Thông Điệp Trống Đồng










Ngày nay, nhiều công trình nghiên cứu về các thời kỳ phát triển văn hoá cổ Việt Nam và thời Hùng Vương (Nhà nước Văn Lang) đã dùng phương pháp khoa học tổng hợp đa ngành, nhất là khảo cổ học, đi đến nhất trí cơ bản.

. Văn hoá cổ Việt Nam thời kỳ Đồ Đá cũ: văn hoá Sơn Vi (20.000- 12.000 năm TCN).

. Thời kỳ Đồ Đá giữa: Văn hoá Hoà Bình (12.000- 10.000 năm TCN).

. Thời kỳ Đồ Đá mới: Văn hoá Bắc Sơn (10.000- 8000 năm TCN), Văn hoá Quỳnh Văn, Đa Bút (6000- 5000 năm TCN).

Thời kỳ Đồ Đồng, văn hoá dựng nước Văn Lang đã phát triển qua bốn giai đoạn lớn: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn.

Các di chỉ tìm được ở đồng bằng Bắc bộ giai đoạn Phùng Nguyên là kỹ thuật làm các loại đồ đá đạt tới trình độ “không tiền khoáng hậu”. Đồ gốm có một phong cách riêng nổi bật với kỹ thuật cao và qui mô lớn. Các dụng cụ lao động, đồ trang sức, săn bắn… bắng đá và gốm được làm bằng kỹ thuật cưa, khoan, tiện, mài, đánh bóng, ghè đẽo… Đặc trưng văn hoá Phùng Nguyên sớm nhất, khởi đầu dựng nước Văn Lang với nghề nông trồng lúa ở vào trình độ văn hoá, kỹ thuật không phải thấp.

Giai đoạn Đồng Đậu xuất hiện kỹ thuật đúc đồng thau, luyện hợp kim, tạo dáng và hoa văn trang trí công phu, tỷ mỷ, phóng khoáng, gần với sóng nước… Văn hoá Đồng Đậu đã kế thừa Phùng Nguyên và phát triển cao hơn với đồ gốm, đồ đồng.

Giai đoạn Gò Mun các công cụ đồng thau được đưa vào phát triển nghề trồng lúa. Đó là sự biến đổi mang tính “công nghiệp hoá” nghề nông. Đồ đồng, đồ gốm tinh xảo với các hoa văn hình học, thành những bộ đồ án mỹ thuật, cơ sở cho bước phát triển văn hoá tiếp theo.

Giai đoạn Đông Sơn, văn hoá Văn Lang phát triển cao nhất, rực rỡ nhất. Đồ đồng thau đạt trình độ cao, kỹ thuật tinh tế, nghệ thuật huyền diệu, mở rộng khắp miền Bắc Việt Nam và khu vực Đông Nam châu Á, miền Nam Trung Hoa… mà Trống Đồng là minh chứng rạng ngời.

Các di vật thuộc bốn giai đoạn văn hoá Văn Lang được tìm thấy trên đất Việt Nam có niên đại trải gần năm nghìn năm, do tộc Việt làm ra, khẳng định Nhà nước Hùng Vương “Bốn nghìn năm văn hiến” là có cơ sở khoa học.

Mật Mã Trống Đồng

Các dụng cụ nông nghiệp, săn bắn, đi biển, vũ khí, trang sức, sản phẩm công nghiệp và nghệ thuật bằng đồng của Tổ Tiên nhiều không kể xiết.

Trống Đồng Đông Sơn là một báu vật độc đáo đặc trưng của văn hoá đông Sơn, văn hiến Văn Lang, biểu trưng của văn minh Viêt cổ huyền diệu, linh thiêng, gửi những mật mã- thông điệp của Tổ Tiên truyền cho đời đời con cháu. Ngày nay, nhiều thế hệ, chúng ta phải nghiên cứu rất công phu, không ngưng nghỉ, và không dễ nhận biết.

Nghệ thuật Đông Sơn là một nghệ thuật bản địa. Phi Hoa. Phi Ấn. Nó được phát triển qua nhiều ngàn năm trên vùng đất mang tên bốn giai đoạn văn hoá Văn Lang. Trống Đồng Đông Sơn dù phát hiện ở Trung Hoa, hay bất cứ nơi nào, thì chủ nhân làm ra nó vẫn là tộc Việt sinh sống từ cửa sông Mã đến vùng rừng núi Thanh Hoá- Hoà Bình.

Đặc điểm nổi bật nhất của nghệ thuật tạo hình Đông Sơn là hình tượng con người chiếm vai trò chủ đạo trong thế giới muôn loài. Con người hài hoà với thiên nhiên. Thiên Địa Nhân hợp nhất.

Về thủ pháp nghệ thuật phong cách miêu tả con người và vạn vật được nhìn từ nhiều phía, nhiều chiều không gian, mà ta thường gặp trong các nền nghệ thuật cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà…

Nghiên cứu nghệ thuật Đông Sơn, đặc biệt là Trống Đồng, thể hiện mô hình phát triển nghệ thuật Đông Sơn từ tả thực ở giai đoạn sớm, chuyển sang khuynh hướng cách điệu, biến hình phức tạp, bí ẩn ở giai đoạn muộn.

Trống Đồng Đông Sơn- Một sản phẩm độc đáo và đặc trưng của văn hoá Đông Sơn:

Những năm 1920. Di tích văn hoá Đông Sơn bên bờ sông Mã được biết đến đầu tiên.

Những 1968- 1970. Tập thể các nhà khoa học Việt Nam công bố sách nghiên cứu Trống Đồng khẳng định “Trống Đồng Đông Sơn- Biểu trưng của văn minh Việt cổ- Văn minh lúa nước”.

Các nhà khoa học Việt Nam tràn đầy cảm xúc và trí tuệ khâm phục tài ba của Tổ Tiên. Những nhà luyện kim bậc thầy, nhà sáng tạo nghệ thuật điêu luyện, đầy bí ẩn, diệu kỳ đã đúc nên Trống Đồng Đông Sơn.

Thông báo khoa học của cố viện sĩ Phạm Huy Thông viết:

“Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nhiều năm đã mấy lần tìm cách thử đúc lại Trống đồng Ngọc Lũ, Đông Sơn, nhưng không thành công.

Quan sát nhữn vết đậu rót, con kê, những đường chỉ hàn, những dấu mài rũa, cắt gọt, còn để lại trên Trống Đồng, kết hợp với phương pháp thực nghiệm, phương pháp dân tộc học, đã biết được về cơ bản người xưa làm thế nào. NHưng khó biết được tay nghề đã được luyện thế nào để vẽ bằng tay những hoa văn phóng khoáng như thế, kín mạnh như thế, để rồi được đúc chìm, đúc nổi xen kẽ hài hoà?”

Đó là chưa kể đến nhiều bí ẩn khác. Như hợp kim? Tạo dáng? Hoa văn trang trí? Những ô vuông hay chữ nhật ở tang và trên mặt trống, bao giờ cũng là những vành chạy vòng quanh trống, ngược chiều kim đồng hồ? Những hoa văn hình học đơn giản, răng lược, răng cưa kết hợp với những vòng tròn và chấm tiếp tuyến? Những vòng tròn lồng nhau không tiếp tuyến?...

Nét đặc thù của hoa văn trang trí Trống Đông Sơn là hoa văn tả chân. Hình ảnh của thế giới, vũ trụ và của cuộc sống hiện qua lăng kình và bàn tay của người Đông Sơn. Nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật đồ hoạ trang trí, sử dụng cô đọng những đường cong, nét thẳng, tạo nên những hoạ tiết, những cảnh vật đẹp và sinh động.

Chiều hướng sơ đồ hoá rõ nét, hệ thống hoá, thành những phong cách cách điệu cao độ, có giá trị trang trí cao và tạo nên ấn tượng nhộn nhịp tươi vui. Nhãn quan nghệ thuật hiện đại dò xét di sản thẩm mỹ của dân tộc đã khám phá ra sức vút bay của cánh chim Lạc giang rộng, nhịp chuyển động mãnh liệt của vũ trụ Đông Sơn truyền xúc động mạnh mẽ.

Hoa Văn trên Trống Đồng Với Nền Văn Minh Lạc Hồng:

Tác giả Hồng Quang nhiều năm nghiên cứu hoa văn trên mặt Trống Đồng đã chứng minh bản sắc văn hoá, tín ngưỡng và tư duy triết học của nền Văn minh Lạc Hồng đã được Tổ Tiên khắc hoạ lại một cách đầy đủ, tinh tế và vô cùng sinh động trên các hoa văn ở trên mặt và tang các Trống Đồng.

Newton nhà bác học Anh thấy hiện tượng tự nhiên Quả táo rơi xuống đất đã tìm ra Định luật vạn vật hấp dẫn, một định luật vật lý cơ bản đầu tiên vĩ đại nhất ngự trị khoa học hiện đại hơn ba thế kỷ qua.

Các hoa văn quay ngược chiều kim đồng hồ là thành tựu của Trí tuệ Con Người. Là nền tảng cơ bản của thuyết Âm Dương. Theo thuyết Âm Dương nguyên nhân của sự vận động là do nguyên lý cân đối Âm Dương mà các hành tinh xoay trong Vũ trụ cùng một lúc có hai quỹ đạo. Một quĩ đạo vận động thẳng đều theo sức hút của hành tinh Tâm gọi là quĩ đạo Đà. Một qũi đạo vận động xuyên tâm tạo nên gia tốc quyết định trọng trường, từ trường của mỗi hành tinh gọi là quĩ đạo Thế để duy trì sự cân đối trong quá trình vận động theo các nguyên lý bảo toàn. Đó là nguyên lý Cân đối Âm Dương trong quá trình Tạo Hoá Xoay Vần.

Cấu trúc Ngôi Sao ở tâm Trống Đồng và các hoa văn, các vạch đứt nối trên mặt Trống Đồng Ngọc Lũ là một pho Kinh Dịch của nền văn minh Lạc Hồng, của Người Việt Cổ. Khái niệm “Dịch” của người Kinh nói lên quá trình chuyển hoá. Kinh Dịch là cuốn sách tổng kết sự vận động khách quan của tự nhiên.

Một Quyển Lịch Âm Cổ Xưa của Thế Giới:

Tác giả Lê Văn Siêu nghiên cứu những hình vẽ trên mặt Trống Đồng Ngọc Lũ là một quyển lịch Âm với số lượng những con gà, con hươu, con chim, bông hoa, cảnh hoạt động con người, hội hè theo tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông…

Nghệ Thuật Ca Vũ Trên Mặt Trống Đồng:

Sách Việt Lý Tố Nguyên của Triết gia Việt Nam Lương Kim Định (1914- 1997) chương “Sử điệp Trống Đồng” đọc mật mã Trống Đồng Đông Sơn, phát hiện Tổ Tiên Bách Việt là chủ nhân của bài “Nghê Thường Vũ Y Khúc” hiện rõ từng nét trên Trống Đồng.

“Nghê Thường Vũ Y Khúc” còn có tên là “Động Đình Hồ”.

Ca vũ là nét đặc trưng tràn ngập trên mặt Trống Đồng. Là triết lý an vi trong miền An Việt. Chữ Hoà hiện trong hoà âm, hoà tấu, hoà nhịp. Sự Hoà đó hiện xuyên qua biết bao nhạc khí khác nhau thuộc đủ loại: gõ, thổi, kéo, hình ảnh to, nhỏ, cao thấp, có vũ khí kèm.... Sự đa tạp phong phú chỉ càng làm cho cuộc hoà tấu trở nên sống động, sôi nổi.

Vũ nói lên cuộc sống vui tươi nhảy nhót, hứng khởi, chuyển động đầy sức lôi cuốn. Vũ chính là Đạo. Là sự chuyển nhập tiết nhịp Trời đất vào Thân Tâm. Cảnh con người nhảy múa từng đôi, đánh sênh khua phách vang lừng bên các con vật ngâm vịnh, những đàn chim ca hát là bức tranh vui nhộn mênh mông, đầy hạnh phúc, lộc, thọ, khang ninh khó tìm thấy trên thế gian.

Tên các bài vũ trên Trống Đồng là Hàm Trì, Động Đình Hồ.

Hàm Trì nghĩa đen là “ao ngậm” cái hữu hạn (ao) ngậm cái vô biên (vầng nhật).

Động Đình Hồ là bài ca vũ được ca múa chào Mặt Trời, người Việt cổ đã hát trên bờ Động Đình Hồ. (*)

Động Đình Hồ còn có nghĩa là cái ao tròn bên cái nhà vuông, hiện trên mặt Trống Đồng và diện khắp nơi trên đất nước Việt Nam hiện nay.

Minh Triết Trống Đồng- Hoạ Đồ Tâm Linh Dân Tộc Việt:

Cổ thư Việt đã bị quân xâm lược phương Bắc cướp hết. Sau này Ông Cha ta đã thông thái chuyển những thông điệp của Tổ Tiên qua cổ tích, huyền thoại, bia, cổ vật, đình, chùa, đền, miếu, quách, lăng, mộ, chiếu, sắc… cho con cháu.

Sử sách cổ Trung Hoa thế kỷ III TCN đã đề cập đến Trống Đồng của Việt tộc, tuy với ngụ ý xuyên tạc văn hoá, nhưng đã nói lên sự sở hữu của Việt tộc về Trống Đồng.

Năm 43. Mã Viện đánh Trưng Nữ Vương đã thu hết Trống Đồng đúc ngựa và mang Trống Đồng về nước.

Xuyên suốt lịch sử Âu Lạc, Trống Đồng được tôn là Thần Trống Đồng tiêu biểu cho Tâm linh dân tộc Việt. Các triều đại đều thờ và tế Trống Đồng.

Trống Đồng là Tiếng Vọng của Linh Hồn Việt (Kim Định) bao phen làm cho kẻ thù khiếp sợ:

Bóng lèo gươm sắc lòng thêm đắng

Tiếng rộn Trống Đồng tóc đốm hoa

(Trần Lương Trung, sứ nhà Nguyên sang nước ta)

Nghiên cứu các hình ảnh nghệ thuật trên mặt Trống Đồng thấy ẩn tích Văn hoá tộc Việt. Là tác động công án Thiền Tâm Linh của Đạo Việt, nhiệm màu của Trời Đất trong vũ trụ.

Mặt Trời ở trung tâm trống trùng hợp với quốc hiệu xưa của nước ta là Xích Quỉ, Viêm Việt. Xích là lửa đỏ. Viêm là xứ nóng.

Vật biểu Chim hiện hình ảnh con người hoá trang bằng lông chim. Đàn chim như Tiên bay múa theo chiều tay trái là Con Rồng Cháu Tiên bay lượn trên cánh đồng lúa nước từ thời tiền sử Văn hoá Hoà Bình.

Đoàn người chim, hươu, nai trên các vòng Trống Đồng đều đi về phía trái, ngược chiều kim đồng hồ. Việt tộc trọng phía trái có nghĩa là trọng tình cảm, cảm xúc, sự tương giao, hoà hợp, hay tình yêu thương của con người với thiên nhiên, vạn vật. Đó là sức sáng tạo từ trực giác tâm linh của Tổ Tiên. Thắp đôi cánh Tiên bay lượn trong cõi vô cùng, nên thấy ngay cái chân lý tâm linh tả nhậm của bản thể vũ trụ, nhân sinh, trong khi khoa học mò mẫm bằng lý trí phải mất mấy ngàn năm, mà cũng chỉ tìm thấy những mảnh vụn tách rời của tấm hoạ đồ bí mật sự sinh tồn của vũ trụ.

Từng đôi nam nữ, cặp con đực, con cái, là hoà âm của tính lưỡng hợp giao hoà. Là hình ảnh từng nhịp đôi của văn hoá Việt, biểu lộ tâm thức hai chiều. Hình ảnh này ta còn thấy ở những hòn sỏi có hai dấu vạch song song, thuộc Văn hoá Bắc Sơn 5000 năm TCN.

Địa vị con người là chủ nhân trong vũ trụ. Mọi người vui sống, giã gạo, nhảy múa, hát vang trời dậy đất trong cuộc diễu hành về hướng trái để hội nhập với lửa mặt trời thiêng của vũ trụ.

Minh triết Thái Hoà trên mặt trống là mười sáu vòng bao gồm ba nhóm của Trời- Đất- Người.

Bức tranh hoạ đồ Tâm Linh Việt khắc ghi trên mặt trống là cả một nghệ thuật sống của đạo lý Việt hiển hiện một chữ Hoà thật lớn lao.

Minh triết Hoà bộc lộ rõ ràng. Mặt Trời ở giữa trung tâm là Hoà Trời là Hoà với nguồn ánh sáng Mặt Trời nuôi dưỡng vạn vật, sự sống muôn loài, sưởi ấm Mặt Đất. Những vòng người Hoà cùng thú vật hiền lành bé nhỏ, chính là Hoà với Đất. Giữa cảnh Hoà Trời Đất Thiên Nhiên ấy, Con Người Hoà với Con Người.

Mặt Trống Đồng diễn tả cảnh Con Người Hoà Trời Đất, Vạn Vật làm nên cuộc đại diễu hành thiêng liêng bất tận:

Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh

Trời- Đất- Ta đây một chữ đồng

Triết lý nhân sinh, Minh triết tộc Việt, hàng chục nghìn năm TCN Tổ Tiên ta gửi cháu con. Ngày nay, không một lý sự nào thay thế nổi. Không phải học đâu xa. Không cần nhiều lời. Minh Triết Việt là Đạo Việt định ra Con Đường Tiến Hoá của giống nòi Việt Nam.



(*) Sách Lĩnh Nam Chích quái liệt truyện- Truyện Hồng Bàng ghi: “Nhà nước Văn Lang: Đông giáp Nam Hải (nay là Quảng Đông- Trung Quốc) Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên- Trung Quốc) Bắc đến Động Đình Hồ (nay thuộc Tỉnh Hồ Nam Trung Quốc) Nam đến nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

Giáo sư, Bác sĩ Trần Đại Sỹ (Trường Y khoa Arma-Paris, Giám đốc Trung Quốc sự vụ Viện Pháp- Á ) dịp khai giảng niên khoá 1991- 1992 tại Viện Pháp- Á đã công bố nghiên cứu khoa học của ông bằng cổ sử, triết học, khảo sát địa lý, di tích các vùng trên tại Trung Quốc, và hệ thống ADN, Trần Đại Sỹ xác định biên giới cổ của Việt Nam đúng như Truyện Hồng Bàng ghi.

Động Đình Hồ cái nôi của Việt tộc. Cho tới Bắc thuộc lần I, từ phía Nam sông Dương Tử xuống là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt (không cùng hệ thống AND với người Trung Quốc).


 Hồ Gươm Thiêng    
   Mùa Hoa Cúc 2011      

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 13.10.2011.
. TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM và VIETVANMOI.COM .
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com ;