TAM NGUYỄN - TAM TỐNG ANH THƯ

(Kỷ niệm 81 năm hy sinh của Việt Nam Quốc dân đảng và
Kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi, Trung Quốc)





TAM NGUYỄN – “BA BÔNG HOA” CỦA VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG

Đó là 3 chị em : Nguyễn Thị Bắc, Nguyễn Thị Giang và Nguyễn Tỉnh, quê tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang - đều là đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học (1901 – 1930), trong chi bộ Bắc Giang.

Năm 1929, Cô Giang gặp Nguyễn Thái Học lúc ông đang hoạt động chống Pháp và thành lập Việt Nam Quốc dân đảng, rồi hai người yêu nhau và Cô Giang trở thành người thân tín nhất của Nguyễn Thái Học. Cô Giang cùng Cô Bắc và Cô Tỉnh từng tham gia tích cực vào việc tuyên truyền, liên lạc giữa các cơ sở đảng ở các tỉnh: Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Vĩnh Yên…

Sau khi cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng thất bại, ngày 17-6-1930 Nguyễn Thái Học và 12 yếu nhân của đảng lên máy chém ở Yên Bái, vào một buổi sáng tinh mơ. Đảng trưởng Nguyễn Thái Học lên máy chém cuối cùng, ông mỉm cười, ngâm thơ tiếng Pháp:

“Mourir pour sa partie, C’est le sort le plus beau, le plus digne…d’envie…”

( Chết vì Tổ quốc, Cái chết vinh quang, Lòng ta sung sướng, Trí ta nhẹ nhàng…)

Cô Giang đã đến tận pháp trường để chứng kiến cái chết anh dũng của Nguyễn Thái Học – vị hôn phu, và các đồng chí khác. Sau khi chào vĩnh biệt, cô Giang về nhà trọ viết hai bức thư: Một thư gửi song thân tạ lỗi vì tội bất hiếu, tự tử chết trước cha mẹ.

Bức thư thứ hai – gửi hương hồn Nguyễn Thái Học – viết:

“Anh đã là người yêu nước, không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước. Anh giữ lấy linh hồn cao cả, để về dưới suối vàng chiêu binh rèn súng đánh đuổi quân thù.

Phải chịu đựng nhục nhã mới mong có ngày vẻ vang. Các bạn đồng chí còn sống lại sau anh phải phấn đấu thay anh để đánh đổ cường quyền mà cứu đồng bào đau khổ.”

Và bài thơ lục bát tuyệt mệnh:

Thân không giúp ích cho đời,
Thù không trả được cho người tình chung.
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết bao ?
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây.
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Số đồng chí đã có ngày ghi tên.
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình.
Quốc kỳ phấp phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng lỡ bước sa cơ,
Chết thừa , chết thảm, có thừa xót xa.
Thế ru ? Đời thế ru mà ?
Đời mà ai biết, người mà ai hay…

Cùng ngày Cô Giang quay về làng Đồng Vệ, tỉnh Vĩnh Yên (giáp làng Thổ Tang, quê của vị hôn phu Nguyễn Thái Học) dùng súng lục tự tử như lời thơ tuyệt mệnh.


 
Ba chị em họ Tống

TAM TỐNG - BA BÔNG HOA TRUNG QUỐC NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

TỐNG GIA THỤ - NGƯỜI TẠO DỰNG MỘT TRIỀU ĐẠI

Là thân phụ của ba chị em gái: Tống Ái Linh, Tống Khánh Linh, Tống Mỹ Linh và ba trai: Tống Tử Văn cùng 2 em.

Nếu không nhờ tinh thần khai sáng và tư tưởng mại bản của Tống Gia Thụ thì đã không xuất hiện một vương triều Tống gia hiển hách như vậy; và nếu ông không từng trải ở Mỹ, không thông minh sáng suốt, tài cán thực dụng thì cũng không thể sinh thành ba chị em gái họ Tống sáng láng, lẫy lừng nhường kia. Ông nguyên quán huyện Văn Xương, đảo Hải Nam, họ gốc Hàn - Hàn Giáo Chuần. Do gia cảnh khó khăn nên khi lên 9 tuồi, ông cùng người anh vượt biển qua Singapore làm thuê; Rồi ông theo người cậu họ Tống vượt biển sang Boston, Mỹ và ông được nhận làm con nuôi, hai người đồng ý thay đổi tên: Tống Gia Thụ. Ông đến bang North Carolina, được giới thiệu với mục sư Ricaud, ông chấp thuận quy y Thượng đế, theo đạo Cơ Đốc, ông mục sư có ý tưởng cần đào tạo Gia Thụ trở thành một giáo sĩ truyền đạo kiêm nghề thầy thuốc.

Tốt nghiệp đại học Thần học, ông Tống rời Tây bán cầu về Thượng Hải. Ông không biết nói tiếng địa phương, nên phải bắt đầu học, đọc sách báo Trung văn, ra sức truyền giáo và dạy Anh văn ở các trường công lập của Thượng Hải. Hai năm sau ngày cưới mỹ nữ Nghê Quế Trân, ông được công nhận Mục sư chính thức, trở thành giáo sĩ cố định của vùng ngoại ô Phố Đông, Thượng Hải và bí mật gia nhập tổ chức phản Thanh – Tam Hợp Hội, lãnh đạo Hội Thanh niên Cơ Đốc giáo Trung Hoa, quyên tặng kinh phí cho Hội. Tống là người theo chủ nghĩa cơ hội, trí tuệ và kiến thức khiến ông tự nguyện “đầu tư vốn lớn” vào sự nghiệp cách mạng của Tôn Trung Sơn., vì cùng đã từng “uống mực Tây dương”, lại chung giáo đồ Cơ Đốc, Tôn – Tống hai người như có trước cơ duyên, tuy mới gặp nhau lần đầu mà cảm thấy quen thân tựa cố nhân vậy.

Năm đó lần đầu tiên Tôn Trung Sơn đến thăm vợ chồng Tống và đã nhìn thấy bé gái Tống Khánh Linh bước sang tuồi thứ 2, không ngờ 21 năm sau Khánh Linh trở thành một thiếu nữ khả ái, du học ờ Mỹ về nước, kết hôn cùng Tôn, dù lớn hơn mình 27 tuổi. Vợ chồng Tống đã có sáu người con: trưởng nữ Ái Linh (sinh 1889), thứ nữ Khánh Linh (sinh 1893), trưởng tử Tử Văn (sinh 1894), tam nữ Mỹ Linh (sinh 1897), thứ tử Tử Lương (1899) và Tử An (1906). Đây là sáu thành viên cơ bản của “vương triều Tống gia” sau này.

Ngày 10-10-1911, khởi nghĩa Vũ Xương thắng lợi, cách mạng Tân Hợi thành công, Tôn Trung Sơn được đề cử làm Tồng thống lâm thời Trung Hoa Dân quốc. Đầu năm 1912, Tôn về Nam Kinh tuyên thệ nhậm chức, cả nhà Tống đều đồng hành dự lễ, sau đó Tôn – Tống hai người vui vẻ chọn Ái Linh, vừa tốt nghiệp từ Mỹ về nước năm 1910, làm thư ký Anh văn cho Tồng thống.

Tống Khánh Linh, sau khi tốt nghiệp cùng trường, nơi chị mình đã từng theo học là Wesleyan College, ngày 29-8-1913, đã về đoàn tụ cùng gia đình ở Nhật Bản. Ngày 30, Cha và chị Ái Linh đưa Khánh Linh đến thăm Tôn Trung Sơn, đầy là lần đầu tiên Khánh Linh được diện kiến nhà cách mạng mà bấy lâu nay cô hằng ngưỡng mộ, cô rất phấn khởi khi đàm đạo với Tôn, nhưng cô đã nhận ra vẻ tiều tụy của Tôn, bởi lúc này sự nghiệp cách mạng đang lâm vào nghịch cảnh, giang sơn do bao chiến sĩ cách mạng hy sinh xương máu mới giành được, đã rơi vào tay Viên Thế Khải.Ít lâu sau, Khánh Linh hăng hái sung vào hàng ngũ của cha và chị mình, giúp đỡ Tôn, sau Tôn đau bệnh đường ruột phải đi bệnh viên, hai chị em cùng chăm sóc ông, rồi dần dần chỉ một mình Khánh Linh mà thôi. Tại Tokyo, Ái Linh gặp lại Khổng Tường Hy, bạn cũ quen nhau hồi ở New York, lúc này làm tổng cán sự Hội Thanh niên Cơ Đốc giáo của Hoa kiều, vợ Khổng đã qua đời nên Khổng cầu hôn với Ái Linh, sau kết hôn, vợ chồng trở về Thượng Hải, Khánh Linh thay chị chính thức làm thư ký Anh văn cho Tôn Trung Sơn.

BÃO TỐ VÌ HÔN NHÂN TÔN – TỐNG

Tháng 6-1915, Khánh Linh một mình xin cha mẹ cho phép gả làm vợ Tôn. Cả nhà họ Tống kinh ngạc, hoảng hốt, cha và chị cô hoàn toàn phản đối, bèn giam lỏng cô, không cho ra khỏi nhà.

Về phần Tôn Trung Sơn cũng thật sắt đá, đón vợ là Lư Mộ Trinh đến Tokyo làm thủ tục ly hôn. Một đêm tháng 10-1915, được người hầu gái giúp đỡ, Khánh Linh trèo qua cửa sổ trốn ra ngoài rồi cùng cha con Chu, người đồng hương với Tôn lên đường sang Nhật Bản. Trưa ngày 24-10, Tôn đón Khánh Linh ở ga xe lửa Tokyo, ngày hôm sau họ cử hành hôn lễ, đến chúc mừng đôi tân hôn Tôn – Tống có Liêu Trọng Khải, Trần Kỹ Mỹ…ai cũng đầu lắc đầu trước hành động quả cảm của tân lang và tân nương. Cha cô đến Nhật Bản và mắng Tôn hết lời, cha cô định phá đám cưới nhưng bất thành, nên cuối cùng tuyệt giao với bác sĩ Tôn và cắt đứt quan hệ phụ tử cùng con gái. Cha cô u buồn, đổ bệnh, tuy vậy, ông vẫn không đành lòng để con gái tủi phận, nên sau đó đã gửi của hồi môn cho Khánh Linh. Tống Gia Thụ, dù vậy, vẫn tiếp tục cộng tác với Tôn Trung Sơn trên lãnh vục chính trị. Năm 1918, Tống tạ thế vì ung thư dạ dày.

Tống Gia Thụ đã tạo dựng một “vương triều Tống gia”, cuộc hôn nhân Trung Sơn – Khánh Linh đã tăng thêm vòng hào quang chính trị cho vương triều ấy. Mọi thế lực Tống gia đều qua đó mà phát triển, mở rộng, nếu không có cuộc hôn nhân Tôn – Tống thì năm người con khác của họ nhà Tống đâu có được rạng rỡ như thời đó.

HÔN NHÂN TƯỞNG – TỐNG LÀM THAY ĐỔI LỊCH SỬ

Tháng 6-1917, Tống Mỹ Linh tốt nghiệp đại học Wellesley, tháng 7 thì Tử Văn cũng tốt nghiệp ở Harvard, đều ở bang Massachusetts. Năm ấy Tống gia đoàn tụ và họ đã chụp được bức ảnh cả nhà duy nhất và sang năm sau (1918) thì Tống Gia Thụ tạ thế. Mỹ Linh từng có 10 năm ở Mỹ (1907-1917), bà xâm nhập vào nền giáo dục, văn hóa và xã hội của nước này, được đào tạo Mỹ hóa một cách triệt để và những gì thu hoạch nơi đây đã ảnh hưởng cả cuộc đời bà.

Đầu tháng 12-1922, Tống Tử Văn chủ trì dạ hội Cơ Đốc giáo tại nhà Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch đã gặp Tống Mỹ Linh ở đây, vẻ đẹp kiêu sa, dáng dấp thanh nhã và cách nói chuyện lịch thiệp của nàng liền làm Tưởng say đắm, quyết định phải tấn công cho được cô gái từ nước Mỹ thành đạt trở về.Tưởng bèn nhờ Tôn làm ông tơ bà nguyệt. Tưởng trình bày, hạ cấp đã ly dị vợ trước là Mao Phúc Mai (mẹ của Tưởng Kinh Quốc), cắt đứt quan hệ cùng hầu thiếp Diêu Dã Thành rồi, nhưng ông không dám đả động gì tới Trần Khiết Như vừa mới kết hôn. Vì chuyện hôn nhân của Mỹ Linh, Tống gia phải họp, thảo luận nên hay không nên gả cho Tưởng Tổng tư lệnh: Tống mẫu không tán thành, hai người nữa - Khánh Linh và Tử Văn - cũng phản đối Mỹ Linh lấy Giới Thạch. Duy chỉ có Khổng phu nhân Ái Linh là rất tích cực và nhiệt tình vun vào, bà khôn ngoan, lanh lợi, bà hình dung ngày thành công của Tưởng không còn xa nữa. Tống gia như đứng trước nguy cơ phân liệt, Ái Linh và Mỹ Linh xin Tống mẫu cho mời Đàm Diên Khải đứng ra dàn xếp. Đàm tiên sinh với tư cách là bậc cha chú và yếu nhân của Quốc Dân đảng, lựa lời khuyên bảo Tống Tử Văn nên chấp thuận, lúc đó sẽ làm Bộ trưởng Ngoại giao, chồng cùa Ái Linh làm Viện trưởng Hành chính (Thủ tướng). Tử Văn còn giúp vợ chồng Khổng - Ái Linh thuyết phục thân mẫu. Mầm mống liên minh giữa ba gia tộc Tưởng, Khổng, Tống đã bắt đầu nhen nhúm, làm thay đổi hướng đi lịch sử Trung Hoa Dân quốc.

Tưởng năn nỉ, dàn xếp để vào tháng 8-1927 Khiết Như sang Mỹ du học – Tưởng hứa là chỉ 5 năm, sau đó “tình xưa nghĩa cũ quyết không mờ !”… Tháng 9 năm đó, Ái Linh họp báo công khai loan tin cuộc hôn nhân Giới Thạch – Mỹ Linh đang đi vào màn chót. Hôn lễ cừ hành vào ngày 1-12-1927, một đám cưới thế kỷ khiến thiên hạ lác mắt.

CHỊ CẢ ÁI LINH ĐỨNG SAU GIẬT DÂY

Tống Ái Linh lợi dụng chức quyền, đặc quyền vơ vét tiền của làm giàu, chồng là Khổng Tường Hy làm Viện trưởng hành chính, em Tử Văn, bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ Tưởng Giới Thạch – đầu não của chính phủ Trung Hoa Dân quốc. Ngày 19-10-1973, Ái Linh qua đời ở New York, thọ 84 tuổi.

CHỊ HAI KHÁNH LINH ĐỘC LẬP

Khánh Linh là tương đối độc lập một mình, tư tưởng tiến bộ, tả khuynh, chủ nghĩa nặng về lý tưởng khiến nội bộ chị em sinh ra xung đột. Ái Linh và Mỹ Linh liên kết thành một phe, còn bà đơn thương độc mã. Đối với Tống gia và Trung Quốc thì cuộc hôn nhân Tôn – Tống là một sự kiện lớn và có ảnh hưởng rất sâu xa. Một thập niên (1915-1925) sống với Tôn Dật Tiên là đoạn đời vui vẻ, hạnh phúc nhất, toại nguyện nhất của Khánh Linh. Chồng ra đi giữa lúc tráng kiện càng khiến bà phải đối mặt với bao biến động to lớn. Vào lúc 9h30 ngày 12-3-1925, Tôn trút hơi thở cuối cùng, thọ 59 tuổi.

Sau năm 1927 thì tình cảm giữa ba chị em họ Tống thật sự đã rạn nứt: Ái Linh và Mỹ Linh thuộc phái Tưởng Giới Thạch, còn Khánh Linh lại lãnh đạo phe chống Tưởng.

Bà đã chọn Đảng Cộng sản: ngày 26-8-1949, bà được vợ Chu Ân Lai, tháp tùng đi từ Thượng Hải lên Bắc Kinh. Mao ra đón bà ở sân ga. Và sau đó, Hội nghị Chính trị bầu Mao làm Chủ tịch chính phủ nhân dân trung ương và 6 vị Phó Chủ tịch, trong đó có Khánh Linh. Rồi bà gia nhập Đảng và ngày 29-5-1981, Khánh Linh qua đời, và được phong là Chủ tịch danh dự suốt đời và duy nhất của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

NHỜ MỸ LINH, TRUNG QUỐC CHEN CHÂN VÀO “TỨ CƯỜNG”

Ngày 4-7-1943 Mỹ Linh rời Mỹ bay về nước, sau chuyến công du hơn nửa năm. Bà đã gây được cảm tình quý mến, thán phục của Quốc hội và ông bà tổng thống Mỹ Roosevelt.

Ngày 7-12-1941, Nhật đột kích Trân Châu cảng, hành động đó đã làm thay đổi một cách triệt để tính chất cuộc kháng chiến chống Nhật của Tưởng.

Mỹ không chỉ viện trợ kinh tế, ủng hộ chính trị cho Trung Quốc, mà quan trọng hơn nữa là, bất chấp sự phản đối của Liên Xô và Anh, tổng thống Mỹ quyết tâm đưa Trung Quốc lọt vào nhóm Tứ cường (Big four). Tưởng Giới Thạch bỗng dưng đứng vào hàng ngũ Tứ cường, tên tuổi ông sắp bên cạnh Roosevelt, Churchill và Stalin. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, thêm Pháp của tướng De Gaulle ,thành nhóm Ngũ cường. Khi tổ chức Liên Hiệp Quốc được thành lập, nhóm Ngũ cường trở thành 5 Hội viên Thường trực trong Hội đồng Bảo an, duy nhất chỉ có 5 Ngũ cường là Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Pháp có quyền phủ quyết – quyền này chi phối hoàn toàn quyền hạn của cơ quan quyền lực cao nhất này của Liên Hiêp Quốc.

Ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tiến chiếm Đại lục, Tưởng phải ra cố thủ ở đảo Đài Loan. Ngày 25-10-1971, chính phủ Đài Loan trước đây đại diện nước Trung Quốc tại Hội đồng Bảo an - Liên Hiệp Quốc bị trục xuất và nhường chức vị Hội viên Thường trực cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nắm (Trung Quốc vẫn giữ “China” của Đài Loan , để quyền đại diên được liên tục), tiếp đến Nixon hội đàm với Mao, Chu, đến ngày 5-4-1975, Tưởng đã đau đớn từ trần, thọ 87 tuổi. Nhưng phu nhân Tống Mỹ Linh – người đã nhờ tài ngoại giao, hùng biện, đã giúp Trung Quốc lọt vào nhóm Ngũ cường, rồi thành Hội viên Thường trực trong Hội đồng Bảo an, với thế lực tuyệt đối to lớn đối với an ninh thế giới - mãi tới năm 2004 mới qua đời tại Mỹ, thọ 107 tuổi.


(Tham khảo: - sách Tống Mỹ Linh,NXB Tp. HCM 2006 và các nguồn khác)

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 31.08.2011 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com