MẬT TÔNG TÂY TẠNG



Đại cương

Mật Tông Tây Tạng là một biến thể của Phật Giáo khi đã hội nhập đã chuyển hóa theo tôn giáo bản địa. Theo những tài liệu sử sách tại đây thì trước khi Phật Giáo Đại Thừa du nhập và đất Tây Tạng thì trên đất nầy vốn đã có một tôn giáo riêng, mang dấu ấn của Thần Giáo. Tôn giáo nầy chứa đầy những huyền phép đặc biệt, mang tính chất bí ảo, mà ít người có thể hiểu biết, chuyên thờ cúng và hành trì những hiện tượng siêu hình như thuật khinh thân, bói toán, tàng hình; đứng đầu là những vị pháp sư.

Theo họ thì những mãnh lực huyền bí vẫn tồn tại trong vũ trụ và những nhà tu hành phải vận dụng đủ cách để chế ngự và điều động cho được những mãnh lực siêu nhiên nầy. Khả năng chế ngự đến mức độ nào là tùy theo trình độ tu luyện của họ. Huyền học bao trùm tôn giáo bản địa.

Về sau, vì những khó khăn trong việc ứng xử và hành trì, cho nên đã có những tranh chấp và phân ly thành hai khuynh hướng tăng sĩ Huyền Môn lẫn tín đồ. Họ đưa ra những lý giải riêng có khi mâu thuẫn nhau trên nhiều địa hạt. Những cuộc tranh luận giữa hai nhóm thường được tổ chức công khai hay trong hành trì. Cả hai đều tìm cách để bành trướng trong việc lôi cuốn tín đồ cũng như ảnh hưởng đến chính quyền. Điều nầy đã gây ra những đổ vỡ trầm trọng trong tôn giáo nguyên thủy của Tây Tạng.

Từ đó nẩy sinh ra Chân Giáo và Huyền Giáo. Chân Giáo muốn đi vào cuộc sống thiết thực để hướng dẫn cuộc sống; trái lại Huyền Giáo thì đi sâu vào việc nghiên cứu các hiện tượng siêu hình mà họ cho là đã điều khiển linh hồn mọi người. Nhiều giai thoại về sự tranh chấp nầy vẫn được truyền tụng cho đếnnay, mà họ cho là chính danh và tà thuyết.

Chính quyền đã tìm cách để hoà giải hay đúng ra là lợi dụng những rạn nứt nầy để dễ bề thao túng.Cuối cùng thì những nhà tu hành theo Chân Giáo đã bỏ nước đến Ấn Độ để nghiên cứu thêm. Tại đây, họ đã gặp các tăng sĩ Phật Giáo và tiếp thu những tinh hoa của tôn giáo nầy. Với họ, đây là điều may mắn. Có nhiều vấn đề trước kia không thông suốt, quán triệt được, thì nay giáo lý nhà Phật đã giúp cho họ giải toả. Khả năng tiếp thu tôn giáo của họ vươn cao lên, để thoát khỏi những lẩn quẩn trong hiểu biết siêu hình.

Nhiều vị còn lưu lại để nghiên cứu và hành trì; trong khi đó nhiều vị đã trở về Tây Tạng để truyền bá tư tưởng mới. Họ vận dụng Phật Giáo hoà nhập tinh thần dân tộc để truyền đạo. Từ cách tu hành cho đến việc giảng dạy cho tín đồ, họ đã dùng những phương thức mới lạ, mà trước đây chưa phát triển tại Tây Tạng.

Chẳng bao lâu, ảnh hưởng của tôn giáo nầy bành trướng mau lẹ. Lạt Ma Giáo (Lamaism) ra đời từ đó. Tôn giáo nầy cũng đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi. Trong giai đoạn đầu, họ tìm cách hoà hợp Phật Giáo với những nguồn tín ngưỡng bản địa.

Nhưng về sau, thông qua kinh điển, họ đã cải cách dần dà từ nền tảng Phật Giáo. Kinh sách ngày càng nhiều, tăng sĩ đào tạo ngày càng đông, cho nên tín đồ gia tăng nhanh chóng. Đã có những thay đổi lớn lao so với tôn giáo cổ truyền ở Tây Tạng.

Theo nghiên cứu của Lạt Ma Lobsang Rampa thì: Nếu tôn giáo cổ của Tây Tạng chuyên về những phép thuật Thần Thông, Ma Thuật, Huyền Học, xem đó là nền tảng chính yếu, thì đằng nầy Phật Giáo chỉ coi đó là những phương tiện trong việc tu hành nếu có, chứ không là cứu cánh giải thoát con người. Mà đã là phương tiện thì chỉ ứng xử trong một mức độ nào đó, sẽ bỏ đi. Còn nếu cứ xem phương tiện là cứu cánh, thì điều nầy chỉ là trở ngại lớn lại trói buộc mức độ tu hành mà thôi.

Những danh tăng của Lạt Ma Giáo có công trong việc canh tân tôn giáo nầy để trở nên vững chắc như hiện nay thì phải kể đến công trình của đức Milarepa và Tsong Khapa. Nếu đức Milarepa đi sâu vào việc nghiên cứu những vấn đề thuộc luận lý học Phật Giáo thì đức Tsong Khapa lại nghiên cứu về lãnh vực tâm lý học, luân lý học và siêu hình học. Sự hoà hợp nầy đã khiến cho Mật Tông Tây Tạng trở nên uyên áo hơn.

Hiển Tông và Mật Tông

Pháp môn tu học trong đạo Phật rất nhiều vô lượng. Sở dĩ có nhiều vô lượng như thế là vì căn tánh của chúng sanh bất đồng. Người ta liên tưởng đến hình ảnh về thân thể của con người mang nhiều chứng bệnh khác nhau, cho nên y sĩ dùng các loại thuốc khác nhau để chẩn trị mới hiệu nghiệm được. Đức Phật đã thấu rõ nguồn cội căn tánh của mỗi chúng sanh cho nên Ngài giảng dạy vô lượng pháp môn tu để có thể thích hợp từng căn tánh của mỗi một chúng sanh,ngõ hầu ai nấy đều thích ứng được, có thể tiến triển trên con đường tu hành của mình để Giác ngộ, Giải thoát.

