GIA CÁT LƯỢNG


MẠNH ĐOÀN


I - Thân thế và chính sách ông Gia Cát

Đồn Ngũ Trượng Nguyên gió thu heo hắt, Sao Tướng tinh hai mươi mốt năm vằng vặc, phút chốc sa rơi khiến người trăm nghìn năm sau đọc chuyện còn ngậm ngùi tưởng nhớ. Nhớ ai? Ông Gia Cát Lượng!
Ông sinh cuối đời nhà Hán đương buổi vua không quyền, quan tham nhũng, hào kiệt nổi lên đánh cướp các châu quận. Sau tuy giặc Hoàng Cân đã yên, hai họ Viên đã đổ, nhưng còn Lưu Biểu ở Kinh, Tương, Lưu Chương ở Ba Thục, Tào Tháo hiếp vua ở Uyển Lạc, Tôn Quyền xưng đế ở Giang Đông, mấy tay đều là binh hùng tướng mạnh.
Duy có ông Lưu Bị, tuy chân trắng khởi lên, song có khí phách anh hùng, vốn giòng hoàng tộc, cho nên ông Gia Cát không theo bè mạnh, mà về cánh yếu. Ấy là chỗ thấy biết của ông khác hơn người thường vạn bội!
Cuộc đời đương sôi nổi, ông vẫn nằm khểnh trên đồi núi Ngọa Long, rung đùi ngâm thơ, tự ví mình như họ Quán, họ Nhạc ở thời Xuân Thu Chiến Quốc. Nhạc, tức là ông Nhạc Nghị, làm tướng nước Yên, đánh nước Tề, hạ hơn 70 thành, sau bị kẻ dèm pha, phải bỏ nước đi, mà tuyệt không có một câu gì oán hận. Quản, tức là ông Quản Trọng, làm quan thời vua Hoàn Công nước Tề, lập ra các chế độ: nào chính trị, nào hình luật, nào tư tưởng quốc gia, nào cạnh tranh kinh tế, không khác gì chính thể lập quốc bên Thái Tây, đương như lủa bốc ngùn ngụt hiện thời bây giờ. Người ta cứ thấy cái văn minh mới kia, ai chẳng tưởng đâu sinh ra tự người Âu, ngờ đâu phương Đông đã có người thực hành tự hơn hai nghìn năm về trước.
Ông Gia Cát cùng một cái chí hướng binh mạnh, nước giàu như ông Quản Trọng làm tướng nước Tề, nên sau khi ra giúp vua Chiêu Liệt, nghiêm hình phạt, khẩn ruộng, luyện binh, nhất thiết đều noi theo chính sách như họ Quản. Người không hiểu thời thế, bài bác cho là “bá đạo” thực không phải lời bàn xác đáng. Cứ xem cái xuất, xử, và phong tiết của ông thì tự xưa nay mới thấy có một.

II - Ông Gia Cát thời kỳ tuổi trẻ

Ông tên Lượng, họ là Gia Cát, tên chữ là Khổng Minh, truy tặng là Vũ Hương Hầu, người ở quận Lang Gia tức là phía nam huyện Kỳ Thủy, tỉnh Sơn Đông bây giờ. Cha mẹ chết sớm, ông ở với chú làm quan Thái Thú châu Dự Chương, sau chú thôi quan, đem ông cùng theo Lưu Biểu ở Kinh Châu. Sau khi ông chú mất. Ông lui về ẩn chờ thời.
Vốn đất Kinh, Lạc là trung tâm điểm nước Tàu, tự xưa nay, đời thái bình, tức là nơi đô hội phồn hoa, thời loạn ly, tức là chỗ anh hùng lui tới.
Trong tỉnh, nhất có quận Nam Dương là phong cảnh đẹp, một dãy đồi, khởi từ phía nam núi Tung Sơn, kéo dài hàng mấy trăm dặm, đến đấy là cùng; non nước hữu tình, ở nhà làm dân cày cũng không đói, gặp thời ngang dọc, ra Tương, Hán, qua Phân, Đặng, cùng liên lạc với các bậc hào kiệt thiên hạ cũng tiện đường.
Bởi thế cho nên ông Gia Cát cất mấy gian nhà lá trên đồi Ngọa Long, cầy cấy cho qua thời; rồng nằm đáy nước, hổ ẩn hang sâu, các bậc thánh hiền chưa đạt ngày xưa âu cũng thế.
Đương thời kỳ ấy,Tào Tháo thiên vua sang Hứa Đô, anh em họ Viên, như cá vượt đăng, Lã Bố như hổ xuống núi, thiên hạ sôi nổi, ăn không ngon, ngủ không yên!
Thế mà ông Gia Cát Lượng nghiễm nghiên riêng một thú Đào nguyên, gảy đàn, ngâm thơ, thường kết bạn chơi với ông Thạch Quảng Nguyên, ông Từ Nguyên Trực và ông Mạnh Công Uy. Ông nói đùa bảo ba ông ấy rằng: “Các bác có ra làm quan, cũng chỉ đến Thứ Sử, hoặc Phủ, Huyện là cùng”. Ba ông kia hỏi lại ông, ông cười tỉm không nói. Sau ông Công Uy nhớ nhà muốn về. Ông nói: “Trượng phu bốn bể là nhà, cứ gì chỗ đất chôn nhau cắt rốn”.
Gần vùng ấy có ông Hoàng Thừa Ngạn, là một bậc ẩn quân tử ở Miện Dương, nói với ông Gia Cát rằng:
“Nghe tiên sinh kén nội trợ, lão nay có một gái tóc vàng da đen, tuy người xấu xí, mà tài giỏi giang, thực tốt đôi lắm”.
Ông Gia Cát bằng lòng, khi rước dâu về, làng nước ai cũng cười đặt ra câu phong dao diễu ông con mắt không tinh đời.
Cùng huyện, có người tên Bàng Đức Công nổi tiếng tài học, ông Tư Mã Huy tôn như bực anh, lấy người em gái ông Gia Cát, vợ chồng cùng kính nhau như khách quý. Đức Công có cháu gọi bằng chú tên là Bàng Thống, người cũng xấu, mà chất lại độn, duy có Đức Công, với Tư Mã Huy biết là kỳ tài, rất lấy làm trọng, thường gọi ông Gia Cát là “Ngọa long” (con rồng ngủ), ông Bàng Thống là “Phượng sô” (Chim phượng non).

III - Thời kỳ xuất, xử của ông Gia Cát

Trong thời kỳ ông Gia Cát đương cày ruộng ở Nam Dương, thiên hạ xảy ra cuộc biến loạn, các hào kiệt nổi lên, chí cũng định tranh vương, đồ bá. Khi ấy ông Lưu Bị, có đến hỏi ông Tư Mã Huy, ông Huy đáp rằng:
- Chúng tôi vốn anh đồ cuồng, biết gì thời vụ? Biết ra, ở đây chỉ trừ có Ngọa Long, với Phượng sô, được một người cũng bình định được thiên hạ.
Từ Thứ cũng nói với Lưu Bị khi ở Tân Giã rằng:
- Ông Ngọa Long Gia Cát, tài giỏi còn gấp trăm tôi, tướng quân nên cố đón mời, sao cho được ông ấy ra giúp sức!
Sau Lưu Bị ba lần thân đến chốn thảo lư ông mới chịu ra.
Trong khi trò chuyện , ông Lưu Bị hỏi:
- Nay nhà vua không quyền, quân gian loạn nước, tôi, tài hèn, trí hẹp, muốn đem nghĩa cả, giãi bày ra với thiên hạ, tiên sinh có kế gì , xin chỉ giáo cho?
Ông đáp rằng:
- …Hiện thế ngày nay, gần thành như chân đỉnh, Tào Tháo quân quyền có hàng trăm vạn, vả lại đem vua làm bù nhìn, cũng khó mà đánh đổ nổi họ. Tôn Quyền hùng cứ đất Giang Đông, lòng dân theo phục đã trải ba đời, vả lại có sông Trường Giang ngăn hạn, vậy ta chỉ nên liên lạc lấy làm ngoại viện, chứ không nên tranh hành. Duy chỉ có Kinh Châu, phía bắc đến Hán, Miện, phía nam ra bể, phía đông giáp Ngô, Cối, phía tây thông Ba Thục, là chỗ đất rất lợi, thế mà Lưu Biểu không biết dùng, ấy tức là trời còn để phần riêng cho Tướng quân đấy! Tướng quân có muốn chỗ ấy hay không?
Còn Ích Châu là nơi hiểm địa, đồng rộng, thóc nhiều, xưa vua Cao Tổ, nhờ đấy mà thành cơ nghiệp đế vương. Nay Lưu Chương ngu hèn, Trương Lỗ biển lận, Tướng quân vốn giòng giõi nhà Hán, tín nghĩa đã rõ vang lừng trong bốn bể, nếu gồm được cả hai châu Kinh, Ích, phía tây hòa các nước Phiên, phía nam thông với nước Việt, một mặt kết với họ Tôn, một mặt sửa sang chính trị, chờ cơ hội, sai một viên thượng tướng dẫn quân Kinh Châu, thẳng chỉ kinh thành Uyển, Lạc, Tướng quân thống đạo quân châu Ích, kéo ra Tần Xuyên, lo gì thiên hạ chẳng tranh nhau sách giỏ cơm bầu nước, đón rước nghĩa quân. Có thế mới khôi phục lại được cơ đồ nhà Hán cũ.
Ông Lưu Bị nghe rất lấy làm phải, liền đón ông Gia Cát về làm Quân sư, hai ông Quan Vũ, Trương Phi, có ý không bằng lòng, ông Lưu Bị gạt đi nói:
- Ta được ông Gia Cát như cá gặp nước, hai em thôi đừng nói nữa.

IV - Trận đánh ở Xích Bích

Niên hiệu Kiến An thứ 12, nhân dịp Tào Tháo đem quân đánh nước Ô Hoàn. Ông Lưu Bị bảo Lưu Biểu nên thừa thế đánh úp lấy Hứa Đô, Lưu Biểu không nghe, việc rồi, sau hối lại, phàn nàn với Lưu Bị rằng:
- Nghĩ dại không nghe ông, bỏ mất cơ hội lớn.
Lưu Bị ung dung đáp rằng:
- Thiên hạ đương phân liệt, chẳng cơ hội này, còn cơ hội khác lo gì.
Khi Lưu Biểu mất, con là Lưu Tôn nối. Tào Tháo đem quân xuống miền nam, Tôn mật sai sứ đến cửa quân Tào xin hàng. Lúc ấy, Lưu Bị ở Phàn Thành chưa biết, sau được tin cả giận. Ông Gia Cát khuyên Lưu Bị thừa thế đánh lấy Kinh Châu, Lưu Bị không nghe nói rằng:
- Khi Lưu Biểu hấp hối, có ký thác con côi cho ta, nay trái với lời hứa, không phải là trượng phu!
Nhân dân ở Kinh Châu, phần nhiều bỏ xứ sở theo Lưu Bị, khi đến Đương Dương, cả quân dân có hơn mười vạn, hành lý mấy nghìn xe, mỗi ngày chỉ đi được hơn mười dặm, phải sai ông Quan Vũ chở mấy trăm chiếc thuyền cùng hội ở Giang Lăng.
Có người khuyên Lưu Bị nên đi gấp mau cố thủ lấy Giang Lăng, chứ nếu lẵng đẵng với bọn dân, quân Tào đuổi kịp đến đây, lấy gì mà chống cự.
Lưu Bị không nỡ, Tào Tháo biết Giang Lăng là nơi nhiều lương thảo, sợ Lưu Bị phỗng tay trên mất, nên thúc quân đuổi riết đến Tương Dương, nghe đã đi xa, liền vội vàng chọn lọc năm nghìn quân khinh kỵ, trong một ngày một đêm, đi hơn 300 trăn dặm, theo gặp ở cầu Trường Bản đất đương Dương. Lưu Bị phải bỏ cả vợ con, tướng tá, dẫn vài mươi tên lính, đi đường tắt sang Hán Tân, vừa gặp đạo thuyền ông Quan Vũ, sang được qua sông Tế Miện. Con trưởng Lưu Biểu làm Thái thú ở Giang Hạ, cũng đem hơn một vạn quân lại hội, cùng kéo nhau về Hạ Khẩu.
Tào Tháo chí định bắt sống Lưu Bị, giá trị còn bằng mấy Kinh Châu, nên đem đại quân cố trừ cho khỏi lụy sau.
Ông Lưu Bị còn ít cô quân đón gở Hạ Khẩu, như trứng chọi với đá, tình thế rất nguy ngập.
Ông Gia Cát hiến kế:
- Nay muốn gỡ cái nước cờ bí, chỉ có cách sang cầu cứu bên Đông Ngô, đem cái nghĩa  “môi hở răng lạnh” mà thuyết cho họ tỉnh ngộ, cùng ta liên lạc, mới phá nổi được quân Tào. Tôi là kẻ bất tài, xin lãnh cái trách nhiệm đi ấy.
Hồi ấy, Tôn Quyền đóng quân ở Sài Tang để chờ xem cuộc cờ thành bại, có sai Lỗ Túc sang thăm, vì thế, ông Gia Cát được người giới thiệu vào yết kiến Tôn Quyền.
Ông Gia Cát nói khích Quyền rằng:
