ĐỜI LÝ
NƯỚC TA ĐÁNH TỐNG HAI LẦN



- Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
- Một trăm năm đô hộ giặc Tây…

Trong suốt một ngàn năm qua 3 thời kỳ Bắc thuộc, dân tộc ta nuốt căm hờn, nén thương đau mà Phật hoàng Việt Nam Trần Nhân Tông viết trong bài thơ:

- “Tịch hiệp thiên hà tẩy chiến trần”

Có nghĩa là: Kéo dài cả dải ngân hà về để rửa sạch mọi oán hờn, khổ đau và mâu thuẫn từ chiến tranh.

Vì thế chúng ta rất hãnh diện vì dưới triều vua Lý Thái Tông (1028-1054) – triều vua kế nghiệp vua cha Lý Thái Tổ đã ban chiếu dời đô từ Hoa Lư đến Thăng Long – nước ta đã hai lần đem quân đánh nhà Tống.

LẦN THỨ NHẤT: NÙNG TRÍ CAO

Thổ dân vùng Cao Bằng, Lạng Sơn là người sắc tộc Thái (Tày), có tù trưởng họ Nùng. Lý Thái Tổ phong Nùng Tồn Phúc trị nhậm châu Thảng Do, em là Nùng Tồn Lộc quản châu Vạn Nhai, em vợ là Dương Đạo trị châu Vũ Lạc.

Năm 1038, Nùng Tồn Phúc bất mãn với nhà Lý, giết chết hai em, chiếm đất và xưng là Chiêu Thánh Hoàng Đế, đặt tên nước là Trường Sinh, đắp thành luyện quân, không chịu nộp cống cho vua Lý Thái Tông.

Năm 1039, Lý Thái Tông thân chinh đi đánh. Nùng Tồn Phúc nghe tin đem cả bộ lạc, vợ con trốn vào núi thẳm. Quân Lý đuổi đánh, bắt được Tồn Phúc và con Trí Thông mang về chém. Nùng Trí Cao là con Tồn Phúc chạy thoát.

Năm 1041, Nùng Trí Cao trở về chiếm cứ châu Thảng Do, tự xưng là vua nước Đại Lịch. Lý Thái Tông cử binh đi đánh, bắt sống được Trí Cao đem về kinh sư. Biết rõ việc cai trị người Thái phải dùng người Thái, mà dân Thái vùng này vẫn tôn trọng họ Nùng nên không giết Trí Cao, mà lại cho về giữ châu Quảng Nguyên và châu Tư Lang (Trùng Khánh). Tình hình tạm yên một thời gian. Năm 1044, Trí Cao về chầu vua ở Thăng Long.

Năm 1048, Trí Cao lại làm phản, chiếm động Vật Ác, tây bắc Cao Bằng. Lý Thái Tông sai quân đi đánh, Trí Cao xin hòa, hứa không mở mang bờ cõi trên đất nhà Lý mà chỉ đánh chiếm sang đất Tống.

Sau Nùng Trí Cao quay sang đánh Tống, chiếm đất An Đức dựng nước Nam Thiên, lại được các người cùng sắc tộc Thái ở Lưỡng Quảng theo phò, nhất là thổ hào cùng họ Nùng là Nùng Trí Trung, Nùng Kiến Hậu liên kết.

Năm 1052, Nùng Trí Cao đánh chiếm trại Hoành Sơn, rồi tiến vào Ung Châu, giết tri châu Trần Cung, tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam, niên hiệu Khải Lịch. Nùng Trí Cao tiến đánh thêm các châu ở Quảng Đông, Quảng Tây, rồi đánh thành Quảng Châu, nhưng không phá được. Sau đó lại vào Châu Ung đánh giết, các tướng Tống đều bị đánh thua. Thế quân của Nùng Trí Cao lên mạnh, triều đình nhà Tống lấy làm lo.

Năm 1053, Tống Nhân Tông sai Địch Thanh là tướng giỏi, nhiều kinh nghiệm, đem quân đi đánh khiến quân Nùng Trí Cao tan vỡ, các tướng đều tử trận, Trí Cao yếu thế, chạy sang nước Đại Lý – mà dân cũng cùng sắc tộc Thái. Vua Đại Lý phần sợ nhà Tống, phần e ngại Trí Cao anh hùng sẽ tranh quyền cướp nước mình nên lừa bắt giết Trí Cao, chặt đầu đóng hòm đem dâng vua Tống. Sau khi Nùng Trí Cao bị diệt, quan quân nhà Lý thu hồi đất cũ.

LẦN THỨ HAI: LÝ THƯỜNG KIỆT (1019 – 1105)

Danh tướng, đại thần nhà Lý, tên thật là Ngô Tuấn, được ban quốc tính, mang họ vua, do đó có họ tên Lý Thường Kiệt, làm Thái Úy, trải ba triều vua Lý Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông. Ông là vị thái giám đầu tiên của các vương triều Việt Nam có công đức và đóng góp cho đất nước.

Năm 1075, để gỡ cho tình trạng khó khăn, Vương An Thạch tâu với vua Tống là Đại Việt bị Champa đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể lấy được để chiếm đoạt của cải. Vua Tống sai Thầm Khởi ngầm dấy binh, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, tích trữ lương thực, đồng thờ cho sứ sang dụ người Champa và Chân Lạp cùng tiến đánh nước ta.

Vua Lý biết tin - lại được Lý Thường Kiệt bàn rằng: “Ngồi im đợi quân giặc đến mới đánh, không bằng ra quân trước, chặn thế mạnh của giặc. Đây là biện pháp phòng ngự tích cực nhất” – Vua nghe theo, liền sai Thường Kiệt và Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh.

Chiếm Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu:

Lý Thường Kiệt chỉ huy quân thủy cùng voi chiến đi đường biển từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm; Tôn Đản vây châu Ung. Ngày 30-12-1075, quân Nam tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, Liêm Châu cũng thất thủ.

Khi được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, nhà Tống rất hoang mang, lo ngại, các tướng ở địa phương bối rối. Vua Tống thay tướng làm kinh lược sứ Quảng Tây, chỉ huy kháng cự.

Trên các mặt trận, quân Lý hoàn toàn làm chủ. Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía bắc, kéo thẳng lên Ung Châu. Đây là một thành kiên cố, do tướng Tô Giám cố thủ, dù được cứu viện, quân Tống giữ thành được hơn 40 ngày. Sau cùng, quân Lý dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành nên thành bị hạ vào 2 ngày sau.

Thường Kiệt phá xong thành Ung Châu, lại lấy đá lấp sông, ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía bắc đánh chiếm thành Tân Châu. Cuộc Bắc phạt đã làm Vương An Thạch phải từ chức, cuộc xâm lược của chúng phải chậm lại do tiền đồn ở Ung Châu bị phá tan, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương thảo.

Trận Như Nguyệt và Chiến tranh Tâm lý:

Tháng 3 - 1076, nhà Tống sai Quách Quỳ đem quân, hẹn với Champa và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt, nhưng quân hai nước này không dám tiến vào Đại Việt. Quân Tống viễn chinh khí thế rất mạnh mẽ.

Tuyến phòng thủ của quân Nam, Lý Thường Kiệt dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở, các sông rộng và sâu. Về đường thủy, để chặn địch qua sông, quân Nam chỉ cần đóng thuyền ở bến Lục Đầu thì đi đường nào cũng rất tiện và chóng.

Năm 1077, quân Tống tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đinh, tới bờ sông Như Nguyệt (sông Cầu, khúc xã Như Nguyệt, huyện Bắc Ninh). Vua Trần Nhân Tông sai Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống. Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Nam tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống. Địch chặt gỗ làm máy bắn đá sang như mưa, nhiều thuyền của ta bị thủng nát, binh sĩ chết hại tới vài ngàn.

Để giữ vững tinh thân quân đội, Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích lệ tinh thần quân Nam chiến đấu, bí mật sai người đêm vào trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát (là tướng của Triệu Quang Phục có đền thờ ở bên bờ sông Cầu) ngâm to bài “Nam quốc sơn hà” do Thường Kiệt viết:



    Nam Quốc Sơn Hà

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta ai nấy đều phấn khởi, nức lòng đánh giặc.

Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp viện. Quân Nam lại tập kích, doanh trại bị phá, quân Tống 10 phần chết đến 6,7. Nhưng quân Tống cũng giết được hoàng tử quân Nam là Hoàng Chân và Chiêu Văn…

Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Nam bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin “nghị hòa” để quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân.

Năm 1078, vua sai Đào Tông Nguyên đi sứ sang Tống dậng 5 con voi và xin Tống trả lại các đất đã bị chiếm và người đã bị bắt. Bên Tống trả lại tù binh và các châu Tư Lang, Tô Mậu. Năm 1079, triều đình ta trả tất cả 221 tù binh bị bắt trước kia về Tống, nhà Tống mới chịu trả châu Quảng Nguyên, tuy vẫn tiếc vì có nhiều khoáng sản quý.

Năm 1084, vua Lý Nhân Tông sai Lê Văn Thịnh sang Tống bàn việc cương giới, sau khi phân giải mọi lẽ, nhà Tống trả nốt cho ta mấy huyện còn giữ lại trước đây có tranh chấp. Từ đấy bang giao tốt đẹp. Năm 1087, Tống Triết Tông lên ngôi năm trước, gia phong Lý Nhân Tông làm Nam Bình vương.

TÓM TẮT

Dưới thời vương triều Lý, nước ta đã hai lần đem quân sang đánh nhà Tống. Đặc biệt, chiến thắng Như Nguyệt đã đè bẹp ý chí xâm lược của phong kiến phương Bắc - Chính nhờ bài thơ “Thần” bất hủ: Nam quốc Sơn hà (được coi là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của Việt Nam) nhà Tống còn tồn tại trên 200 năm nữa ờ Trung Quốc, nhưng chúng đã không dám xâm phạm đến bờ cõi nước ta nữa. Đọc đến đây, chúng ta càng hãnh diện với hai Chiến công lừng lẫy dưới đời nhà Lý - Hai lần duy nhất trong lịch sử Việt Nam – Nước ta đã dám tiến đánh nhà Tống khổng lồ thắng lợi, nên nhân dân ta hào hứng có câu ca dao:

Nhìn xem châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.

Và cùng ca bài hát – lời mới của bài “London Bridge”, như sau:

Đời Lý hai lần đánh sang Tống
Chấu đá xe, ai dè (xe) nghiêng
Trí Cao, Thường Kiệt kinh hoàng (vua) Tống
Đại Việt sáng ngời!


___________________________________

(Tham khảo: các tài liệu Lịch sử Việt Nam và trên Internet)

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 14.10.2011 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com