TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



MAI THÌN



Tên thật là Mai Văn Thìn

Sinh năm 1965 tại thôn Vĩnh Phú, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt nam.
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.
Ủy viên Ban chấp hành Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Định.
Hiện đang công tác tại Đài phát thanh truyền hình tỉnh Bình Định.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Cổ tích tình yêu - tập thơ - 1991.
. Hai mảnh yêu thương - tập thơ 2 tác giả - 1992.
. Đồng quê - tập thơ - 1999.
. Văn hóa dân gian xã Nhơn Thành - nghiên cứu - 2004.
Giải thưởng: Giải 1 thơ trẻ Bình Định 1990.
Giải thưởng văn học nghệ thuật Xuân Diệu - Đào Tấn lần thứ 1 và lần 2.












NHUÔM RĂNG, ĂN TRẦU - MỘT CÁCH LÀM ĐẸP
CỦA NGƯỜI BÌNH ĐỊNH XƯA



   

Ở Bình Định, thời trước hầu như ai  cũng ăn  trầu. Vì thế mới có nghề lái trầu giúp Biện Nhạc (Nguyễn Nhạc)  góp phần gầy dựng nên cơ nghiệp Nhà Tây Sơn .

     ( Mẹ ăn trầu )   -        

 Từ chuyện ăn trầu ở Bình Định xưa   

 

Hồi ấy, con trai, con gái tới tuổi thành niên  thường bắt đầu  ăn trầu, con trai thì có thêm tục hút thuốc, đàn bà con gái chỉ ăn trầu  chứ không hút thuốc. Người Bình Định rất ghét phụ nữ hút thuốc, uống rượu. Họ xem miếng trầu là đầu câu chuyện, nên thường hay khuyến khích thanh niên nam nữ ăn trầu. Nhà nào cũng trồng một vài cọc trầu và cây rễ trong vườn. Dây trầu bò lên cây cau, cây dừa hoặc cây bồ ngót tàu. Nhà mẹ tôi ở ven thành Hòang Đế còn một cây bồ ngót tàu trên trăm tuổi, thân to như cột đình, nơi trước kia ông nội tôi  trồng một dây trầu  tươi tốt, cả xóm ăn không hết; còn cây rễ ông tôi trồng ở góc vườn thì đã chết từ lâu.

 Thuở mới về làm dâu, mẹ tôi chưa biết ăn trầu, nhưng vì được ông nội  khuyến khích ( ông nội tôi rất nghiện trầu, nhưng cha tôi  thì không ăn vì ông  sợ dơ dáy) nên bà đã ăn thử rồi nghiện luôn đến giờ.  

 -Đến cách ăn trầu và triết lý nhân sinh    

 

Cây rễ cao, lá thuôn dài, cành suông. Khi ăn, người ta chặt cành, bóc vỏ đánh thành nài (như nài cày, nhưng nhỏ hơn ) rồi đem thui lửa, phơi khô dùng dần. Nếu  hôm nào đi chợ  quên mua rễ, người ta hái nụ hoa chim chim  ăn tạm thay rễ. Chim chim là loại cây như dú dẻ, hoa thơm, trái hình rẻ quạt  như nhánh chuối, nhưng rất nhỏ, hạt to, khi chín màu đỏ, ăn có vị ngọt.

 Khi ăn trầu, người ta dùng vôi quết nhẹ lên mảnh lá trầu tươi  đã cắt xéo  (thường là ½ hoặc ¼ lá), gập lại cho vôi nằm ở giữa rồi  bỏ vô miệng nhai. Vôi ăn trầu  là vôi chín màu đỏ hồng, hay trắng. Ăn trầu nhất thiết phải có vôi, không có vôi, trầu không đỏ, không nồng, vị nhạt như nước ốc, bỡi thế ca dao có câu:Có trầu, có vỏ không vôi

Có chăn có chiếu không người nằm chung.”

 Vôi trong trường hợp này  cũng quan trọng như “người nằm chung vậy”. Và cũng có lẽ do đặc điểm nồng cay quan trọng ấy, mà người ta còn ví  vôi với “nghĩa”, với “tình”, mang đậm triết lý nhân sinh:                                      

 Trầu xanh, cau trắng cay nồng

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên.”                                 

 (ca dao)

Hoặc:          Anh về em đưa miếng trầu                               Miếng thương miếng nhớ miếng sầu anh ơi                  

 Quệt vôi em quệt cả lời  trăm năm…”.                                                                 

(ca dao)    

      Để có miếng trầu ngon, thì ngoài cách têm trầu cho đẹp, cho khéo còn phải biết cách quệt vôi  sao cho vừa ăn. Nếu quệt nhiều, miếng trầu cay xé, quệt ít thì  không đủ nồng:   

                  “ Tội tình thiếp lắm chàng ơi                  

trầu ăn không đỏ vì vôi quệt già.”                                                         

(ca dao)

 

         Để có vị chát, và giảm bớt chất cay  nồng của trầu và vôi, người ta  cắn một mẩu rễ và  lát cau tươi; nếu là cau khô thì phải ngâm kỹ trong nước cho mềm. Tất cả nhai chung trong miệng  cho đến khi nước cốt có màu đỏ bầm như máu, hương thơm nồng ải rất dễ chịu.

 Để tăng thêm vị đậm đà, người ta còn  dùng thuốc rê (lá thuốc xắt thành sợi nhỏ), vo thành viên nhỏ như  viên bi, lăn qua lăn lại  nơi hàm răng, vừa để chặn nước cốt trầu  không chảy ra ngoài, vừa tăng cảm giác ngon miệng. Những khi hết thuốc, mẹ tôi thường lấy đỡ vài điếu thuốc Nam Dương, hoặc thuốc công nông tháo  ra xài tạm, nhưng bà bảo không ngon bằng thuốc rê. Có người bận tay  thường nhét viên thuốc rê dưới môi trên ( giữa răng và môi ) để  làm việc khác, thuận tay dùng ngón trỏ và ngón cái  vuốt hai mép  cho sạch nước cốt trầu (mẹ tôi gọi là cổ trầu ).     

-         Và những vật dụng quanh chuyện ăn trầu    

 

 

Vì ăn trầu thường phải nhổ nước cổ trầu, nên nhà nào cũng  sắm  một hai ống nhổ bằng đất hoặc bằng đồng  có trang trí hoa văn rất đẹp.

 Các loại trầu, cau, thuốc, rễ đựng trong cơi  trầu ( mẹ tôi gọi là cão trầu) bằng tre, nhỏ xinh như chiếc rá gạo  bây giờ. Chiếc cơi trầu cũng đi vào ca dao bằng lời tỏ tình rất dễ thương của chàng trai trẻ:                      Ước gì anh hoá ra cơi                  

để cho cơi đựng cau tươi trầu vàng                            

ước gì anh cưới được nàng

                   mai sau anh trả lại nàng đôi mâm.”

Ngày nay cơi trầu được thay  bằng rổ nhựa, tuy tiện lợi nhưng ít thẩm mỹ hơn nhiều.

Ngoài cơi trầu, còn có đãy trầu. Khi đi ra ngoài, thì có đãy trầu bằng vải luôn dắt theo người, gặp ai cũng  lấy ra mời như người ta mời thuốc lá  bây giờ. Các ông, các bà  không có đãy trầu  thì bỏ đại vào  hai túi áo vạt hò, áo bà ba  hoặc trong yếm để khi ra đồng  có cái ăn đỡ thèm.Vì thế  túi áo ai cũng sẫm màu cổ trầu, đặc biệt là hai ngón tay trỏ và tay cái.

  Miếng trầu đã trở thành vật giao duyên khá độc đáo của các chàng trai cô gái :                

  -          yêu nhau trao một miếng trầu                           Giấu thầy giấu mẹ trao sau bóng đèn.”                                                         

(ca dao)

Hoặc:  

  -        “Đêm trăng thiếp mới hỏi chàng                                       

Cau tươi ăn với trầu vàng xứng không?                             Trầu vàng nhá với cau xanh                             

 Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.”                             (ca dao)

Người già răng yếu, khi ăn trầu  dùng “ống  xoáy trầu” nghiền cho dập  trầu cau, rễ trong xoáy  trước khi dùng.”Ống xoáy” làm bằng gỗ, sau bằng đồng, thời đánh Mỹ làm bằng vỏ đạn đại liên to bằng ngón chân cái  ,cưa bớt phần ngọn, còn phần đáy  cao độ ba bốn phân. Để có cây giã trầu, người ta cắt một đoạn thép gai dài  bằng cây bút bi đập dẹt một đầu ,đầu kia uốn vòng tròn  để dễ cầm và xỏ dây cột vào đáy ống xoáy cho khỏi thất lạc. Sau khi trầu, cau, rễ  được bỏ vào ống xoáy, người ăn trầu dùng cây sắt chọt vào ống cho dập trầu, làm mềm rễ,  cau rồi mới cho vào miệng  ăn.

Trong ”cão trầu” của mẹ tôi, ngoài các vật dụng ăn trầu như: Bình vôi, ống xoáy, dao xếp (dao nhỏ có cán xếp lại được) để cắt trầu, cau, rễ còn chứa các vật dụng, như : nút áo, kim, chỉ, nhíp nhổ gai, dầu cù là… để phòng khi cần đến  cho dễ tìm; còn ống nhổ thì  để ở chân giường  hoặc xó nhà  tránh đụng ngã. Trẻ con biết bò hoặc lò dò biết đi  rất thích nghịch cão trầu, bỡi trong đó có nhiều đồ vật  lạ mắt, đặc biệt là ống xoáy  trầu, vừa nhỏ xinh, vừa có tiếng leng keng của que sắt chạm vào ống trầu rất vui tai.

Dụng cụ  để quệt vôi gọi là cái chìa vôi. Bình vôi loại thường thì dùng bằng chìa tre, dài hơn cây bút bi  vót tròn; bình vôi sang thì  dùng bằng chìa sắt. Có khi chìa vôi  cột chung với lưỡi dao để rọc trầu, gọi là dao ăn trầu. Dao này  thường có chuôi nhọn như mũi tăm để vừa  rọc trầu, vừa têm trầu, hoặc rọc lá làm nón  chứ không dùng vào việc khác.

          Bình vôi có nhiều loại, thường làm bằng đất nung, sau bằng sứ, bây giờ thì đựng vào những lọ nhựa, lọ thuỷ tinh cho tiện, nhưng không đẹp.

           Bình vôi đất nung  ở quê tôi cũng giống như “ông bình vôi” trong truyện của   nhà văn Phan Khôi in trong “Việt nam Thi nhân tiền chiến” hồi giữa thế kỷ trước. Bình giống như cái hũ nhỏ, cổ eo, miệng loa; có loại bình tròn, đít bằng , trên có quai xách, miệng ở về một bên, toàn thân tô màu lục hoặc màu vàng, màu da lương…         

Bình vôi được gọi một cách trân trọng là “Ông Bình Vôi” . Khi ông bình vôi  vỡ, hỏng hoặc đầy vì  vôi chết trong ruột không cạy được, người ta không vứt đi mà  trang trọng đặt ở  gốc đa, gốc bồ đề trong làng, nơi thường để những ông táo, lò vỡ, hỏng. Trong truyện của nhà văn Phan Khôi thì “Ông bình vôi “ hỏng được bà mẹ đặt lên trang thờ chứ không chịu bỏ đi.         

Khi “ông bình vôi “đói cũng tức là vôi đã hết, mẹ tôi  mua vôi về dùng cái chìa  vôi quệt vôi nhét vào miệng bình vôi cho “ông bình vôi “ ăn.Vào buổi tối, nhất thiết phải rút cái chìa vôi ra khỏi miệng “ông bình vôi “để có cái cho “ông bình vôi “ thở mà ngủ cho yên giấc. Còn mẹ của nhà văn Phan Khôi thì lại cắc nghĩa rằng” Ông bình vôi “ linh lắm, đêm hôm có kẻ trộm, kẻ đạo “ông “sẽ mách cho mình, mà nếu để cái chìa vôi lấp cái miệng thì không mách được.”    

 -Nhuộm răng ăn trầu- một cách làm đẹp của người xưa   

Khi ăn trầu, răng lợi thường dính cốt trầu đen xĩn, nên đàn ông, đàn bà đều đi nhuộm răng. Có được hàm răng đen bóng như hạt huyền là điều mơ ước của nhiều người .Đầu tiên, người ta dùng than giã nhỏ cho vào một bọc vải nhỏ bằng ngón tay để chà răng cho sạch lớp men cũ, sau đó  dùng quả lựu tươi  thái nhỏ, sắc nước để ngậm thường xuyên trong hai ngày   một đêm , kể cả khi ra đồng làm việc. Chỉ những lúc ăn, uống thì mới nhổ ra. Có nơi không có lựu thì dùng vỏ quả dừa tươi sắc nước ngậm thay nước lựu.Ngậm xong dùng một thứ thuốc( được chế bằng cách  cô đặc nước lựu sắc nói trên thành chất keo) để bôi lên răng trong một ngày đêm. Cuối cùng, người ta dùng thuốc rỏi là một loại bột  màu hồng được bán nhiều ở chợ Gò Găng để chà lên răng cho đến kỳ đen bóng mới thôi. Từ lúc ngậm nước lựu đến khi chà thuôc rỏi, mỗi lần súc miệng, không súc bằng nước lạnh  mà súc bằng  nước mắm Gò Bồi để sát trùng  và làm cho các loại thuốc không phai.

Với cách nhuộm này mà mẹ tôi cũng như nhiều cụ khác trong thôn giữ được hàm răng  đen bóng trong hơn  nửa thế kỷ.Người ta quan niệm răng càng đen, càng đẹp, nhưng càng về sau ,tục ăn trầu giảm dần, chỉ còn những bà cụ già, còn đàn ông thì chuyển sang hút thuốc  ngon hơn.

Vì thế, tục nhuộm răng ở Bình Định càng về sau càng mất dần, và khi  văn hoá phương Tây du nhập thì  không còn ai nhuộm răng và cũng ít người ăn trầu, chỉ sót lại vài cụ bà đã trên bảy tám mươi tuổi. Qua khảo sát ở xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, Bình Định, số người  nhuộm răng, ăn trầu  hiện còn rất ít như cụ: Mai Xuân Lang, Năm Lư, Trần Thị Ba, Lê Thị Hợi, Nguyễn Thị Lạc, Huỳnh  Thị Hạ… đều đã trên tám mươi tuổi.Nhờ ăn trầu  có vôi và  trầu cau, thuốc, rễ có vị cay, chát sát trùng  nên răng cụ nào  cũng khá tốt  dù chưa bao giờ dùng  bàn chải  và thuôc đánh răng như lớp trẻ bây giờ.  /.



MAI THÌN


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC