh bạch, cho dù huyền thoại cũng là một diện mạo văn hóa rất đáng quan tâm.

Xin bắt đầu từ thời Bắc thuộc. Sĩ Nhiếp (136-266) khi làm thứ sử Giao Châu là một trong những người có công lớn trong việc đem học thuật Trung Hoa, cùng với Nho giáo và Lão giáo vào Việt Nam. Cũng khoảng thời gian này, Phật giáo Bắc tông, còn gọi là Đại thừa, theo con đường hoặc trực tiếp từ Ấn Độ sang Việt Nam, hoặc qua Trung Hoa tới nước ta. Phật giáo cực thịnh ở thời Lý, Trần, với các Thiền phái: Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Lâm Tế, Trúc Lâm. Nho giáo đi sâu vào đời sống chính trị, xã hội từ đời Trần, và cực thịnh thời Hậu Lê, Nguyễn, còn Lão giáo lúc nào cũng bàng bạc trong tín ngưỡng dân gian. Tuy có lúc thịnh, lúc suy, nhưng thực sự cả ba đạo đã hòa nhập làm thành hơi thở, máu thịt của người dân Việt Nam, theo tinh thần “Tam giáo đồng nguyên”.

Và điều kiện tiên quyết để hội nhập là: cả ba Tôn giáo ít nhiều đã biến tướng, mang mầu sắc bản địa. Xin chứng minh:

1/ Phật Giáo hội nhập

Nguyễn Lang (tức Hoà thượng Thích Nhất Hạnh) viết: “Đạo Phật thâm nhập vào đời sống tín ngưỡng dân gian ở Giao Chỉ, không gặp phản ứng và trở ngại, bởi lẽ những tín ngưỡng dân gian không chống lại những tín ngưỡng cơ bản của đạo Phật” (Việt Nam Phật giáo lược sử, Sài gòn, 1974).

Cụ thể hơn “Xét tín ngưỡng thông thường của tín đồ Phật giáo nước ta ngày nay thì khác hẳn đạo lý của Thích Ca truyền dạy. Về thuyết luân hồi họ tin rằng người chết thì hồn phải xuống địa ngục gồm có thập điện…Ở các chùa lớn thường có vẽ những hình phạt ghê gớm ở địa ngục gọi là tranh thập điện…” (ĐDA – sđd, trg. 214).

Trong thực tế, chúng ta thấy tại các ngôi chùa làng Dâu thuộc tỉnh Hà Bắc, trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam, ngay trong chánh điện, tượng Phật Mẫu Man Nương, tượng bà Pháp Vân (con Man Nương, chị cả trong Tứ Pháp) … được thờ chung với tượng Thích Ca, Quan Âm, Phổ Hiền, Văn Thù, Kim Đồng, Ngọc Nữ (hai nhân vật trong Lão giáo) và cả Mạc Đĩnh Chi (vị danh Nho đời Trần). (Xem Tìm hiểu làng Việt, Diệp Đình Hoa, nxb KHXH-Hà Nội, 1990).

2/ Nho giáo hội nhập

Nho giáo khi thâm nhập Việt Nam, tuy các Nho sĩ, đặc biệt thời Lê Nguyễn, chỉ bo bo tuân thủ từng câu từng chữ của Lý học nhà Tống, nhưng khi đi vào thực tiễn đời sống, cách áp dụng vẫn phần nào uyển chuyển. Chẳng hạn về quan hệ cha con, đạo “Tam cương”, Kinh Lễ (tức ba diềng mối giữ cho xã hội có trật tự, ổn định) quy định: “Cha bắt con chết, con không chết là bất hiếu” Trong khi đó, luật Gia Long, điều 288 quy định cha mà đánh chết con thì bị phạt 100 hèo. Trong Kinh Lễ, đạo “Tam tòng” của người phụ nữ được quy định một cách cứng ngắc: ở nhà tùy thuộc cha, lấy chồng tùy thuộc chồng, chồng chết tùy thuộc con, người chồng có phép “thất xuất”, tức 7 nguyên nhân được phép bỏ vợ, với luật này, người đàn ông có đủ các lý do để bỏ vợ một cách tùy tiện. Tại Việt Nam, cạnh phép “thất xuất”, luật Gia Long đặt ra phép “tam bất xuất” tức ba lý do người đàn ông không có quyền bỏ vợ, nếu cố tình vi phạm sẽ bị phạt nặng. Cũng luật Gia Long , người nào dùng lời lẽ thô tục, dâm đãng, bức tử phụ nữ sẽ bị tội giảo giam hậu. Nếu nói lời tục tĩu, dâm đãng, nhưng không cố ý làm nhục, mà khiến người phụ nữ vẫn xấu hổ, tự tử thì bị phạt đòn một trăm trượng, đầy đi ba ngàn dặm. Riêng luật Hồng Đức, trong trường hợp cha mẹ chết, cho phép người con gái trưởng có đủ các quan hệ nghĩa vụ về pháp luật và thừa tự, hương hỏa như một người gia trưởng.

3/ Lão giáo hội nhập

Lão giáo thực ra không phải một tôn giáo mà là một triết học, bàn về bản thể vũ trụ, từ đó rút ra một cách thế tồn tại: vô vi. Vô vi không có nghĩa là không làm gì, mà mọi hành động đều thuận theo lẽ tự nhiên, không xếp đặt, không trí xảo. Vì là một triết thuyết, nên khi đi vào đời sống, nó không mang một vóc dáng cụ thể, mà chỉ bàng bạc trong cách ứng xử của con người. Tệ hơn, nó rất dễ bị hiểu lầm, biến dạng và bị lợi dụng. Các nhà phương sĩ đời Lưỡng Hán đã biến nó thành đạo tu tiên, luyện thuốc trường sinh và bùa chú. Tiêu biểu là Trương Đạo Lăng thời Hậu Hán (Thế Kỷ thứ II).

Khi vào Việt Nam, Lão học hòa chung với tín ngưỡng dân gian, trở thành đạo của các thầy bùa, thầy pháp, ông đồng, bà cốt.

Nhìn chung, khi du nhập Việt Nam, một nước nông nghiệp, ba đạo đã tạo được điều kiện tiên quyết để hội nhập: mặc lấy chiếc áo bản địa. Có lẽ đây là một qúa trình dài và nhọc nhằn, không đơn giản như việc khoác cho Đức Mẹ chiếc áo tứ thân. Có thể nói, văn hóa bản địa, cùng với tam giáo đã tạo thành cốt cách của người Việt Nam: con người cần cù, hịếu khách, bao dung, sẵn sàng chấp nhận các hệ tư tưởng ngoại lai, đồng thời vừa có tinh thần tôn ti trật tự theo đạo Tam cương của Khổng học mà không khô cứng, vừa có chất giản dị, hòa ái của Phật giáo, lại vừa có phong thái thoải mái, lãng mạn, ung dung tự tại của đạo Lão.

4/ Còn Công giáo

Còn đạo Công giáo khi đặt chân đến đất nước ta thì sao? Giống như ở Trung Hoa, khi tới truyền giáo ở Đàng Trong từ 1615, các thừa sai dòng Tên, cụ thể là linh mục Buzomi có cái nhìn tương đối thoáng. Đối với việc thờ cúng tổ tiên của dân bản địa, có lẽ phát xuất từ câu “Sự tử như sự sinh” (Phụng sự người chết cũng như người sống) của Khổng Tử, được lý giải sát từng chữ, nên những nghi thức cúng bái hết sức chi li và phức tạp (Xem ĐDA, sđd từ trg 201-218), dù vậy, các thừa sai dòng Tên vẫn quan tâm phân biệt những nghi lễ xấu mang tính mê tín dị đoan, và những nghi lễ mang tính xã hội, vô thưởng vô phạt, thuần túy để tỏ lòng tôn kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thứ tình cảm bất kỳ dân tộc nào cũng có. Đây chính là nỗ lực đầu tiên của Công giáo trên đường hội nhập văn hóa Việt Nam, từ đó mở cửa cho Công giáo đi vào lòng dân tộc. Rất tiếc, sự phân biệt các loại hình nghi lễ này có tính tương đối, và dễ gây tranh cãi, chính bởi thế mà nhiều thừa sai sau này, kể cả dòng Tên (lm. Pina chẳng hạn), vì sợ sệt, lo xa đã loại bỏ tất cả. Đặc biệt với sắc chỉ Tòa Thánh 1742, mọi nghi lễ Trung Hoa, tức thờ cúng Không tử, ông bà đều bị cấm tuyệt. Và cánh cửa hội nhập được khép lại từ đây, và những hiểu lầm đáng tiếc, những nghi kỵ, phỉ báng, xuyên tạc với ác ý, những cuộc bách hại thảm khốc, kéo dài cũng phát xuất từ đây.

Như thế Giáo hội đã tự trói tay mình và bỏ qua nhiều cơ may, tạo nên trong lòng giáo dân tâm thức lạc lõng không đáng có, ngay ở trên quê hương mình.

Lướt qua hành trình truyền giáo tại Việt Nam, chúng ta có thể sơ bộ đánh giá công tác này. Vào những năm đầu, khoảng thế kỷ XVI, với các linh mục dòng Tên, trong số tân tòng, có thành phần hoàng tộc (cụ thể là bà Minh Đức Vương thái phi), có quan lại cấp cao, có hòa thượng uyên thâm, có nho sĩ trình độ, tất cả đều hợp thành cánh tay đắc lực giúp các thừa sai. Trong khi đó, từ khoảng thế kỷ XVIII, XIX trở đi, số trí thức vào đạo mỗi lúc một hiếm dần, tân tòng phần lớn là đám dân nghèo thiếu phương tiện sinh nhai, hoặc bị hào lý ức hiếp, họ chạy tới nương bóng nhà thờ, với mục đích nhờ vả, bởi thế việc truyền giáo đối với các thừa sai MEP trở thành một công tác tốn kém. (xem Lm Trương Bá Cần – Lịch sử Công giáo Việt Nam – Ngs. CG&DT). Nếu thời gian đầu, Công giáo được giới trí thức hưởng ứng, chắc chắn vì khả năng hội nhập với văn hóa bản địa. Trở ngại lớn trong việc theo đạo thời này là vấn đề đa thê. Từ thế kỷ XVIII, cụ thể với sắc chỉ cấm tiệt nghi thức Trung Hoa (1742), các thừa sai có thái độ tuyệt đối khắt khe với việc thờ cúng ông bà, mà các vị cho là mê tín dị đoan, thậm chí có vị, trước khi chấp nhận một làng vào đạo, đã bắt cư dân gom góp toàn bộ tượng Thần Phật đổ xuống sông, xuống biển.

HỘI NHẬP VĂN HÓA - MÊ CUNG LẠC LỐI ?

Việc cởi trói của Giáo hội chỉ bắt đầu với Công đồng Vatican II, từ đây giới Công giáo Việt Nam luôn quan tâm tới việc hội nhập. Nhưng thực sự lại đang rất lúng túng, thiện chí và nhiệt tình thì có, nhưng đi theo hướng nào, con đường hội nhập rất dễ khiến người ta lạc hướng, sa đà, nó giống như mê cung. Trước một thực tế phức tạp, có vẻ như giới lãnh đạo Công giáo thích chọn con đường dễ dãi: bê nguyên những hình thức, những vỏ bọc của văn hóa vào sinh hoạt Công giáo, mà không chú ý đến cốt lõi của văn hóa dân tộc. Có lẽ trên thế giới không nước nào hội nhập theo kiểu Công giáo Việt Nam. Trong Phật giáo, chưa từng thấy hình tượng Đức Thích Ca khăn đống, áo thụng, Phật Bà Quan Âm yếm đào, mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ qụa. Tuy vậy ai dám bảo Phật giáo không hội nhập. Ngay từ thuở đầu Phật giáo không hề bị khước từ, hơn nữa, nó đả trở thành một thành tố văn hóa, một phần mảnh hồn dân tộc. Trong khi đó Công giáo thì sao? Đức Mẹ mặc áo dài, chit khăn vành rây vàng, Chúa Hài Đồng mặc áo thụng hồng, đi hài đỏ, còn Bernadette mặc áo bà ba trắng, quần đen, nhác trông lại cứ ngỡ là chị Võ Thị Sáu. Chúng ta đang lấy cái áo làm thầy tu, lấy vỏ bọc làm cốt lõi. Làm vậy tưởng đã đủ rồi, và thế là xoa tay hả hê, đắc chí.

Xin trở lại vấn đề nêu lên ở phần đầu: Nhà thờ giống Chùa.

Xây Nhà thờ giống Chùa chắc chắn không nằm trong ý đồ thống trị, mà chỉ là một nỗ lực hội nhập có vẻ lạc điệu, bất thành. Nếu nỗ lực gây hiểu lầm là bởi chất Công giáo (tiêu biểu là cây Thánh giá) và chất dân tộc (thể hiện bằng hình tượng ngôi chùa) chưa hòa quyện được với nhau một cách tự nhiên, nó tạo nên một tổng thể làm chướng mắt, và dễ gây ngộ nhận. Hơn nữa chúng ta chưa chú ý đúng mức tới tính đặc thù của mỗi nền văn hóa.

Trong lời giới thiệu cuốn Việt Nam Danh lam cổ tự của Võ Văn Thuận, Hòa thượng Thích Minh Châu đã viết: “Một đặc tính nổi bật của kiến trúc Phật giáo Việt Nam là không có những công trình lớn lao đồ sộ, trái lại các chùa tháp đều có vóc dáng vừa phải, xinh xắn, nhẹ nhàng, thậm chí có khi nhỏ bé gần như cái cốc”.

Xin lưu ý, mỗi hình thái kiến trúc Tôn giáo đều mang theo một triết lý. Tôi không tìm được tài liệu nào nói về triết lý kiến trúc trong Phật giáo, nên đành đưa ra một cách lý giải chủ quan: Khi Phật giáo đặt chân tới nước ta, Việt Nam là một nước thuần nông nghiệp, đời sống còn lạc hậu, nhà cửa đều là nhà tranh, vách đất, ngay cả khi trình độ văn minh đã nâng cao, đời sống vật chất được cải thiện, thì kiến trúc vẫn bị chi phối bởi quy luật: “Trừ nhà quan, còn nhà dân thì không được làm to lớn, không được làm gác và không được làm chữ công và chữ môn “(ĐDA – sđd, trg 283). Như vậy, để hòa nhập, kiến trúc Phật giáo cũng mang theo hình thái xã hội, để dễ gần gũi với đời sống nhân dân: chùa thường thấp và nhỏ, như Hoà Thượng Thích Minh Châu đã viết ở trên. Đặc biệt ở nông thôn, nơi còn giữ được cái nguyên khí dân tộc, các ngôi chùa không phải là không gian khép kín, mà luôn rộng mở đón khách thập phương. Dù xa lạ, khách, giàu sang hay nghèo khó, đều có thể ăn một bữa cơm rau, uống một chén trà xanh, khề khà chuyện trời, chuyện đất với vị trụ trì, thậm chí dễ dàng xin tá túc qua đêm.

Trong khi đó, trong triết lý Kitô giáo, khái niệm “Nước Trời” là một thành tố vô cùng quan trọng, bời thế tháp chuông nhà thờ luôn vươn lên trời cao, để tiếng chuông, tượng trưng cho lời Chúa có thể vang vọng, thức tỉnh mọi người. Và nhà thờ luôn được xây trên một vị trí cao. Có thể nói, chiều cao mang tính chất quyết định trong triết lý kiến trúc Kitô giáo

Qua đó ta thấy: triết lý kiến trúc Phật giáo và Công giáo hoàn toàn khác biệt, và như vậy, chỉ có thể hòa mà không thể đồng, “hòa nhi bất đồng”. Lập lại ý cũ: hội nhập văn hóa phải có chọn lọc, tức là chọn những yếu tố tương đồng.

Đưa một hình thái văn hóa mới vào một cộng đồng, không có nghĩa là tự tách lìa, tự cô lập, mà chỉ có tác dụng làm giàu thêm cho văn hóa bản địa. Rõ hơn, đưa kiến trúc gotich và romain vào không gian Việt Nam, không đồng nghĩa với việc phủ nhận căn tính Việt Nam của người giáo dân, mà chỉ làm cho văn hóa bản địa thêm phần đa dạng và phong phú. Trong cuộc sống, còn gì buồn hơn sự đơn điệu, còn gì buồn hơn trăm hoa chỉ đua nhau nở ra cùng một thứ cúc vạn thọ. Văn hóa là hơi thở của cuộc sống, chừng nào chưa “sống văn hóa” thì mọi hành vi chỉ là hình thức, và đừng nói tới hai chữ “hội nhập”.

Đọc tới đây, chắc có người sẽ hỏi: quần thể nhà thờ Phát Diệm hoàn toàn kiến trúc theo lối Đông phương, tại sao vẫn được mọi người kể cả khách nước ngoài công nhận là một kiến trúc có giá trị thẩm mỹ. Xin thưa: cụ sáu Trần Lục vốn là người tinh thông Nho học, am hiểu dịch lý và thuật phong thuỷ. Thuật phong thủy trước hết là sự phối hợp hài hoà giữa thiên nhiên, không gian và kiến trúc, tạo cho con người sống ở đó cảm giác thoải mái, dễ chịu. Khu vực nhà thờ Phát Diệm địa thế rộng, đủ để cụ Sáu xoay xở, tạo thành một cảnh quan hài hoà. Còn chúng ta thì sao? Giữa lòng thành phố chật chội và đông đúc, yếu tố không gian đã chẳng có, lấy gì mà hài hoà, ta muốn nhà thờ ngoảnh sang đông, nhưng điều kiện địa thế lại bắt nó quay sang bắc, muốn nhà thờ ngoảnh sang tây, nhưng nó lại buộc phải quay về nam, loay hoay, lung túng, cuối cùng thì, nhà thờ giống như chiếc bát út nặng nề, đè nặng lên bộ mặt thành phố vốn đã quá nặng nề và bát nháo.

Và lời kết: Hội nhập văn hoá để đoàn kết dân tộc, tạo một không khí hoà hợp, thân yêu là cần thiết, nhưng không thể áp dụng những biện pháp dễ dãi, vụ hình thức, mà phải tìm về chiều sâu của bản chất văn hoá dân tộc, một bản chất không dễ định hình, nhưng suốt chiều dài lịch sử, nó vẫn thường xuyên chi phối mọi sinh hoạt của cộng đồng, cho dù ở một thời điểm nào đó, vì một lý do nào đó, nó bị phủ khuất bởi cách nhìn lệch lạc, phi văn hoá của một thành phần lãnh đạo thiếu ý thức, nhưng cuối cùng thì không một quyền lực nào có thể làm nó biến dạng và mai một.

Cuối bài, chúng tôi xin đặt một câu hỏi, để giáo dân và giới chức Công giáo miền Nam cùng suy nghĩ:

Tại sao những nhà thờ miền Bắc xây sau này lại không giống chùa, như các nhà thờ miền Nam quen làm


________________________________________________

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 19.10.2011.
Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .