NHÀ NGÔN NGỮ HỌC
AVRAM NOAM CHOMSKY

Avram Noam Chomsky sinh ra trong một gia đình trí thức Nga gốc Do Thái. Cha ông là William Chomsky, di cư sang Mỹ năm 1913, là một học giả tiếng Hebrew. A. N. Chomsky sinh ngày 07.12.1928, tại East Oak Lane, vùng ngoại ô Philadelphia, bang Pennsylvania. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1945, Chomsky học triết học , ngôn ngữ học tại đại học Philadelphia.

Trong quá trình nghiên cứu “Phương pháp ngôn ngữ học cấu trúc” của Harris, Chomsky đã tìm ra phương pháp hình thức hóa chúng một cách triệt để. Năm 1955, ông có công trình Cấu trúc lô gích của lý thuyết ngôn ngữ dày trên 900 trang. Chương Phương pháp phân tích biến đổi của sách này được đệ trình làm luận án tiến sĩ. Phương pháp biến đổi của A. N. Chomsky khác với phương pháp biến đổi của Z. Harris ở điểm căn bản sau: Quy tắc biến đổi của Harris là hai chiều, nghĩa là nếu cấu trúc A biến đổi thành cấu trúc B thì B cũng biến đổi thành A ( A « B). Với Chomsky chỉ có biến đổi một chiều. Qua giới thiệu của M. Halle và R. Jacobson, Chomsky được phân dạy tiếng Pháp và tiếng Đức cho cán bộ khoa học-kỹ thuật ở học viện MIT(Massachusetts Institute of Technology). Năm 1961 ông được phong giáo sư Khoa ngôn ngữ hiện đại và ngôn ngữ học (nay là Khoa ngôn ngữ học và triết học). Ông đã dạy ở MIT suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Năm 1957 nhà xuất bản Mouton ở Hà Lan in cho ông quyển Syntactic Structures. Robert Lees, một học trò của ông, đã viết một bài dài hơn 30 trang giới thiệu và bình luận quyển sách này trên tạp chí Language (1960). Cho đến nay, đây là công trình của N. Chomsky được nhiều người biết nhất.

Những công trình ngôn ngữ học của N. Chomsky đã ảnh hưởng rất lớn tới ngôn ngữ học thế kỷ 20, tới tâm lý học và những hướng phát triển cơ bản của nó trong thế kỷ 20. Chuyên gia về khoa học máy tính Donald Knuth qua việc đọc sách Syntactic Strctures của Chomsky và qua lý thuyết toán học về các ngôn ngữ nảy ra hàng loạt điều trực cảm giúp ông viết ra những chương trình máy tính vào năm 1961. Niels K. Jerne, nhận giải Nobel Y học 1984, đã dùng mô hình tạo sinh của N. Chomsky để giải thích hệ thống miễn dịch của con người. Ở Đại học Columbia , khi nghiên cứu sự tiếp nhận ngôn ngữ loài vật của con tinh tinh (chimpazee) người ta thấy rằng năng lực ngôn ngữ bẩm sinh chỉ có ở loài người. Họ bèn lấy tên N. Chomsky để đặt cho hiện tượng này: Nim Chimpsky.

Vài năm trước đây, trong một cuộc bình chọn 11 người xứng đáng đứng đầu một nhà nước toàn cầu (global government), ông được xếp hạng 4, sau Nelson Mandela, Bill Clinton và Đạt-lai Lạt-ma. Ngày 18.10. 2005, theo cuộc bầu chọn những người trí tuệ trên thế giới do tạp chí Prospect của Anh thực hiện, Noam Chomsky được bầu là “người có trí tuệ nhất thế giới”.

Ngữ Pháp Tạo Sinh

Chomsky coi khoa học là những nghiên cứu giải thích Cách nghiên cứu ngữ pháp của A. N. Chomsky được gọi là ngữ pháp tạo sinh ( GG: generative grammar), Nó dựa trên những nghiên cứu công phu về ranh giới giữa những cấu trúc ngữ pháp và phi ngữ pháp trong một ngôn ngữ. A. N. Chomsky dựa trên những quan sát kỹ lưỡng một số lượng khổng lồ các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau suốt từ 1949 đến nay. Vì những lý do ngữ dụng các nhà ngôn ngữ học thường nhấn mạnh tới tiếng mẹ đẻ của họ hay ngôn ngữ mà họ chịu ảnh hưởng, như Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch, Ý, Nhật, Trung Quốc… khi giải thích và phát triển lý thuyết này.

Qua công trình được nghiên cứu nhiều ngôn ngữ trên thế giới, nhà ngôn ngữ Joseph Greenberg cho rằng, có loại hình về trật tự từ. [Greenberg, 1966] Cách tiếp cận của N. Chomsky lại theo hướng đưa ra giả thuyết bẩm sinh ngôn ngữ . Trẻ em được giả định là có năng lực bẩm sinh (innate knowledge) về những cấu trúc ngữ pháp cơ bản chung cho các ngôn ngữ tự nhiên. Tri thức bẩm sinh này thường mang tên ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar). Đó là một ngữ pháp hình thức có “tính tạo sinh” (productivity): Với một tập hữu hạn các quy tắc ngữ pháp và một tập hữu hạn các từ ngữ, con người có thể tạo ra vô hạn các câu, kể cả các câu mà chưa bao giờ họ nói hoặc nghe thấy.Cơ chế này được những người bản ngữ kiểm chứng qua thời gian, từ 1949 đến nay

Theo nhà nghiên cứu nổi tiếng theo trường phái Chomsky là Richard Kayne:”tất cả các ngôn ngữ đều có cấu trúc chìm” (underlying structure) theo trật tự S – V – O [ Kayne, 1994],

Năm 1979 A. N. Chomsky trình bày tại Hội nghị ngôn ngữ học thế giới GLOW (Generative Linguistics in the Old World ) diễn ra ở Đại học Sư phạm Pisa (Ý) cách tiếp cận P&P về ngôn ngữ, báo cáo này thường mang tên The Pisa Lectures, sau này được gọi là lý thuyết G&B (Chi phối và Gắn kết - Government and Binding theory).

Năm 1993 N. Chomsky có bài "A minimalist program for linguistic theory", in thành sách The Minimalist Program [MP -1995]. Chương trình MP nhằm phát triển lý thuyết ngữ pháp. Trong MP, Chomsky đưa ra hai luận điểm cơ bản. Sự tiết kiệm trong quá trình tạo câu (derivation) và sự tiết kiệm trong quá trình biểu hiện câu (representation). Điều này thể hiện rõ trong cấu trúc câu của tục ngữ các nước. Theo Chomsky, điều quan trọng đối với một công trình khoa học là luận giải tường minh. Khoa học nói về những điều rất đơn giản và đặt ra những câu hỏi hóc búa chưa có những câu trả lời thỏa đáng.







© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 13.10.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com