Pháp môn tu học lưu hành rộng rãi phải nói đến pháp môn Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Về Mật Tông tại Việt Nam cũng đã có một thời phát triển và lưu lại nhiều huyền thoại: tăng sĩ Khâu Đà La tu tại chùa Dâu đã độ cho nàng Man Nương, thiền sư Nguyễn Minh Không thuộc dòng thiền Vô Ngôn Không đã trị bệnh kỳ diệu cho vua Lý Thần Tông...

Trong sách sử hành đạo của các cao tăng thiền đức thường nói đến "Thiền, Tịnh song tu" tức là ngoại hiện thiền tướng, nội hành tịnh độ; hay là "Thiền, Mật kiêm trì" nghĩa là ngoại hiển mật hạnh, nội tâm hành thiền; hoặc "Thiền hiển, Mật tàng" tức là ngoại hiện thiền tướng, nội tâm tu Mật chú. Trong lúc Thiền Tông và Tịnh Độ Tông được lưu hành khắp các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam thì Mật Tông đã trở thành pháp môn tu hành truyền thống của các nước Tây Tạng, Mông Cổ và trong thời gian gần đây đã được phổ biến đến các nước Âu Mỹ qua các nhà sư Tây Tạng. Pháp môn tuy nhiều, tùy lúc mà nói, nhưng mục đích vẫn chỉ là làm thế nào để đi vào biển viên mãn, cho nên trở về chỉ là Nhất thừa. Hiển Tông và Mật Tông đều gồm thâu cả tánh và tướng.

Nghĩa lý Hiển Tông chia ra làm năm thời, tóm lại là Tô Đạt Lãm (tức là Kinh). Mật Tông gồm ba bộ tạng, riêng gọi là Đà Ra Ni (Thần chú). Người học Hiển Tông cho rằng: Không, Hữu, Thiền, Luật có những khác biệt, nhưng cứu cánh, viên lý cũng chỉ là một. Còn người học Mật Tông thì lấy: Đàn, Ấn, Chữ, Tiếng làm phép tắc, nhưng phương thức đều nhắm vào Thần Tông, bí áo.

Hiển Giáo (Sutra Path) thường được gọi là Tịnh Độ Tông là phương pháp tu hành gồm có: đọc kinh, tụng điển, lễ Phật, cúng dường.Tịnh Độ Tông chú trọng đến việc tụng kinh, niệm Phật, đễ cho nhất tâm bất loạn, để lúc lâm chung cầu cho trở về cõi Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Ngoài việc niệm Phật, Tịnh Độ Tông còn khuyên dạy chúng sanh quan tâm đến việc thanh lọc những hành động thuộc Thân, Khẩu, Ý, sống theo hạnh nguyện chân chính, thường xuyên phát triển đức Từ Bi, Hỷ Xã, thường hoạch cát tường, viễn ly khổ ách.Tịnh Độ Tông được phân chia làm hai thừa là Đại Thừa (Mahayana) và Tiểu Thừa (Hinayana).

Các nhà tu hành nhấn mạnh đến hai phép tu nầy chỉ là hai giai đoạn cần thiết trong việc tu hành, tự lợi, lợi tha, chứ không hề có chuyện mâu thuẫn nhau, nghịch lý nhau. Mật Thừa (Tantra Path) còn gọi là Mật Tông, cũng chỉ là một phương pháp tu hành mà đức Phật muốn dắt dẫn chúng sanh đến con đường Giác ngộ và Giải thoát.

Một khi đã được Giác Ngộ và Giải thoát thì có thể tiếp tục tu hành, để hoàn thành con đường Bồ Tát Đạo trở lại cõi Ta Bà để độ chúng sanh như hạnh nguyện của đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã từng làm.Tuy có sự phân chia như thế, nhưng thật ra, tất cả chỉ là phương tiện, từng giai đoạn, để tiến hành trên con đường duy nhất: giải thoát. theo những kinh điển của Mật Tông, nếu đi theo con đường Hiển Tông thì phải trải qua vô lượng kiếp tu hành thì mới có thể đạt đến quả vị Phật, nhưng nếu theo con đường của Mật Tông thì có thể đạt đến quả vị Phật ngay trong một kiếp.

Cũng vì lý do nầy cho nên nhiều người cho rằng con đường tu hành theo Mật Tông là con đường ngắn nhất. Tuy vậy, những không phải bất cứ người nào cũng có thể tu hành theo Mật Tông vì phải trải qua muôn ngàn khó khăn, chỉ giành cho chư vị Bồ Tát, chư vị Tổ sư có công phu tu hành vô cùng tinh tấn thì mới tu tập để chứng quả được. Ở những nước phương Đông, do phong tục, văn hoá và tín ngưỡng, hầu hết mọi người đều xem cái chết chẳng qua chỉ là một sự chuyển tiếp trong muôn ngàn kiếp của con người.

Tùy theo nghiệp quả màcon người đã gieo trong kiếp nầy và trong vô vàng kiếp trước, mà sau khi chết con người sẽ đầu thai vào một kiếp tốt hơn hay xấu hơn. Có thể lên Niết Bàn, hoặc xuống ngục A Tỳ, chịu những trừng phạt của Diêm Vương. Bánh xe luân hồi không chỉ xoay vần trong vài ba kiếp, mà cứ mãi vần xoay miên viễn, cho đến khi linh hồn tu luyện đạt đến độ đạt đến mức giải thoát ngũ uẩn, lục căn, được xem là thoát khỏi vòng luân hồi, không còn trong vòng sinh tử, chuyển kiếp nữa.

Với nhận thức nầy, mọi người phải ra sức tu luyện, học hỏi giáo pháp, làm điều thiện, để được chứng quả. Theo hạnh nguyện của một số người, sau khi đắc quả, vẫn quay trở lại trần gian theo Bồ Tát Hạnh để dẫn độ chúng sanh. Có nhiều vị Phật vì xót thương chúng sanh ngụp lặn trong mê mờ, đã chấp nhận hoá thân. Mật Tông là con đường tu chứng hết sức linh thiêng và huyền diệu trong các pháp môn tu học Phật Giáo, với những năng lực huyền diệu mang tính bí hiểm.

Những vị Tổ sư của Mật Tông như Marpa và Milarepa đều nhấn mạnh đến ý nghĩa của công năng trì tụng Thần Chú, như là phương tiện cần thiết nhất để đi đến giác ngộ toàn chân. Từ trước đến nay, theo truyền thống Mật Tông Tây Tạng được kiến tạo trên nền tảng truyền thụ khẩu quyết giữa chân sư và đệ tử, cho nên sự truyền bá cũng hạn chế. Hầu hết những khẩu quyết nầy được giữ gìn bí mật, như một yếu quyết, không muốn phổ biến sâu rộng. Vì trước khi bước vào ngưỡng cửa nầy phải đi qua phần căn bản giáo lý Tiểu Thừa và Đại Thừa với ấn chứng vững chắc.

Khẩu quyết nầy tương tự như công án (Koan) của Thiền tông, là cánh cửa mở vào Mật Tông; hành giả phải trì tụng thuờng xuyên, quán chiếu nội tâm, để dần dà phá vỡ màn vô minh bao trùm các giới. Với những trở ngại như thế, cũng như trong Thiền Tông, hành giả cần có vị chân sư hướng dẫn, chỉ điểm và giải thích khó khăn trong việc hành trì.

Mật Tông không thể tiến hành tu tập sau khi hiểu qua một ít kinh sách, đọc vài câu Thần chú, biết vài ấn quyết là đủ. Sự kinh diệu là ở hành trì. Hơn thế nữa con đường tu hành khắc kỷ nầy đòi hỏi sức chịu đựng lâu dài, thân thể khoẻ mạnh, tập trung tư tưởng cao độ thì mới khai mở Phật nhãn được. Thiếu những yếu tố nầy, khó lòng đạt được mức ứng ngộ cao, đi thẳng vào thực tướng các pháp. Thành thử một khi đã bước vào tu hành Mật Tông, các vị chân sư thường khuyến khích hành giả nên tuân thủ pháp tắc thật nghiêm minh, tôn trọng giới luật, hiểu biết sâu rộng để hành trì. Mỗi khi thiện niệm được khai mở, quán chiếu vào mọi pháp, thì ngõ vào Mật Tông được khai thông.

Những lãnh vực của Mật Tông

Thực ra Mật Tông không vận dụng triệt để những tư tưởng Phật Giáo trong cách tu hành và liễu ngộ. Điều học được của Phật Giáo là quan tâm đến việc tìm đường giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi; tuy nhiên, vốn ứng dụng những phương pháp cổ truyền, cho nên những danh tăng Mật Tông vẫn dùng phương tiện để đạt đến sự giải thoát trên căn bản huyền học, đầy chuyện bí mật.

Qua những công trình phát huy tôn giáo nầy của đức Milarepa, những tín đồ Mật Tông được phân chia là làm 2 loại: tu sĩ và Lạt Ma. Tu sĩ là những tín đồ chỉ hành trì theo một số giới luật nhất định. Họ có thể lập gia đình và tu hành trong khả năng hữu hạn. Còn Lạt Ma phải tuân thủ nhiều giới luật ràng buộc hơn, sống theo nếp đạo hạnh thuần nhất để đi đến giải thoát.

Về sau, do sự thay đổi lớn trong pháp môn tu tập. Mật Tông lại được phân chia ra làm nhiều Giáo phái khác, thậm chí có Giáo phái được liệt vào "ngoại đạo" nhưng lại ảnh hưởng rất lớn; nổi tiếng hơn hếtlà 3 Giáo phái: Giáo phái Số Luận (Samkyas), Giáo phái Thắng Luận (Vaisheshikas) và Giáo phái Huyền Học (Charvaka). Mật Tông có nhiều phương thuật tu luyện đặc biệt do những vị ẩn tu phát kiến; điều nầy đã khiến cho người Tây Phương xem là huyền thuật, khó tin, thậm chí là siêu phàm nữa. Chẳng hạn như khinh thân, tàng hình, dùng Thần Nhãn, khắc kỷ, cùng các phương thuật phát triển Thần Nhãn.

Theo Mật Tông, khi con người tu luyện đạt đến cảnh giới nào đó trong lối tu trì, họ sẽ có nhãn quan siêu phàm gọi là Thần Nhãn. Trong danh từ "Thần nhãn" thì từ "Thần" có nghĩa là phi thường, khác thường, liễu ngộ. Thông thường những tu sĩ nầy thường vận dụng Thần Nhãn của mình để soi sáng được cảnh giới vô hình. Nếu cả hai đều dùng Thần nhãn để liên hệ với nhau thì gọi là "Thần giao cách cảm".

Đạt được Thần Nhãn, có nhiều mức độ khác nhau và đạt được kết quả khác nhau. Chẳng hạn như có người dùng Thần Nhãn để xem tiền kiếp của mình hay của người khác. Lại có người dùng công năng Thần Nhãn trong việc trị bệnh. Với họ, bệnh tật là do vướng mắc của linh hồn. Cởi bỏ vướng mắc tức là lành bệnh.

Tuy nhiên với những đạo sĩ Mật Tông, việc khai mở Thần Nhãn phải được tiến hành thận trọng, nếu sai lầm hay với dụng tâm bất chánh nào đấy, thì hậu quả không biết đâu lường nổi, thậm chí bị tẩu hỏa nhập ma. Đa số đạo sĩ dùng Thần Nhãn để quán kiến nội tâm trong phép tu hành mà thôi. Với họ đây là phương tiện tốt nhất trong việc chiếu kiến của Thần Nhãn.

Những kinh điển chính của tôn giáo cổ cũng như Huyền Môn sau nầy ở Tây Tạng thường đề cập sâu rộng những vấn đề siêu hình, tâm linh, những bí cấp và pháp thuật Thần Thông, Thần Nhãn, soi hồn, những cõi vô hình một cách tự nhiên với nhiều huyền thoại mà người đời thật khó tin. Tuy nhiên, với họ vẫn là những phép mầu, linh thiêng, không thể coi thường được. Khi đề cập đến, họ thường tỏ vẻ trang nghiêm, tôn kính. Những vị chân tu Tây Tạng tin rằng: "Những sự kiện nầy xẩy ra trong mọi nơi, trong mọi cõi đều là những hiện tượng siêu nhiên, huyền bí, tuy nhiên không phải là chuyện khác thường".

Nhưng những nhà nghiên cứu Tây Phương thì lại giải thích bằng cung cách khác, dựa vào yếu tố Cảnh quan học và Thần linh học. Họ cho rằng: Vùng đất Tây Tạng nằm trên vị trí cao nhất thế giới, quanh năm tuyết phủ, cây cối khó mọc được là nơi thuận lợi nhất để kết tụ những hiện tượng siêu hình. Nhiều quốc gia khác không hội đủ điều kiện nầy cho nên các nhà nghiên cứu tại đó đã nhìn về Huyền Học Tây Tạng bằng nhãn quan khác lạ. Khoa học thực nghiệm thì lại càng xa xăm, ngờ vực hơn. Đây là vấn đề thuộc tâm linh, mà xứ sở Tây Tạng thì dễ tiếp cận hơn vùng đất nào khác trên thế giới.

Huyền Học Tây Tạng giải thích các vấn đề bằng con mắt siêu thần linh khác lạ. Chẳng hạn: họ giải thích rằng: Con người thực tạilà một phức thể bao gồm nhiều thể chất khác nhau. Qua cảnh giới siêu hình thì mỗi thể loại tương ứng với một cõi khác. Xác và Vía là hai thể đối lập, cho nên thể xác thì tương ứng với cõi Trần Gian, thể Vía thì tương ứng với Thân Trung Ấm (Bardo). Điều nầy được trình bày khúc chiết trong Tử Thư.

Trong Mật Giáo có nhiều phương pháp hành trì và tu luyện khác nhau, tuy nhiên đa số đều sử dụng những loại Thần chú, ấn quyết, Mạn Đà La... để có thể nhiếp phục được thân tâm của mình trong những nghịch cảnh của đường tu tập. Họ cũng thường dùng đến sức mạnh của nội tâm và ý lực tự cường để trấn áp tà ma, quỷ mị, nghiệp chướng, cho đến khi nào có thể đắc Định Tuệ, khai Pháp Nhãn. Khi đó sẽ hoàn toàn làm chủ Thân và Tâm; đó là bước khởi đầu trên con đường tinh tấn tu hành của Mật Tông.

Một khi đã khai mở Định Tuệ của mình rồi, nhưng nếu người tu hành đã không phát triển những hạnh nguyện rộng lớn và cao cả hơn, thì cũng khó để có thể tiến xa hơn.Xác lập được hạnh nguyện rộng lớn của mình rất quan trọng, vì nhờ đó, có thể thoát khỏi vòng vô minh, mê muội, phá trừ được ngã chấp, khai thông Trí Tuệ. Bắt đầu bước vào con đường tu tập, đòi hỏi một khả năng tu hành, trì giới thật nghiêm nhặt. Sau đó, tìm một không gian tĩnh mịch để thiền định.

Trong những tu viện Tây Tạng ngày trước thường xây những mật thất bằng đá khép kín, để giới tử có thể thực hành việc thể nghiệm trong giai đoạn đầu nầy. Một khi vị Tu sĩ (Trappa) đã phát nguyện là sẽ nhập thất trong một thời gian nào đó, thì vị sư trưởng sẽ trắc nghiệm khả năng, đồng thời bố trí để giới tử có thể tiến hành việc tu tĩnh. Hàng ngày sẽ có vị Giám sự theo dõi và trình lại cho sư trưởng biết được những chuyển biến. Có người nhập thất trong ba tháng, sáu tháng, có khi đến ba bốn năm. Sau khi hết thời gian chứng nghiệm nầy, giới tử có thể rời mật thất. Nhưng nhiều vị khi hoàn tất tu thiền nầy, lại xin trở lại tiếp tục, vì họ thấy hoàn cảnh ở đó thuận lợi cho việc thoát ly những vướng bận của hoàn cảnh chung quanh. Tuy ở trong mật thất để Thiền định, nhưng các tăng sĩ nầy có thể phóng ra bên ngoài những tư tưởng tốt lành để hộ trì cho kẻ khác.

Cũng có vị sau khi hoàn tất thiền định trong mật thất, lại tiến xa hơn bằng cách tìm đến những hang cốc lạnh lẽo trong rừng núi, hay ngồi thiền trên tuyết lạnh, hết năm nầy sang năm khác. Ngoài ra cũng có nhiều vị sau khi kết thúc thời gian Thiền định lại trở về cuộc sống bình thường để nhập thế độ sanh.

Trong việc tu luyện nầy, vai trò của những vị sư trưởng rất quan trọng. Sư trưởng của Mật Giáo không phải là một chức vị được đề cử sau khi tốt nghiệp kỳ thi Lạt Ma. Chức vụ nầy đòi hỏi một công phu tu hành lâu ngày, kiên định vững chắc và qua một thời kỳ Điểm Đạo (Initiation). Điểm đạo ở đây theo đúng lễ nghi và pháp tắc, khác với những hình thức Điểm Đạo hàng chục ngàn Phật tử tham gia tùy tiện như thường thấy tổ chức đại trà tại Hoa Kỳ trong những năm gần lại đây.

Giới tử trong khi tu tập, ngày đêm kiên trì giữ vững tư tưởng của mình. Trong những sách vở bí truyền của Giáo phái Bon Pa Tây Tạng, con người có 3 nguồn năng lực là tư tưởng, dục vọng và hành động thì tư tưởng quan trọng hơn hết.

Tư tưởng chế ngự dục vọng và hướng dẫn hành động theo con đường chính đáng theo Phật dạy. Tu tập nghiêm trì chẳng những tạo được công hạnh trong kiếp nầy mà ảnh hưởng về những kiếp sau nữa. Sự tái sanh của các Lạt Ma thường được giải thích theo chiều hướng nầy.

Kinh Đại Nhật (Mahavairocana Sutra)

Đại Nhật là bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tôn. Đại Nhật được dịch từ chữ "Đại Tỳ Lô Giá Na" (Mahavairocana), nguyên nghĩa là "đại giải thoát" hay "đại giác ngộ". Đại Nhật cũng được gọi là "ánh sáng mặt trời". Đây là sự sáng chói do công năng tu hành đạt được. Màn vô minh sẽ bị đẩy lùi, sức sáng trí tuệ lan toả. Toàn bộ kinh hướng về trọng tâm nầy.Kinh điển Nhật Bản gọi là "đạo bồ đề"; Kinh điển Trung Hoa dịch là "đại chứng quả". Những ý niệm nầy có điểm tương đồng về mục đích cuối cùng của tu chứng.

Bộ kinh nầy dày đến 14 cuốn, được phân chia làm 123 chương, đại cương trình bày 2 vấn đề chính: vấn đề lý thuyết (50 chương đầu) và vấn đề thực hành (73 chương). Tuy nhiên hai phần bổ sung cho nhau và vấn đề nghiên cứu phải đi từ đầu.

Những vấn đề căn bản của kinh Đại Nhật: Nghiên cứu những vấn đề chính trong kinh Đại Nhật, phải đi từng phẩm một. Những phẩm nầy có những liên hệ với nhau. Hành giả phải tiến theo từng bước. Có theo trình tự, mới quán triệt ý nghĩa. Không thể tách từng phần để hiểu ngang và điều nầy là chướng ngại trong học đạo và tu trì.

Những phẩm chính là:- Pháp Tam mật- Chưng ba kiếp- Sáu Vô úy- Đàn pháp Mạn Đà La. Mỗi phẩm lại còn chia thành nhiều vấn đề nhỏ. Đại Phật Kinh kiến giải bằng mật ngôn, nên gây trở ngại không ít về dịch thuật. Thành thử nhiều tác giả đã hiểu sai lầm hay sơ sót, thiếu nghĩa. Ngài Long Thọ, vị Bồ Tát đã được truyền thụ đầu tiên và nhiếpđịnh kinh nầy đã nhận thức rằng: " Hành giả! Đại Nhật Kinh vốn là vua trong Đại Thừa; trong giáolý Mật Tông, đây là những lời Tối Mật". Thành thử trong những bản văn nghiên cứu Kinh Đại Nhật ở Trung Hoa và Nhật Bản, vì hiểu được tánh chất của Mật ngôn, thường khởi đầu bằng câu "Có thể hiểu như vầy", để tỏ rõ sự hiểu biết giới hạn về từng câu kinh của Đại Nhật.

Pháp Tam mật: Tam mật gồm có Thân mật, Ngữ mật và Tâm mật. Phàm người tu hành theo kinh điển nầy phải dùng đến 3 phương tiện tối mật nầy để tạo thanh tịnh cho 3 Nghiệp là Thân Nghiệp, Khẩu Nghiệp và Ý Nghiệp. Nhờ đến cố gắng để bảo vệ 3 Nghiệp, sẽ nhận được sự gia trì do Tam mật của đức Như Lai. Thành tựu được phápmôn nầy sẽ được đắc quả Giải thoát, Giác Ngộ, không phải trải quanhiều kiếp sống để tu tập cho đủ các hạnh khác.

Chứng ba kiếp: Bên cạnh pháp môn Tam mật, Giáo lý về ba kiếp,là phần quan trọng trong bộ Kinh nầy. Trong Kim Cang Thừa, tu Thiền Định có thể vượt qua những vọng chấp, thoát khỏi 160 Tâm và các loại phiền não, tức là vượt qua được A Tăng Kỳ Kiếp thứ nhất. Sau đó hành giả vượt qua vọng chấp vi tế của 160 Tâm: đó là ATăng Kỳ Kiếp thứ 2. Sau cùng, nhờ công năng tu hành, vượt qua được những vọng chấp còn lại, vứt bỏ được 160 Tâm, gạt được phiền não, để đạt được Sở Tâm của Trí Tuệ Phật. Nhờ Thiền định, hành giả có thể đẩy xa các phiền não đen tối, các u ám vây quanh, đạt đến sự sáng suốt của Tâm Bồ Đề.

6 Vô Úy: gồm có Thiện Vô Úy, Thần Vô Úy, Vô Ngã Vô Úy, Pháp Vô Úy, Pháp Ngã Vô Úy và Nhất Thiết Pháp Tự Tánh Bình Đẳng Vô Úy. Trong Thiện Vô Úy, phải giữ vững Ngũ giới, làm 10 điều lành (Thập Thiện), sẽ tránh được những khổ não trong ba cõi ác (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh). Khi thực hành Thân Vô Úy, thì suy tưởng đến sự dơ bẩn của thân, vứt bỏ hết cái Ngã thường tình, trần tục, không còn chấp trước đến cái ngã của mình nữa.

Thực hành Vô Ngã Vô Úy tức là quán tưởng thân xác của mình là chẳng qua là sự kết hợp của Ngũ Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Thực tập Thiền định để quán tưởng về tự tánh của Tâm, thoát tham, sân, si, tâm không phiền não, thân không kiêu căng, con người vốn chỉ do tứ đại hợp thành. Pháp Vô Úy tức là quán đến ngũ uẩn đều là không, các pháp uẩn đều trống rỗng, các hình tướng đều không có thực. Pháp Vô Ngã Vô Úy là quán về ba cõi do Tâm tạo nên. Ngoài Tâm ta ra, thì không có pháp; khi đó chính Tâm ta cũng rỗng không. Nhờ quán tưởng đến lý vô thường nầy, hành giả sẽ đắc quả Bồ Tát.

Nhờ Thiền định, có thể thấy rõ bản chất của Tâm, đạt được "cái dụng tự tại" của Tâm. Nhất Thiết Pháp Tự Tánh Bình Đẳng Vô Úy giúp ta hiểu rằng: các pháp đều do nhân quả tuần hoàn lưu chuyển mà sanh ra, không hề có tự tánh. Các tánh đều có chung một tự tánh: đó là Không tánh. Phàm những người tu theo hạnh Chơn Ngôn (trì tụng Thần Chú), sẽ đạt được trạng thái thật của Bồ Đề Tâm, vạn vật đều là như huyễn.

Đàn pháp Mạn Đà la trong kinh Đại Nhật Kinh Đại Nhật còn chỉ rõ những nhận định cần thiết trong việc lập Đàn pháp Mạn Đà La. Mạn Đà La được thực hiện trong Lễ Quán Đảnh, là hình tượng cao nhất để biểu hiện sự Giác Ngộ, Giải Thoát của chư Phật. Khi thực hiện Mạn Đà La, chỉ có những vị Kim Cang Sưmới đủ khả năng và đạo hạnh để thực hiện. Không thể tùy tiện sáng chế ra Mạn Đà La.Trong lễ Quán Đảnh, dựng Mạn Đà La lên, phải chọn đất và làm lễ Trí Địa (Earth Healing). Lễ Trí Địa nhằm mục đích "thanh tịnh hóa" vùng đất đó trước khi tổ chức Lễ Quán Đảnh. Nhờ vậy, tăng thêm phần uy nghi của cuộc lễ. Sau việc chọn đất là chọn ngày lành. Việc nầy phải lễ kính đến các Địa Thần phù trì.

Như thế việc chọn lấy thời gian và không gian để tổ chức lễ Quán Đảnh, thực hiện đàn pháp Mạn Đà La rất quan trọng. Những vị Đạo sư chủ lễ Quán Đảnh tập trung Thiền định và quán tưởng đến 5 vị Thiền Na Phật (Djinas). Đó là chư vị: Đức Đại Nhật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) ngự ở trung tâm, đức A Súc Bất Động Như Lai (Aksobhya), ngự ở phương Đông, đức Bảo Sanh Nhật Lai (Ratsa Sambhava) ngự ở phương Nam, đức Vô Lượng Quang A Di Đà Như Lai (Amitabha) ngự ở phương Tây và đức Bất Không Thành Tựu (Amoghasidhi) ngự ở phương Bắc.

Trong đàn pháp nầy thường có rất nhiều loại Mạn Đà La khác nhau, như: Đại Mạn Đà La, Tam Muội Gia Mạn Đà La, Pháp Đại Mạn Đà La,Yết Ma Mạn Đà La. Những Mạn Đà La có thể vẽ bằng những hạt cát có nhuộm màu; có loại được vẽ bằng sơn màu. Những giới tử trong buổi lễ thường được vị Kim Cang Sư chủ lễ trao cho sợi chỉ Kim Cang màu đỏ hay màu vàng. Có người được đón nhận lấy cây xỉ mộc hay đóa hoa khô.. Sợi chỉ màu tượng trưng cho 5 vị Thiền Na Phật. Cây xỉ mộc và đoá hoa khô được gieo vào nơi hành lễ của giới tử. Khi cây xỉ mộc hay đoá hoa khô rơi vào 1 trong 5 phương hướng nào, tương ứng với 5 vị Thiền Na Phật kể trên, thì giới tử đó sẽ nhận vị Thiền na Phật đó làm Bổn Tôn. Sau nầy sẽ thờ cúng và trì tụng vị Thiền Na Phật đó.

Buổi lễ Quán Đảnh được kết thúc bằng lễ Hộ Ma. Hộ Ma có nghĩa là giải trừ các chướng ngại, khai mở Trí Tuệ Thậm Thâm.

Đạo sư Kim Cang hay Kim Cang Sư

Trong Kim Cang Thừa, vị Đạo sư Kim Cang có chức năng quan trọng nhất trong việc truyền thừa. Cũng như Pháp môn Thiền định, bao giờ cũng cần đến vị chân sư chỉ dẫn để khỏi sai lầm ngay từ đầu, trong Mật Tông cũng vậy.Vị Đạo sư Kim Cang lúc nào cũng tích cực, bình tĩnh và quán triệt mọi việc trong việc giáo huấn đồ đệ mình. Hình ảnh sâu sắc nhất của vị Đạo sư là tay phải cầm "cây cờ lịnh". Biểu tượng của cây cờ lịnh nầy cũng giống như chày Kim Cang hay "lưỡi tầm sét". Công năng của "lưỡi tầm sét" là phóng ra những tia tầm séttừ trong tay của mình với đối tượng trước mắt.

Quan hệ giữa Đạo sư Kim Cang với giới tử rất quan trọng; nếu tương quan nầy không thích hợp hay thiếu chặt chẻ, có tác dụng thì vị Đạo sư sẽ điều chỉnh lại sao cho thích hợp. Vị Đạo sư trong Mật Tông là người trung gian giữa giới tử với cảnh giới bên kia. Trong trường hợp nầy, có thể ví Đạo sư như thầy phù thủy. Thầy phù thủy có liên hệ với cảnh giới bên kia và có khả năng tiếp cận với cảnh giới ấy với khả năng của mình. Tuy nhiên tiếp cận có nghĩa là tìm hiểu, chứ không thể nào biến đổi. Nhiều người đã hiểu sai điều đó rồi khuếch đại lên về tài "hô phong hoán vũ". Đó là điều sai lầm.

Nhưng vị Đạo sư của Mật Tông chỉ là người vận dụng những thần lực (Pháp Nhãn) để tiếp cận, chứ không phải là vị phù thủy được xem là có những tài năng đặc dị thay đổi cảnh giới.

Thông thường, vị Đạo sư thường tiếp xúc với giới tử bằng cách đưabàn tay chạm vào vai, vào tay, đồng thời theo dõi từng nhịp tim của giới tử, để truyền đạt những năng lực của mình; cũng có khi hai người đụng nhẹ đầu vào nhau, cũng trong ý nghĩa trên. Tuy nhiên việc tạo năng lực của giới tử là khả năng vốn có của mình, chứ không lệ thuộc hoàn toàn vào kẻ khác. Hiểu sai, là nhận định lệch lạc ngay từ bước đầu.

Sự tiếp cận và cảm nhận nói trên thường được gọi là "Abhisheka",đôi khi được gọi là "Lễ Điểm Đạo". Dịch theo ý nầy không đượcchính xác cho lắm. Theo nghĩa của tiếng Sanskrit, thì "Abhisheka"có nghĩa là "sự gột rửa". Nó thường được biểu tượng bằng lối gột rửa trong nước Thánh, thứ nước đã được những vị Đạo sư Kim Cang đã làm cho tinh khiết. "Ashisheka" không phải là một buổi Điểm Đạo, hay một lễ Tiếp Nhận. Nó hoàn toàn khác hẳn lễ đó.

Đạo sư Kim Cang "chiếm giữ" phần hồn các giới tử và các giới tử đã đón nhận uy quyền; uy quyền nầy mạnh hay yếu thuộc về khả năng của bản thân giới tử đó và vị Đạo sư.Vị Đạo sư nắm giữ chúng ta, để đua chúng ta vào một cảnh giới khác. Vai trò của vị Đạo sư Kim Cang chẳng khác nào một cột thu lôi để truyền năng lượng của vũ trụ sang chúng ta. Việc thu nhận nầy có hai hệ quả khác nhau: có thể tạo nên một cơn "sốc"; cũng có thể sử dụng làm điện lượng tốt. Người thọ giới cũng thường gặp hai hiện tượng nầy.

Khả năng tu học theo Mật Tông là làm sao thu nhập được điện lực tốt, tránh cơn "sốc" trong tư tưởng của mình. Trong Giáo lý của Kim Cang Thừa, thuờng nói đến tương quan trực tiếp của Đạo sư với đồ đệ không thể thiếu được. Con đường đi vào Mật Tông không dễ dàng, nếu chỉ hiểu qua loa một số giáo lý nhà Phật hay một số kinh điển nào đó.

Người đệ tử không thể nào thực hành một phép tu Mật Giáo một cách thực thụ mà không có sự quan hệ với vị Đạo sư. Một vị Đạo sư như thế không phải là nhân vật tưởng tượng, nhân vật trong quá khứ hiểu qua sách sử, mà phải là vị Đạo sư đang hiện hữu và đã từng trải qua quá trình hành trìvề Tantra. Lạt Ma Choegyam Trungpa trong những tác phẩm nổi tiếng của mìnhvề "Thực hành Kim Cang Thừa" thường hay cảnh cáo: "Nếu không thể hiểu biết rõ ràng cách nhập môn Kim Cang Thừa với vị Đạo sư hướng dẫn, thì thà rằng đừng bước vào. Đi vào với những sai lầm, sẽ gây nhiều phiền phức và nguy hiểm..." Đạt đến vị thế của một Đạo sư trong Mật Tông là bài học của kiên trì, cương quyết, tin tưởng và dũng mãnh.

Những vị Đạo sư của Mật Tông Tây Tạng trên con đường tìm hiểu đạo pháp thường trải qua muôn ngàn khó khăn. Việc tu chứng của Mật Tông đòi hỏi nhiều công phu, và nếu không có vị Chân sư dìu dắt sẽ rơi vào nhiều nguy hiểm. Trong Kim Cang Thừa, vị chân sư là tối quan trọng và không thể thiếu được. Trên nghiệm lý, người thầy hay vị Đạo sư Kim Cang chính là bản thân của sự truyền thừa năng lượng. Không có những vị nầy, giới tử không thể nào tiếp cận với thế giới hiện hữu một cách quán triệt thấu đáo được.Theo Ngài Bạch Liên (Padma Karpo) thì "Thực hành Mật Tông (Tantra) chẳng khác nào là "cỡi trên con dao". Người hành giả sẽ chọn một trong 2 con đường: Hoặc tuột theo con dao, hoặc ngồichết dính trên đó, tức là không tiến hành được chút nào. Tuy nhiên, nếu như giới tử biết được phương thức nào để có thể tuột trên con dao đó, thực hành dễ dàng thì sẽ thành công. Nhưng nếu khôngchịu tìm hiểu tường tận, lại muốn tỏ ta đây là kẻ tài giỏi, thìngười đó sẽ bị lưỡi dao cắt làm 2 mảnh". Việc học và thực chứng Mật Tôn cũng giống như người nằm trên con dao đó.

Nhiều vị chân sư Mật Tông khuyên rằng: Càng có những lời cảnh cáo nầy trên đường tu hành thì càng tốt. Vì như thế sẽ thận trọng từng bước để kiên trì và nghiêm tu. Nhưng nếu vị chân sư đã không cảnh cáo giới tử đúng lúc và đúng cách, giới tử không thể vào được con đường của Mật Tông, vì chính họ đã không thấy nguy hiểm "khi trượt tên lưỡi dao". Khủng hoảng là nguồn gốc của sự cởi mở và của những nghi vấn trên con đường tu tập. Hồi hộp, nghi vấn là nguồn gốc của sự phơi bày tâm và phơi bày cảnh giới. Tâm và cảnh giới phải hoà hợp làm một.

Trong lịch sử truyền thừa Mật Tông có nhiều huyền thoại về vấn đề tìm học. Những vị tổ Mật Tông như Marpa, Milarepa, Tilopa,Naropa là gương sáng.

Trong cuốn Mystiques et Magiciens du Tibet, bà Alexandra David Neel có kể lại việc cầu đạo của vị tổ Tipola như sau: Tipola là một trong những vị khai sáng Mật Tông Tây Tạng, tuy nhiên ông ở tại Ấn Độ và chưa hề đặt chân lên đất Tây Tạng bao giờ. Ông từng trải qua nhiều Giáo phái Mật Tông như Giáo phái Kaguy Pa (phái áo vải) phái Sakya Pa (phái đất xám) phái Geluk Pa (mũ vàng)... Ông từng tham dự nhiều cuộc hội thoại và tranh luận về tôn giáo tại Ấn Độ và lần nào cũng bẻ gãy tất cả những lập luận của đối phương. Một buổi chiều nọ, ông đang nghiền ngẫm một cuốn luận thuyết quan trọng thì có một bà lão rách rưới ngang qua. Trông thấy ông đăm chiêu suy nghĩ, bà lão nhổ toẹt vào cuốn sách rồi phì cười: "Chỉ là thứ từ chương vô dụng. Có gì đáng quan trọng".

Tipola nổi giận nhưng ngay sau đó dường như bị một thứ quyền lực siêu hình nào, khiến ông ta nguôi giận ngay, nhìn bà lão rồi cố theo bà ta. Lần đầu tiên, ông cảm thấy bất ổn trong việc tu học do chính câunói của bà lão. Thế là ông quyết chí đuổi theo tìm cho được bà lão đó. Cũng trải qua hơn ba năm dong ruỗi, ông đã tìm được bóng dáng của bà lão trong một khu rừng. Ông tìm đến trò chuyện, nhân đó đem hết sở học ra thao thao bất tuyệt. Nhưng bất cứ lý giải nào cũng bị bà lão bẻ gãy ngay từ đầu. Một vị học giả nổi tiếng như ông mà lại lúng túng như một đứa trẻ. Đến đây thì ông mới vỡ lẽ: những thứ kiến thức đó chỉ nhìn phiá bên ngoài, không thể giải thích được những huyền bí. Cuối cùng ông chịu phục và xin bái bà lão làm thầy.

Bà lão nói: "Những điều mà ta hiễu biết không chứa đựng trong sách vở. Sách vở chỉ chứa những điều hữu hạn cuả thế gian, đều là từ chương, chỉ hiểu được hiện tượng mà không đi đến bản chất của sự vật. Ta thấy người thu thập được khá nhiều kiến thức có ích thật, tuy nhiên, muốn quán triệt được Giáo lý thượng thừa, phải đi vào cảnh giới cao hơn. Cảnh giới đó được gọi tên là "Đạo giới của các Thiên thần Daikini".

Cũng có gọi danh xưng nào tương tự như thế. Cuộc hành trình nầy đầy gian khổ. Hàng trăm hàng ngàn thử thách giăng mắc. Phải vượt qua những thách đố nầy và khắc phục chúng. Nhưng nếu nhà ngươi đã nhất quyết theo con đường ta học, thì có thể truyền thụ cho nhà người bí quyết nầy: Hoàn toàn làm chủ Thân, Khẩu, Ý qua niệm chú, bắt ấn quyết, chuyên tâm nhập định. Phảinhớ điều nầy trong suốt cuộc hành trình dài. Ghi nhớ rằng 3 điều nầy: - Nhờ giữ ấn quyết, thân nghiệp được thanh tịnh. - Nhờ niệm Chân Ngôn (Thần chú), khẩu nghiệp được tịnh. - Nhờ quán tưởng vào Tam Ma địa, ý nghiệp được tịnh". Theo truyền thuyết Phật Giáo Tây Tạng, bà lão kia chính là hoá thân của Bồ Tát Dorji Chang. Bà biến mất sau khi đó.

Từ đó, vâng theo những lời chỉ dạy, Naropa lên đường tìm đến cảnh giới các thiên thần Daikini. Cảnh giới nầy có thật hay chỉ là ảo tượng? Có người cho rằng:Cảnh giới đó có thật. Nơi toạ lạc của nó ở vùng đất vô cùng hẻo lánh tại Bắc Ấn, gần biên giới giáp Afghanistan. Những theo đa số đây là cảnh giới giả tượng. Marpa thực hành theo 3 điều căn bản đó suốt hành trình trên đường tu tập. Tipola gặp vô vàng thử thách trên chặng đường nầy. Ông ta phải vượt suối, băng ngàn, vượt qua những sa mạc hoang vu, nóng bỏng, qua nhiều núi rừng thâm u, lạnh lẽo nhưng với thân xác Kim Cương Bất Hoại, ông đã tìm đến được. Đây là cung điện oai nghiêm, tráng lệ, khác cõi trần. Nhưng điều chính quyết là sau những thử thách, nhất là với cách tu luyện nầy, Marpa đắc quả.Trong tu trì, điều căn bản để chuyển hoá tâm tính và tinh thần chính là giới luật.

Đức Phật dạy:- "Có 10 điều trọng giới và 48 điều khinh giới. Nếu người thọ giới Bồ Tát mà không tụng những giới răn cấm nầy, thì người ấy khôn gphải là Bồ Tát, không phải là Phật Tử. Chính ta cũng tụng như vậy. Tất cả Bồ Tát đã học, sẽ học và đang học. Đã lược giảng xong tướng tạng của giới Bồ Tát, thì cần nên học, hết lòng kính trọng phụng trì giới luật".

Những giới luật của những người tu tập và hành trì theo Đại Thừa và Kim Cang Thừa bao gồm có 10 giới trọng (nặng) và 48 giới khinh (nhẹ).10 giới trọng là: 1- Không được dâm dục 2- Không được sát sanh 3- Không được trộm cướp 4- Không được vọng ngữ 5- Không được nói lời tứ chúng6- Không được bán rượu 7- Không được khen mình, chê người 8- Không được bỏn xẻn 9- Không được giận hờn mãi không nguôi 10- Không được tà kiến phỉ báng tam bảo 48 giới khinh là: 1- Giới không kính thầy bạn 2- Giới không uống rượu 3- Giới ăn thịt 4- Giới ăn ngũ tân 5- Giới không dạy người sám hối 6- Giới không kính dường thỉnh pháp 7- Giới không đi nghe pháp 8- Giới cố tâm trái bỏ đại thừa 9- Giới không khán bệnh 10- Giới chứa khí cụ sát sanh 11- Giới đi sứ 12- Giới buôn bán phi pháp 13- Giới hủy báng 14- Giới phóng hỏa 15- Giới dạy giáo lý ngoài Đại thừa 16- Giới vì lợi mà giảng pháp lộn lạo17- Giới cậy thế lực quyền thế 18- Giới không thông hiểu mà làm thầy truyền giới 19- Giới lưỡng thiệt 20- Giới không phóng sanh 21- Giới đem sân báo sân, đem đánh trả đánh 22- Giối kiêu mạng không thỉnh pháp 23- Giới khinh đạo không tận tâm dạy 24- Giới không tập học Đại thừa 25- Giới tri chúng vụng về 26- Giới riêng thọ lợi dưỡng 27- Giới thọ biệt thỉnh 28- Giới biệt thỉnh tăng 29- Giới tà mạng nuôi sống 30- Giới quản lý cho bạch y 31- Giới không mua chuộc 32- Giới gây tổn hại chúng sanh 33- Giới tà nghiệp giác quán34- Giới tạm bỏ Bồ đề Tâm 35- Giới không phát nguyện 36- Giới không phát thệ 37- Giới vào chỗ hiểm nạn 38- Giới trái tôn ty trật tự 39- Giới không tu phước huệ 40- Giới không bình đẳng truyền giới 41- Giới vì lợi mà làm thầy 42- Giới vì người ác giảng nói 43- Giới cố móng tâm phạm giới 44- Giới không cúng dường Kinh Luật 45- Giới không giáo hoá chúng sanh 46- Giới pháp không đúng pháp 47- Giới chế hạn phi pháp 48- Giới phá diệt Phật pháp.



. © Tác giả giữ bản quyền
. Tác phẩm cập nhật ngày 07.10.2011.
. Đăng tải lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com ©