- Tướng quân hùng cứ ở Đông Ngô, Ông Lưu Dự Châu cũng khởi binh ở Hán Nam, cùng với Tào Tháo tranh thiên hạ. Nay họ Tào đi phá Kinh Châu, uy lừng bốn bể, kẻ anh hùng không có chỗ giở nghề được nữa. Cho nên ông Lưu Dự Châu phải trốn chạy qua đây. Còn Tướng quân nên liệu sức mình, nếu đánh nổi được Tào sẽ đánh, bằng không cũng nên tính sớm hàng họ trước đi, xin đừng dùng dằng hồ nghi, nước đến chân khó nhẩy?
Tôn Quyền đáp:
- Cứ như lời tiên sinh sao Lưu Dự Châu không hàng quách đi có xong không?
Ông Gia Cát nói:
- Xưa Điền Hoành là tráng sĩ nước Tề, còn không chịu nhục, nữa là ông Lưu Dự Châu, vốn dòng dõi vua Hán, lẽ nào lại chịu khuất dưới quyền người?
Tôn Quyền nổi tức nói:
- Quân ta có hơn mười vạn, việc gì phải luồn cúi ai? Ta nhất định đánh! Nhưng Lưu Dự Châu vừa mới bị thua, mất cả nhuệ khí còn làm gì được?
Ông Gia Cát nói:
- Lưu Dự Châu tuy thất thủ ở Trường Bản, nay thu thập cả thủy, bộ cũng còn hơn vạn người, hợp với Lưu Kỳ ở Giang Hạ, số quân cũng tương đương như thế. Quân Tào đi một ngày một đêm đến 300 dặm, sức cũng đã đuối, binh pháp rất lấy thế làm kỵ. Vả lại người phương bắc không quen thủy chiến, mà dân Kinh Châu vì thế bức phải đi theo Tào, không phải khâm phục. Nếu Tướng quân định đánh, chỉ sai một viên đại tướng, đem vài vạn quân, cùng hợp sức với ông Lưu Dự Châu tôi, quyết thế nào cũng thừa cức phá nổi quân Tào. Việc thành hay bại ở ngày hôm nay.
Tôn Quyền nghe lấy làm phải, liền sai bọn Chu Du, Lỗ Túc, đem 3 vạn thủy quân, hợp với Lưu Dự Châu  tính kế phá quân Tào.
Lúc ấy, Tào Tháo đóng quân ở Xích Bích, vì không quen thủy thổ sinh ốm nên trận đánh đầu tiên, quân Tào đã bị thua, phải rút lui.
Hoàng Cái nói:
- Quân Tào ghép thuyền liền khít cả với nhau, ta nên phóng hỏa mà đốt, tất chúng nó chết.
Du sai đem mấy chục chiếc thuyền, trong chở cỏ khô tưới dầu, ngoài che vải trùm kín, trên kéo lá cờ hàng. Sau thuyền lớn, buộc lũ thuyền con, để phòng khi lửa cháy mà tháo chạy.
Gần đến nơi, quân Tào kéo ra xem, thấy hiệu cờ hàng của Hoàng Cái. Không ngờ thuyền vừa đến nơi, tức thời phát hỏa, lúc ấy gió đông nam thổi to, lửa theo gió bốc, thuyền bay như tên, trong giây phút các chiến hạm quân Tào đều cháy, lửa bốc sáng rực một phương trời, người với ngựa đều chết cháy chết đuối không biết đến bao nhiêu mà kể. Hai chi quân Lưu Bị với Chu Du đánh úp phía sau. Tào Tháo phải vứt áo cắt râu mà chạy. Lưu Bị thu phục được Giang Nam phong ông Gia Cát Lượng làm quân sư Trung Lang Tướng, đốc quân Linh Lăng, Quế Dương, Trường Xa ba quận, để lấy thuế, xung quân lương.

V - Vấn đề Thành đô với Kinh châu

Niên hiệu Kiến An năm thứ 16, Lưu Chương là chủ Ích Châu sai Pháp Chính đón Lưu Bị đánh Trương lỗ, ông Gia Cát với ông Quan Vũ ở lại trấn Kinh Châu, sau khi bình được Trương Lỗ, ông Lưu Bị từ Hà Manh Quan quay lại đánh Chương, ông Gia Cát cùng các tướng cũng kéo quân sang hội với quân ông Lưu Bị ở Thành đô.
Mỗi khi ông Lưu Bị đi đánh đâu xa, ông Gia Cát thường trấn giữ Thành đô, thu các thứ thuế để sung quân phí.
Vì hình luật rất nghiêm ngặt, quan dân đều khiếp sợ, Pháp Chính can ông rằng: “Xưa vua Cao Tổ lấy nhà Tần, chỉ ước pháp có ba chương, nhân dân ai cũng đều mến đức. Nay ông vừa mới đến đây, ân huệ chưa nhuần thấy, đã giở những hình luật quá nặng, sợ lòng người thất vọng, thì làm thế nào?”
Ông Gia Cát trả lời:
- Người biết một, chưa biết hai: vì thổ nhân ba Thục quen cái thói ngông nghênh, cho họ làm quan, quan rồi cũng rẻ, gia họ lấy ân, ân lắm sinh nhờn. Nay ta đem pháp luật mà dọa, pháp có nghiêm thì họ mới biết ân, tước có hạn, thì họ mới biết quý, cái lối trị dân tất phải thế mới được.
Năm thứ 24, Tôn Quyền thấy Lưu Bị đã được Ích Châu, muốn đòi Kinh Châu lại, Lưu Bị cắt ba quận Giang Hạ, Trường Xa, Quế Dương, chia cho họ Tôn.
Cách năm sau, Tào Phi bỏ vua Hiến Đế, tự lên làm vua, ông Gia Cát khuyên ông Lưu Bị nên nối ngôi trời, để thiên hạ biết nghiệp Hán hãy còn có chủ, mãi ba, bốn lần Lưu Bị mới nghe, đổi niên hiệu là Chương Vũ, phong cho ông Gia Cát làm Thừa Tướng.
Mùa thu năm ấy, vua Chiêu Liệt, căm tức ông Quan Vũ bị chết vì tay Đông Ngô, hội quân các lộ, để đánh báo thù, ông Gia Cát cố can không nghe, sau Chiêu Liệt cũng bị thua tay Lục Tốn.

VI - Ông Gia Cát hòa nước Ngô, đánh nước Ngụy

Niên hiệu Chương Vũ thứ 3, Chiêu Liệt đau nặng, mời ông Gia Cát vào điện Vĩnh An, ký thác con mồ côi. Sau khi vua Chiêu Liệt mất, Hậu chủ lên nối ngôi, đổi niên hiệu là Kiến Hưng, phong ông Gia Cát làm Vũ Hương Hầu.
Sau khi vua Chiêu Liệt mất, ông Gia Cát sai Thượng Thư là Đặng Chi sang sứ Đông Ngô, bỏ ác cảm cũ, kết tình liên lạc mới.
Nước Ngụy được tin, sai lũ Hoa Hâm sang Thục, dụ theo mình làm phiên thuộc, ông Gia Cát mắng đuổi ra, rồi thân đem quân sang đánh Nam Man, bẩy lần bắt được vua là Mạnh Hoạch, lại bẩy lần tha, từ ấy các nước Mọi đều tâm phục, không quấy rối ngoài biên cảnh nữa.

Niên hiệu Kiến Hưng thứ 6, tức là năm Minh Đế nước Ngụy mới lên ngôi, ông Gia Cát dương thanh thế nói đem quân từ Tà Cốc đánh Ngụy lấy Mỵ Quận, sai tướng là Triệu Vân đóng ở Cơ Cốc để làm nghi binh. Còn mình ông, thì xuất đại quân kéo đánh Kỳ Sơn. Ngụy sai Trương Cáp làm tướng ra chống cự quân Thục. Vì Mã Tắc thất cơ, nên quân Thục bị quân Ngụy đánh vỡ ở Nhai Đình, ông phải quay trở về, chỉnh đốn lại binh mã, đến năm thứ chín, lại kéo quân đánh Kỳ Sơn lần thứ hai, Ngụy sai Tư Mã Ý làm Nguyên Súy ra giữ.

Ông Gia Cát rất để ý đến vấn đề tải lương đi đường xa, bèn chế ra trâu ngựa bằng gỗ, lắp máy vào, đi đứng cũng như thực. Quân đóng ở Ngũ Trượng Nguyên, cùng đối ngang với quân Tư Mã Ý ở Vị nam, khai khẩn đồn điền, làm kế lâu dài.
Trước sau ông sáu lần ra Kỳ Sơn: một lần bị thua ở Nhai Đình, một lần vây Trần Sương, chém tướng Ngụy là Vương Song, một lần chiếm được Vũ Đô, Âm Bình, tiến quân đến Thành đô, một lần đánh Tư Mã Ý thua ở Lỗ thành, giết được Trương Cáp. Thế từ phía tây Hàm Dương. Phía nam Vị Thủy, Phía bắc nam Sơn, đều thuộc về quận huyện nhà Hán.

VII - Thân hậu ông Gia Cát

Quân của ông đóng ở Vị Nam mấy lần tiến đánh quân Ngụy nhưng Tư Mã Ý đóng chặt cửa thành giữ thế thủ. Ông sai sứ đem khăn yếm đàn bà đưa tặng để làm nhục, Tư Mã Ý cũng nhẫn.
Trong khi tiếp sứ, Ý hỏi dò la những câu chuyện vụn vặt, sự ăn sự ngủ của ông thế nào? Chứ không nói đả động gì đến việc quân. Sứ giả nói rằng:
- Thừa Tướng tôi, phạt người ta từ 20 roi trở lên, cũng phải thân mắt xem xét, ngày chỉ ăn vài lưng cơm.
Tư Mã Ý mừng nói riêng với người ta rằng: Ông Gia Cát việc nhiều ăn ít sống lâu sao được!
Sứ giả về thuật lại câu chuyện, ông than rằng: Tư Mã Ý biết ta lắm.
Quả không bao lâu ông đau nặng. Hâu chủ sai quan đến cửa quân thăm ông và hỏi việc tương lai.
Ông nói rằng:
- Nếu ta có bất hạnh thế nào, thì Tưởng Uyển có thể thay được.
Sứ thần hỏi:
- Sau Tưởng Uyển rôi còn ai nữa? Ông trả lời : “Phí Vi”.
Hỏi đến người thứ ba, ông nhắm mắt không trả lời.
Qua tháng tám, ông mất ở trong quân, tức là niên hiệu Kiến Hưng thứ 54 trước năm dân quốc thành lập 1678 năm vậy.
Khi ông gần mất, di mệnh lại Trưởng Sử là Dương Nghi, Tư Mã là Phí Vi, Hộ quân là Khương Duy, lui quân về Hán Trung.
Dân gian thấy vậy, sang báo tin với Tư Mã Ý, Ý thúc quân đuổi theo. Quân Hán quay cờ trống trở lại. Ý sợ mắc lừa, vội vàng lui chạy. Người ta đặt ra câu ca dao để diễu Ý rằng: “Ông Gia Cát chết đánh Trọng Đạt sống” (Tử Gia Cát, tẩu sinh Trọng Đạt).
Ý nghe cười nói rằng:
- Ta chỉ biết liệu cái sống, ai biết liệu cái chết?
Sau khi quân ông đã lui rồi, Tư Mã Ý đến xem các đồn trại, than rằng: “Thực là kỳ tài trong thiên hạ, ta còn kém xa!”
Khi tang ông đưa về đến Thành đô, chôn ở núi Định Quân, không xây dựng lăng tẩm phỗng đá, và khí vật gì cả.
Trước khi ông Gia Cát mất, có dưng tờ biểu về nói với vua Hậu chủ rằng:
Kẻ hạ thần ở Thành đô, còn 800 gốc dâu, 15 khoảnh ruộng, con cháu cũng đủ dư ăn dư mặc.
Còn hạ thần làm quan, ăn mặc đã nhờ có lương bổng nhà vua, Sau khi kẻ hạ thần này chết, cũng không có của cải gì dành dụm, để phụ ơn vua…
Sau ông mất, cũng quả như lời nói.
Qua năm Cảnh Diệu thứ sáu, vua hạ chiếu lập đền thờ ở Miện Dương.
Con ông là Gia Cát Chiêm, lúc nhỏ rất thông minh học nhớ, viết tốt, vẽ khéo, sau nước Ngụy đánh Thục, dụ ông Chiêm hàng, sẽ phong cho làm Lang Nha Vương, Chiêm giận chém lai sứ, rồi ra trận chết, con trưởng ông Chiêm cũng chết theo cha, thế là lưỡng toàn cả trung và hiếu.
Văn ông Gia Cát, như bài biểu xuất sư, rất giản dị, mà ta đọc, ai cũng cảm động, khác hẳn với lối bay bướm như anh em họ Tào. Vậy mới biết cái học của những bậc vĩ nhân không như các văn sĩ phù phiếm.


TỨ DÂN VĂN UYỂN
1er FEVRIER 1939
Trong Sách & Tranh số 25

MẠNH ĐÒAN st.


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 29.08.2011 .
TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM