MỘT BÀI HỌC VỀ NHÂN QUẢ
QUA KINH VU LAN BỒN





Tháng 7 Âm Lịch hàng năm được những người theo Đạo Phật gọi là Mùa VU LAN. Vào mùa này, những người muốn báo hiếu cho cha mẹ ông bà đã qua đời thường noi gương Đại Hiếu MỤC KIỀN LIÊN sắm sanh lễ vật cúng dường Chư Tăng, vì theo lời Kinh, mẹ của Ngài Mục Kiền Liên là Bà Thanh Đề làm nhiều việc ác, sau khi chết phải đọa địa ngục, nhờ vào sức chú nguyện của Chư Tăng mà được sinh lên cõi trời.

Thông thường, khi những việc làm đã trở thành nếp trong đạo cũng như ngoài đời thì mọi người thường ít thắc mắc tìm hiểu xem tại sao. Nhưng Kinh Phật có dạy : Văn, Tư, Tu, tức là khuyên chúng ta khi nghe điều gì đó thì nên suy nghĩ cho kỹ rồi mới thực hành để chắc chắn kết quả sẽ như ý ta mong mỏi, không làm trong mơ hồ, làm mà không rõ nguyên do.

Đọc Kinh Vu Lan, nếu có chút suy nghĩ, ta sẽ thấy những ngờ vực sau :

1/- Tôn chỉ của Đạo Phật là Tự Độ. Chính La Hầu La là con ruột của Phật còn phải tự tu hành, tại sao nơi Kinh Vu Lan, Chư tăng lại có thể cứu độ cho mẹ của Ngài Mục Liên?

2/- Kinh viết: “Khi Phật thấy Ngài Mục Liên quá đau khổ vì thương mẹ thì động lòng thương xót, cùng đệ tử và thánh chúng bay lên hư không, phóng hào quang xuống làm tắt lửa địa ngục, nhưng Bà Thanh Đề thoát địa ngục đó liền sinh vào địa ngục khác”. Trong khi đó, chỉ cần cúng dường Trai Tăng thì Bà Thanh Đề được sinh lên cõi trời. Như vậy chẳng lẽ quyền phép của Phật lại thua chư Tăng? Việc đó phải hiểu ra sao?

3/- Từ Vu Lan Bồn trước đây được gọi là “Cứu nạn treo ngược”, nhưng xuyên suốt quyển Kinh ta không thấy có ai hay cái gì bị treo ngược cả, và theo nhà nghiên cứu Huệ Thiên viết trong Kiến Thức Ngày Nay số 89, thì dịch nguyên văn tiếng Sanscrit ULLAMBHANA chỉ có một nghĩa là SỰ GIẢI THOÁT mà thôi. Vậy thì trong Pháp Vu Lan những ai được giải thoát? Giải Thoát khỏi cái gì?

4/- Muốn cứu độ cho quyến thuộc, mọi người có thể dùng pháp cúng dường Tăng như Ngài Mục Liên hay không?

Để giải tỏa những thắc mắc này, chúng ta cần bắt đầu từ Kinh MỤC LIÊN. Tóm lược Kinh như sau :

“Vào thời Phật còn tại thế, ở thành Vương xá có người trưởng giả tên là Phó Tướng, tài sản nhiều vô kể. Ông có bà vợ tên Thanh Đề và một con trai tên La Bốc. Sau khi cha chết, thọ tang được 3 năm, La Bốc thưa với mẹ xin mở tất cả kho để kiểm điểm tài sản, thấy còn tổng cộng 3 vạn quan. Ông thưa với mẹ xin chia tài sản ra làm 3 phần: m ột phần xin dâng mẹ, một phần xin cúng dường Tam Bảo, phần còn lại xin được làm vốn để ra nước ngoài buôn bán.

Khi La Bốc đi rồi, bà Thanh Đề liền cho hội tất cả tôi tớ lại và bảo: “Con ta trước khi đi có dặn ta cúng dường Trai Tăng, nhưng ta không tin. Vậy nếu các ngươi có thấy Chư Tăng đến thì vác gậy đuổi đánh, làm như vậy để cho họ đừng tới nữa. Số tiền dành cúng Trai tăng ta sẽ mua heo, gà, vịt, ngỗng, trâu, bò, dê, ngựa giết để tế thần rồi ăn cho sướng cái miệng, ăn hết mua nữa, tội gì phải cúng Tăng”!

Sau ba năm buôn bán giàu to, La Bốc quay về. Ông chưa vội về nhà, ở ngoài thành kêu gia nhân tên Ích L ợ i về nhà thông báo. Tỳ nữ Kim Chi được tin, báo với Bà Thanh Đề. Bà lập tức sai gia nhân bày biện phan phướn trong nhà, giả như đã làm trai tăng.

Khi Ích Lợi vô nhà, Bà Thanh Đề hỏi con đang ở đâu? Ích Lợi thưa: Đang còn ở ngoài phía Tây thành. Bà Thanh Đề nói: sau khi La Bốc và ngươi đi rồi, ta liền thiết trai cúng dường chư Tăng hơn 500 vị. Ích Lợi nghe vậy rất hoan hỉ, bước vô nhà thấy phan, phướn, giường, chiếu, chén, bát còn ngổn ngang chưa dọn dẹp, nên liền quay lại báo tin cho La Bốc hay. La Bốc hết sức vui mừng vội về nhà, vừa đi vừa lạy. Họ hàng quyến thuộc thấy La Bốc về cũng chạy ra đón tiếp, họ ngạc nhiên hỏi:

- Trước không có Phật, sau không có Tăng, Ông lạy ai?

- La Bốc trả lời: “Tôi lạy mẹ tôi, vì khi tôi đi rồi, mẹ tôi thiết trai cúng dường Tăng hơn 500 vị”.

Họ hàng cho biết: Khi ông đi rồi thì mẹ ông chỉ gây nghiệp, đánh đuổi tăng chúng. Tiền ông dặn thiết trai mẹ ông mua trâu, bò, gà, vịt cắt tiết tế thần, hàng ngày giết ăn”. La Bốc nghe vậy té xỉu xuống đất, giây lâu mới tỉnh.

Bà Thanh Đề nghe nói, chạy tới cầm tay con thề: “Trời cao lồng lộng, bể rộng thênh thang, nếu con đi rồi mà mẹ không có thiết trai cúng dường Tăng chúng thì xin về nhà liền chịu bệnh chết, sau khi chết bị đọa địa ngục, chịu mọi ác báo”. La Bốc nghe vậy mới chịu trở về nhà.

Vừa về đến nhà, bà Thanh Đề thấy người khó chịu và lâm trọng bệnh, chỉ trong 7 ngày liền mệnh chung. La Bốc chôn mