SAUL BELOW
(1915-2005)
GIẢI VĂN HỌC NĂM 1976

Saul Bellow là nhà văn tiêu biểu của văn học Mỹ hiện đại. Ông sinh năm 1915 ở thành phố Montreal, Canada. Cha là người Nga Do Thái di cư sang Canada. Năm 1924, gia đình chuyển đến Chicago. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, Bellow đã đọc Shaskespeare và các nhà văn thế kỷ XIX. Bellow có năng khiếu ngoại ngữ, nói thông thạo bốn ngoại ngữ. Ông học nhân chủng học, xã hội học và văn học ở Đại học Chicago, Mỹ. Bellow viết truyện ngắn , kịch, tiểu thuyết. Sáng tác thời kỳ đầu của ông còn chịu ảnh hưởng của Flaubert, Kafka, Dostojevwki. Ông hay dùng biểu tượng và miêu tả xã hội những người Do Thái lưu vong tủi nhục, luôn bị ám ảnh bởi những vấn đề của người Mỹ Do Thái và những người trí thức Mỹ thuộc tầng lớp trung lưu. Các nhân vật của Bellow thườngcó một tâm hồn khắc khoải, cô quạnh, không thông cảm được với xã hội., nhưng tác giảvẫn tôn trọng giá trị con người và có hoài bão nhân đạo. Tác phẩm đầu tay của ông là tiểu thuyết Người lơ lửng (Dangling man, 1944) kể về một kẻ không có vị trí xã hội, không biết thích ứng với hòan cảnh. Trong đại chiến thế giới II, Bellow là lính thủy đánh bộ. Sau chiến tranh Bellow giảng dạy ở một số trường đại học, sống ở New York, Paris, Roma. Từ năm 1962 ông giảng dạy ở Đại học Chicago và định cư ở đây. Ta có thể kể một vài tác phẩm khác tiêu biểu ông. Tiểu thuyết “Sống từng ngày” (Seize the day, 1956) nói về người Mỹ Do Thái. Ba cuốn tiểu thuyết nổi tiếng thế giới là “Những cuộc phiêu lưu của Augie March” (The Adventure of Augie March, 1953) toát klên một niềm lạcquan của một thanh niên Mỹ Do Thái; tiểu thuyết “Henderson, thần mưa” (Henderson, the Rain King, 1959)nói về một giấc mơ một cuộc sống hài hòa có ý nghĩa; tiểu thuyết Herzog (1964) có nhiều nét tự truyện, nói về đời sống nội tâm của một trí thức My với những phân tích sâu sắc về tương quan xã hội và các trào lưu tư tưởng ở Mỹ trong những năm 50 của thế kỷ XX. Ngoài tiểu thuyết Bellow còn có 2 tập tự truyện “Tất cả đều có lý” (It all adds up,1994) và “Trên thực tế” (The actual, 1997), 2 vở kịch “ Sự phân tích cuối cùng” (The last analysis,1966) và “Khó ơ” (Under the weather,1966). Bellow có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển của văn học Mỹ. Ông được giải thưởng Guggenheim năm 1948 cho tiểu thuyết “Nạn nhân” (Victim, 1947); giải thưởng Pulitzer năm 1976 cho tiểu thuyết “Món quà của Humboldt” (Mr. Humboldts gift, 1975). Năm 1976, Saul Bellow nhận giải thưởng Nobel văn học vì sáng tác của ông đề cập tới những đề tài mang tính tổng quát như cuộc đấu tranh của con người với chính mình, nỗ lực loại trừ mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, vấn đề nhận thức mối xung đột giữa hy vọng và tuyệt vọng trong một thế giới đầy xáo trộn.

Những bước thăng trầm và số phận của tiểu thuyết

Trong khi các nhà khoa học nhận thức thế giới qua lối nghiên cứu hệ thống, thì người nghệ sĩ sống bằng cảm nhận. Bellow nói:

- Ngay từ đầu người nghệ sĩ chỉ một thân một mình; anh tathăm dò vào bên trong con người mình và tại những miền đơn độc ấy anh tìm được những lời đồng cảm của riêng mình.

Theo Conrad thì đó là:

- Sự đồng cảm với khả năng khóai cảm hay ngạc nhiên, với cái cảm giác biết thương và biết đau của chúng ta, đồng cảm với cái niềm tin nhỏ nhoi mà vững chãi khiến vô vàn trái tim đđơn độc gắn bó được với nhau, khi (trong tiểu thuyết) tính cách cá nhân vừa là phương tiện, vừa là mục đích của toàn bộ sự nghiệp.

Allain Robbe Grillet cho rằng:

- Trong các tác phẩm lớn đương thời, Buồn nôn của Sartre; Kẻ dửng dưng của Camus, Lâu đài của Kafka đều không có tính cách, không có những cá nhân nữa, chỉ có những vật thể (tiểu thuyết cá tính hoàn toàn lùi về quá khứ).
Và ông gọi là dòng vật thể (choseisme).

Còn D. H. Lawrence bảo:

- Kẻ nọ ác cảm với kẻ kia. Trái tim đồng cảm đã tan vỡ. Chúng ta ngửi thấy mùi bốc thối lẫn của nhau.

Nhà sử học Erich Auerbach nhận xét:

- Châu Âu đã sản sinh ra cái hạng văn minh: rực rỡ đấy, nhưng bất ổn, dễ bị tổn thương, mệnh của nó là chịu thảm họa.

Cyrill Connoly tiên đoán:

- Chúng ta sắp trải qua sự biến đổi toàn diện, không chỉ đơn giản sụp đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa mà là một sự thay đổi vô cùng lớn lao bản chất cái thực tại chưa được Karl Marx hay Sigmund Freud hình dung ra.







© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 17.09.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com