TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT




Kỳ Thứ 2


* Để biện giải và chứng minh vì sao “Thiền tự nhận là trao truyền cốt tủy của Phật Giáo – Tâm ấn – thay vì những tín vật – hình tướng- như đã được chép giữ lại bằng văn tự, cần tước bỏ những cái rườm rà đắp thêm vào và bọc kín chân tinh thần Phật giáo làm cho cái sanh lực nguyên thủy của nó bị che mất, và khiến người ta nhận lầm cái phụ làm cái chánh”. (45 Q.Thượng). Lý lẽ thì nghe rất kêu, nhưng chỉ có một phần đúng, là người tu Phật nếu thiếu THIỀN ĐỊNH thì không sinh được Trí Huệ. Chính cái Trí Huệ sẽ là ngọn đuốc để soi đường để người tu có thể tránh được nhầm lẫn hầu đi đến đích, để cho rằng vì sao THIỀN TÔNG được thừa nhận như một thành phần tất yếu. Nhưng đâu phải vì thế mà “cần phải tước bỏ những tín vật, hình tướng như đã được chép, giữ lại bằng văn tự”, cho rằng đó là “những cái rườm rà đắp thêm vào và bọc kín chân tinh thần Phật Giáo?”

Những thứ đã được chép, giữ lại bằng văn tự mà Ngài cho là rườm rà đó chính là KINH, là những quyển sách ghi chép những gì Đức Phật giảng dạy cho chư đệ tử từ lúc vừa giác ngộ cho đến cuối đời, về cách thức tu hành. Từ phát tâm, cho đến cách quán, soi, cách thức để kiểm chứng kết quả hành trì vv... mà các Đại Đệ Tử gom lại sau khi Phật Nhập diệt. Kinh điển được Đạo Phật xem là la bàn, là bản đồ để chỉ con Đường tu Phật. Người tu không nương theo, không dò từng bước trong đó thì biết mình đang ở nơi nào trong Phật Đạo? Đang tiến bộ hay đã lạc ra ngoài từ bao giờ rồi? Phật ngôn có câu: “Ly Kinh Nhất tự đồng ma thuyết”. Có nghĩa là chỉ cần rời Kinh một chữ thôi là cũng như ma thuyết giảng, huống là còn đề xuất chê, bỏ Kinh! Pháp Bảo Đàn Kinh, trang 136, Lục Tổ dạy: “Chúng người phải biết, tự mình mê còn dung được, sao dám chê bai Kinh Phật? Chẳng nên chê Kinh mà phải mang tội chướng vô cùng”!

* Các Thiền Sư xem nhẹ Kinh, chỉ cổ súy việc “Truyền Tâm Ấn” thôi. Vậy thì cái Tâm Ấn đó nếu thiếu văn tự trong Kinh sách để đối chiếu thì thì ai biết nó là cái gì? Có đúng theo tinh thần Đạo Phật hay không? Hay do ai bịa ra? Cách truyền như thế là đúng hay sai? Và truyền tới, truyền lui mà không có văn tự ghi lại để làm bằng và có cơ sở mà kiểm chứng cho rõ ràng thì liệu có “tam sao thất bổn”?

* Việc “Truyền Tâm Ấn” của Đạo Phật có nghĩa là người thầy đã Thấy được cái Bổn Thể Tâm, hướng dẫn lại cho đệ tử cách thức hành trì, để người đệ tử cũng Thấy được cái Bổn Thể Tâm của chính họ. Vì thế nên gọi là “Dùng Tâm Ấn Tâm”. Cách truyền của nhà Thiền, đúng ra phải nói là “dùng Công Án, ấn Công Án” mới đúng, vì vị Thầy trong Tu Thiền đâu có bao giờ giảng dạy về cái Chân Tâm? Đâu có kêu đệ tử tìm Tâm? Chỉ kêu đệ tử “Tham Công Án” thôi. Giải được Công án thì cho là Chứng Đắc. Do vậy, theo tôi, nhà Thiền dùng từ Truyền Tâm Ấn là hoàn toàn không đúng với thực tế và vay mượn của bên Phật gia.

* Thiền Sư Suzuki cho rằng: “Thật không gì lầm, hơn là nghĩ rằng những mối đạo lớn trong thế gian nầy, do các đấng giáo chủ trao truyền cho hậu thế, là một cái gì đã được tâm luyện đến mức tinh vi nên hàng đệ tử chẳng phải làm gì hơn là nhận lấy cả hai: giáo chủ và giáo lý như một di sản thiêng liêng, một kho tàng không nên để cho bất cứ công phu chứng nghiệm cá nhân nào xâm phạm vào. Vì nghĩ vậy tức không đếm xỉa đến công phu tu chứng của mỗi người chúng ta”. (47 Q.Thượng).

Điều này thì Ngài nói đúng. Giáo pháp của Phật không phải là chiếc bánh đã làm sẵn, đệ tử chỉ việc cho vào miệng rồi nuốt, mà là để chỉ cách thức hành trì, rồi do công phu của mỗi người sẽ tự đạt lấy cho bản thân. Nếu dùng một thí dụ hết sức cụ thể thì Đức Thích Ca chỉ để lại một công thức là: GIỚI - ĐỊNH - HUỆ, BÁT CHÁNH ĐẠO… để tẩy chất nhơ đã bám vào Tâm của mỗi chúng ta từ vô lượng kiếp. Mỗi người phải tự hành trì để tẩy rửa cho mình. Tùy theo nó dơ nhiều hay ít. Tùy theo sự siêng năng tẩy rửa mà Cái Tâm của mỗi người sẽ sạch trong thời gian lâu hay mau. Nói cách khác là mỗi người phải tự PHÁ VÔ MINH. Phật đâu có phá giùm cho ai, hay nhờ ai phá giùm được? Ngay cả Kinh có dạy cách thức để phá Vô Minh, nhưng người đọc mà không trực tiếp Hành thì Vô Minh đâu có tự biến mất? Do đó đâu thể nói là Đạo Phật “không đếm xỉa đến công phu tu chứng” của mỗi người chúng ta. Đạo Phật dạy TƯ TU, TỰ ĐỘ, đó chẳng phải là nói về công phu tự tu chứng sao?

Kinh nói một cách, nhưng Ngài lại luận ra cách khác, nhằm tôn vinh pháp môn Tu Thiền.

* Ngài khen ngợi một đạo tâm siêu đẳng của Nhật, (Sư Thân Loan, đệ tử của Sư Pháp Nhiên) vì ông này thú nhận: “Tôi không cần biết sau này tôi xuống địa ngục hay nơi nào khác, nhưng vì sư phụ tôi dạy tôi niệm hồng danh Phật thì tôi cứ theo đó mà vận hành” (tr.49 Q.Thượng). Lời nói đó chứng tỏ vị Sư này không có đọc Kinh nên không thấy lời dặn dò của Phật trong Kinh Đại bát Niết Bàn: “Ngay đối với lời nói của Như Lai, nếu có lòng nghi ngờ thì cũng không nên thọ tri”.cứ nhắm mắt tin Thầy thì không phải là thái độ của một người có Trí Huệ! Trong kinh có ghi rõ ba điều kiện tất yếu cho người tu Phật là GIỚI - ĐỊNH - HUỆ! Như vậy, ông Sư này chỉ có GIỚI những thiếu ĐỊNH, HUỆ là sự sáng suốt quan trọng nhất đối với người tu.

* Ở trang 70, Ngài định nghĩa: “NIẾT BÀN chẳng khác gì hơn là Giác Ngộ. Giác Ngộ là đạt Niết Bàn”. Trong khi Phật dạy có 4 giai đoạn: Khai, Thị, Ngộ và Nhập mà Giác Ngộ chỉ mới là giai đoạn thứ 3, còn phải Nhập nữa thì mới đạt tình trạng Niết Bàn. Chính Ngài đã trích dẫn Kinh Hoa Nghiêm nói về Diệu Nguyệt Bồ Tát giải thích cho Thiện Tài đồng tử về người khát nước đi tìm nước. Có người chỉ hướng có giếng nước. Dù anh ta đi đúng hướng, đến bên giếng nước, nhưng đâu đã hết khát nếu chưa trực tiếp uống? Như thế thiết nghĩ đã quá rõ cho việc Ngộ và Nhập của Đạo, tức là cái Thấy và cái Chứng khác nhau rõ ràng.

* Ngài cho rằng những lời Đức Thích Ca tuyên bố sau khi xả Thiền: “là cái gì tuyệt hậu, tối cực mà 49 năm tích cực du hóa sau ngày thành đạo đều nhằm luận giải sự Giác Ngộ ấy mà rồi vẩn chưa nói được tiếng nói cuối cùng, rồi tất cả nhũng trầm tư sau này của Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân và Vô Trước, tất cả không biện minh được hết lời, cạn ý”. (tr. 74 Q.Thượng). Nếu chẳng biện minh được thì làm sao có đến 32 vị Tổ sau đó tiếp nối bước đường Giác Ngộ của Phật? Con đường của Đức Thích Ca cách đây hơn 2.550 năm vẫn được chư đệ tử tiếp tục. Còn con đường Tu Thiền chỉ được thời gian ngắn, chưa đầy vài trăm năm mà con cháu nhà Thiền: “khi được hỏi về gia phong tông chỉ thì ngơ ngác chẳng thể trả lời. Đó là những bằng chứng hiển nhiên để cho ta so sánh về lợi ích của việc truyền thừa qua văn tự và “bất lập văn tự” vậy!

* Nơi trang 70 Thiền Sư đã giải sai khi cho rằng “Kể ra thì La Hán và Bồ Tát chỉ là một”.

Trong Đạo Phật, đã có một danh xưng thì đã có một nghĩa, nói lên hành trì nhất định của danh xưng đó. Không thể trùng lấp, lẫn lộn. La Hán được Kinh viết là Quả Vị cao nhất của hàng Thinh văn. Thinh Văn tức là những người chỉ cần NGHE rồi tin tưởng, thực hành. Bồ Tát là những người có quán sát, tư duy, đã biết được Con Đường Độ Sinh và bắt đầu bước vào Con Đường đó, để sau khi độ hết chúng sinh thì cũng sẽ thành Phật. Thinh Văn, theo Kinh viết thì không thể thành Phật nếu không qua giai đoạn Bồ Tát. Đọc Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA ta thấy Phật nói là giảng Kinh này là vì hàng Thinh Văn, để đưa họ đến Bồ Tát Đạo. Nếu Thinh Văn, La Hán đã là Bồ Tát thì Phật còn giảng cho họ làm chi!

* Nơi trang 72, Ngài cho rằng “Nếu vì công lực của Giác Ngộ mà sa môn Cồ Đàm được chuyển hóa thành Phật, vậy, nếu tất cả chúng sanh đều sẵn đủ tri giác Bát Nhã, và đủ khả năng Giác Ngộ - nói một cách khác, nếu tất cả đều là Bồ tát – vậy lý đương nhiên tất cả Bồ tát đều là Phật, hoặc sẵn sàng để thành Phật khi gặp thời tiết” .

Lại thêm một luận không đúng. Vừa nói rằng “chúng sanh đã sẵn đủ tri giác, tất cả đều là Bồ tát, sẽ “thành Phật khi gặp thời tiết” thì trang 75 lại viết: “Chứng La Hán không phải là vấn đề chuyên học, mà đó là cái gì hốt nhiên xảy đến trong chớp mắt, sau bao nhiêu năm tinh chuyên tu tập”! Câu: “Sau bao nhiêu năm tinh chuyên tu tập” đã nói lên rằng: không phải “chúng sanh đã sẵn tri giác, đều là Bồ tát thì đương nhiên “sẽ thành Phật khi gặp thời tiết” như Ngài luận. Vì đã đành ‘Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh, đều có khả năng để Thành Phật”, nhưng đều phải qua cả một quá trình hành trì, tu tập. Kệ Viên Giác viết:

PHẬT TÁNH TUY SẴN CÓ

PHẢI TU MỚI HIỂN HIỆN

CŨNG NHƯ VÀNG SẴN CÓ

PHẢI LỌC QUẶNG MỚI THÀNH”

Tức là dù vàng nằm sẵn trong quặng, nhưng muốn lấy được vàng, phải qua quá trình gạn lọc. Quặng đâu phải là vàng khối. Chẳng lẽ Ngài Suzuki không biết điều đó? Chính câu Ngài trích đã viết rõ: “Vì công lực của Giác Ngộ mà được chuyển hóa thành Phật”. Như vậy, Chúng sanh nào mà có công lực của Giác Ngộ, hay là phải qua quá trình gọi là Tu tập mới thành Phật, chớ đâu phải như bông hoa mà đương nhiên đủ ngày tháng hay gặp thời tiết là nở! Nếu luận như Ngài, Đức Thích Ca nói rằng: “Chúng sinh là Phật sẽ thành” thì chúng sanh đương nhiên là phải thành Phật, cần gì phải học hỏi, phải tu hành?!

Ngài viết: “Thời gian chuẩn bị có thể kéo dài nhiều năm dai dẳng, nhưng đến một lúc nào đó thì chớp nhoáng cơn khủng hoảng vỡ bùng, và người ta thành La Hán, hoặc thành Bồ Tát, hoặc thành Phật luôn nữa!”

Rõ ràng Ngài chưa hề phân biệt được các Quả Vị trong Đạo Phật, và chưa hiểu Lý Nhân Quả. Ngài không biết rằng làm Hạnh Bồ Tát thì mới được kết quả của Bồ Tát. Làm Hạnh Phật thì mới được thành Phật. Các quả vị có tên riêng biệt ắt phải có quá trình chuẩn bị riêng biệt. Đâu thể trong chớp nhoáng mà một lúc có thể thành cả 3 quả vị: La Hán, Bồ Tát, Phật? Vì nếu cả 3 là một thì cần gì phải đặt ra 3 tên? Và lý do gì không chọn cái cao nhất để thành?

* Ngài luôn bài bác tri thức, trong khi đó, lời Phật được Ngài trích đã nói ngược lại: “Ta đã gội sạch hết ô trược (asava). Ta đã giải thoát tâm (ceto vimutti) và trí (panna vimutti); tại đây, trong thế giới hữu hình, ta đã tự mình tỏ rõ, đến đích, và làm chủ chánh pháp; ta đã ngộ nhập trong pháp, đã giải hết ngờ vực, đã gạt bỏ hết điên đảo, đã trọn đầy tín lực, ta đã ứng dụng vào thế gian, đã làm những gì phải làm, đã chặt đứt mối dây trói buộc vào vòng tái sinh; ta đã ngộ pháp như thực vậy”.

Nếu không dùng tri thức thì làm sao tỏ rõ, làm sao ngộ nhập, giải hết ngờ vực, gạt bỏ hết điên đảo? Nếu không dùng ngôn ngữ thì làm sao diễn tả được Phật đã phải làm những điều như thế để gọi là “ngộ pháp như thực” kể trên?

* Nơi trang 199, Quyển Thượng, khi nói về Kệ phó pháp của các Tổ, Ngài cho là: “Để phù hợp với quan điểm Thiền “được Phật truyền riêng tâm ấn ngoài giáo lý văn tự” các sử gia Thiền còn đấy lui cuộc truyền thừa trước cả Thích Ca Mâu Ni; vì theo truyền thuyết lưu hành giữa hàng Phật Tử ban sơ thì ít nhất có đến 6 cổ Phật ra đời trước Phật Thích Ca và mỗi vị đều có lưu lại một bài Kệ phó pháp được khăng khăng lưu giữ trong Thiền sử. Mà nếu 6 vị quá khứ Phật có kệ thì tại sao chư Tổ sau, tất cả từ Thích Ca đến Đạt Ma lại không có? Nên tất cả đều có lưu lại kệ phó pháp, trước có lời mở đầu như vầy: “Nay ta trao lại ngươi kho tàng con mắt của chánh pháp, ngươi khá giữ lấy và ghi nhớ luôn luôn”. Chắc hẳn đó toàn là sáng tạo lông bông của những sử gia Thiền đầu tiên, hẳn vì khích lệ bởi lòng tin quá nhiệt thành đối với mối đạo chánh thống nên đã cực luyện ngọn bút tưởng tượng đến cao độ như vậy”!

Thật ra, việc Kệ phó pháp trước Phật Thích Ca có thật hay không thì chúng ta không thể biết được, vì không thể kiểm chứng. Có điều đã là Kệ thì nếu người chưa đắc pháp khó thể viết ra được một bài Kệ có tính cách Thoát được. Xin đối chiếu Kệ của Sư Thần Tú và Lục Tổ sẽ thấy. Dù Sư Thần Tú, bản thân là người học cao hiểu rộng, nhưng vẫn không thể “sáng tác” ra cái Thấy Tánh được. Đó là chỗ khác nhau nói lên trình độ của người tu. Do đó, các nhà Thiền sử nếu chỉ “sáng tạo lông bông”, chỉ cần “cực luyện ngọn bút” mà làm được Kệ, chắc trình độ cũng chẳng phải tầm thường! Thiền Sư Suzuki có lẽ không hiểu điều đó. Không hiểu Ngài đã có lần nào thử “cực luyện ngòi bút”, sáng tác ra bài Kệ nào để có cơ hội tự so sánh rồi kết luận là ai cũng làm được Kệ chưa?

Vấn đề thông hiểu Phật Pháp được chứng tỏ qua bài kệ đắc pháp đã được chứng minh qua chính lời của Thiền Sư kể: Sau khi Thần Tú tịch thì Bắc Tông không tìm ra được người kế thừa đành mai một. Có nghĩa là, cái hiểu đạo dù chỉ gói gọn trong 4 câu Kệ, nhưng người đắc pháp là đã nắm vững đường lối tu hành, có thể truyền lại cho thế hệ sau. Người không đắc pháp không làm được điều đó. Người đắc pháp dù không có thể hiện gì khác biệt với người không đắc, nhưng một điều chắc chắn là họ đã Tứ đại giai không. Khi thể hiện thì Lục Hòa, Thân, Khẩu, Ý ba nghiệp thanh tịnh. Vì thế, ta chưa từng thấy các bậc chân tu đi gây sự hay tranh chấp với người khác. Ngược lại, phía Bắc Tông thời đó, hết sai người đi trộm pháp, (Thầy Tăng Chí Thành) đến sai Thầy Tằng Chí Triệt mang dao đi chém Lục Tổ, và chém 3 dao mà không đứt mới buông dao sám hối! (Pháp Bảo Đàn Kinh)!. Phái Bắc Tông vẫn không ngừng tranh chấp. 16 năm, sau khi Lục Tổ nhập diệt, Thần Hội mới đứng lên chấn hưng pháp môn thì cũng vu cho vua bắt đày đi! Qua đó ta có thể so sánh trình độ tu học của tín đồ hai Tông Nam, Bắc!

* Nơi trang 251, Thiền Sư Suzuki viết: “Thần Tú tịch năm 706 trước Huệ Năng 7 năm. Trường phái của Sư gọi là Bắc Tông, đối với Nam Tông của Huệ Năng rất hưng thịnh ở Phương Bắc hơn Huệ Năng ở phương Nam nhiều lắm. Nhưng từ khi Mã Tổ và Thạch Đầu tích cực phát huy đạo Thiền ở Phương Nam và đặt xong tại đó cơ sở Thiền pháp thì Bắc Tông không tìm ra người thừa tiếp đành mai một hẳn đến nổi những gì nay ta được biết về Thần Tú đều do tài liệu của phái đối lập và Nam Tông. Thế chính Huệ Năng, chớ không phải Thần Tú được hậu thế thừa nhận là Tổ Thứ Sáu của Đạo Phật Thiền Trung Hoa”.

Việc truyền Y Bát, là trao lại quyền làm Tổ kế tiếp rất quan trọng đối với Đạo Phật thời bấy giờ. Vì Phật Pháp chưa phổ cập, Chánh, tà chưa phân, vì thế rất cần có dấu ấn để người muốn tu học nương theo, khỏi sợ nhầm lẫn. Khi trao Y Bát, Ngũ Tổ đã nói: “Ngươi làm Tổ Thứ Sáu. Hãy giữ gìn và nhớ lấy đạo tâm của mình. Phải quảng độ chúng hữu tình và lưu truyền cái chánh pháp cho đời sau”. Đó là việc truyền thừa chính thức được ghi vào lịch sử của đạo Phật. Đâu có đợi hậu thế nhìn nhận hay không? Ngài luận như thế chứng tỏ chưa dánh giá đúng ý nghĩa của việc truyền Y Bát.

Về việc “không Thiền không có Ngộ, không Ngộ chẳng phải là Thiền” (tr.276 Q. Thượng) ta thấy đó là một sự khác biệt lớn giữa THIỀN của đạo Phật và Thiền của Đạo Thiền. Với đạo Phật, THIỀN chỉ là một trong Lục Độ, mục đích là để sinh ra sự sáng suốt để thấy hướng đúng mà tu hành gọi là TRÍ HUỆ, vì vậy THIỀN không có gì lớn lao, ghê gớm, “kinh thiên động địa” như phía các Thiền gia nghĩ, chỉ là một trong chuỗi việc làm hỗ tương với nhau, gồm 6 việc: BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TIẾN, THIỀN ĐỊNH, TRÍ HUỆ. Người tu cứ kiên trì làm các việc này, cứ vẹt hết lớp che chắn này đến lớp khác thì ánh sáng sẽ rọi vào. Ta nghĩ sao nếu có người chỉ Thiền Định mà thiếu Giới, thiếu Nhẫn Nhục và không Thí Xả những tính xấu, ác đi. Lại thiếu cả Trí Huệ thì lấy gì soi đường mà tiến tu?

Thiền gia thì chăm bẩm vào môn THIỀN, tập trung tất cả vào một Công Án, nên chỉ có mổi một Công Án mà có người phải mất 8 năm, như Nam Nhạc Hòa Thương chỉ để trả lời câu: “Ở đâu đến? Mà cái gì đến”. Trong khi đó bên Phật Gia còn rất nhiều nghi vấn cần khai thông, phải đâu chỉ riêng chữ VÔ hay một vài Công Án? Và cũng không cần đến nhiều năm như thế. Bằng chứng là Lục Tổ chỉ mất có 8 tháng, và Ngài cũng không có Ngồi Thiền, chỉ có chẻ củi, giã gạo thôi!

Nếu chỉ dựa theo Ba Gậy mà Lục Tổ đánh Thần Hội, cho đó là “Đốn Giáo” thì ta thấy hoàn toàn sai. Bởi sau khi bị đánh 3 gậy, Thần Hội theo hầu Lục Tổ rất nhiều năm, phải đâu bị đánh đã Thầy Tánh mà cho gậy đó là “Đốn”? Hơn nữa, suốt thời gian hoằng Pháp, Lục Tổ đã thuyết giảng, biện luận rất nhiều, đệ tử Ngài thu gom lại thành quyển PHÁP BẢO ĐÀN KINH, Trong đó, ngoài 3 gậy đánh Thần Hội để khai mở cho y, Ngài đâu có la hét, đánh đập ai? Trái lại, Ngài dạy: “Mỗi sự lý phải hiểu tới tận chỗ chơn, cả thảy sự lý phải hiểu tới tận chỗ chơn”, và mỗi từ, mỗi pháp Ngài đều giảng giải hết sức rõ ràng.

Trong khi Lục Tổ được các phái Thiền phong tặng là “Tổ Sư Thiền” thì dạy: “Mỗi sự lý phải hiểu tới tận chỗ chơn”, thì những đệ tử Thiền Tông của Ngài chết sống chỉ biết cột cái tâm vào chữ VÔ! Cách tu hành đó phải chăng rơi vào lời Tổ cảnh báo: “Bằng đối với mọi vật lòng không nghĩ đến, khiến cho niệm tưởng dứt đi, tức là bị pháp ràng buộc. Ấy gọi là biên kiến”!

Nói về THIỀN thì hai câu đầu trong Bài Kệ VÔ TƯỚNG của Lục Tổ đã chỉ rõ :

Lòng bình đẳng đâu cần giữ GIỚI.

Làm việc ngay há đợi TU THIỀN !”

Hoặc: ““Chư Thiện tri Thức. Sao gọi là THIỀN ĐỊNH? Ngoài lìa tướng là THIỀN. Trong không tán loạn là ĐỊNH. Ngoài Thiền, trong Định, ấy là THIỀN ĐỊNH”. Cái chứng ngộ của Lục Tổ là: “Chư thiện tri Thức, trong niệm niệm tự mình thấy Bổn tánh thanh tịnh, tự mình tu, tự mình hành, tự mình thành Phật Đạo”. Đâu có quá bí hiểm, hay đôi khi lại quá đơn giản như Huệ Lăng Trường Khánh phát biểu: “ Hễ hiểu cây trụ trượng là gì tức không còn phải học Thiền nữa”! (Tr. 34 Q.Thượng) như phía Thiền Tông. Có lẽ ngay cả mục đích Tu hành của Đạo Phật các vị đó còn không nắm vững cho nên mới dám phát biểu như thế. Việc Thoát Sinh Tử, Thoát Phiền Não đâu có liên quan gì tới cây trụ trượng? Thiền Định là thời gian dừng lắng cái tâm để suy nghĩ tìm ra cách thức để Thoát Phiền Não, vậy mà chỉ cần biết cậy trụ trượng là không cần Thiền nữa sao? Có thể câu nói này đã gây cho biết bao nhiêu Thiền Sinh thời tốn không ít công sức vô ích! Quả là chỉ có những kẻ không rõ lý Nhân Quả, không biết lời nói của mình sẽ gây hại cho nhiều người khác mới dám mạnh miệng như thế.

Thiền Sư Suzuki cũng trích Kinh để nói rằng “Cuối cùng Phật xác định lại lý tự giác, tức sự Chứng Đạo của Phật, như sau:

“Đó cũng như nhìn thấy bóng mình trong gương hoặc trên nước, cũng như nhìn bóng mình trong ánh trăng hoặc ánh đèn. Lại nữa, cũng như nghe tiếng nói của mình dội lại trong thung lũng; hễ có vọng cầu thì có vọng tưởng phân biệt phải trái; hễ có phân biệt phải trái thì không thoát khỏi thế kẹt hai đầu, tự nhiên chấp cái phải nên tinh thần không thể “tịnh” được. Tịnh có nghĩa là lắng sạch hết sở cầu, có nghĩa là đi sâu vào định, từ đó phát sanh Thánh Tri Tự Giác, và đó tức là Như Lai tạng”.

Ngài cũng trích Kinh: “Trong kinh, Thích Ca Mâu Ni chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thành Phật, bằng cách vượt ngoài cả hai thiên chấp “Có” và “Không” (nasty – asty- vikalpa). Cái lầm căn bản là ở đó – chấp cả hai – cần phải xả trừ trước hết để đạt cảnh giới tự giác. Lầm bởi không nhận thức được tướng Không (sunya), tướng vô Sanh (anutpada) tướng Vô Bất (advaya) và tướng vô Tự Tánh (nihsvabhavalakshana) của muôn vật”.

Câu trên đủ chứng minh là cái tâm mong cầu chứng đắc khi Tham Công Án của các Thiền Sinh là không đúng với tinh thần tu Phật. Đức Thích Ca đã nói rõ: Hễ có vọng cầu thì có vọng tưởng phân biệt, hễ có phân biệt thì không thoát khỏi thể kẹt giữa hai đầu, tự nhiên chấp cái phải nên tinh thần không thể tịnh được”. Đã không tịnh thì làm sao tâm trí có thể trong sáng để thấy được điều gì? Chính vì vậy ta thấy Kệ gọi là “chứng đắc” của Ngài Vô Môn chỉ có 20 chữ Vô. Đắc chữ VÔ bằng 20 chữ Vô, chứng tỏ Ngài đâu có thấy được gì?

Mặt khác, dù cho các Thiền Sinh có thể đắc được chữ VÔ, thì lẽ nào tất cả những sự hiểu biết về Sinh Tử, Vô Thường, Vô Ngã, Phật Tánh, Có, Không, Hư Không, Niết Bàn, Phật Quốc, Mê, Ngộ, Chân Vọng vv… được hiểu hay đạt đến bằng cách tham mỗi một Công Án, hay mỗi chữ VÔ? Và sự chứng ngộ của một Công Án lại còn đưa người chứng nó cao hơn cả Phật, Tổ? Đó là điều mà người có chút hiểu biết ắt là không chấp nhận được, vì tính cách phi lý của nó!


 
 
... CÒN TIẾP...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 10.09.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .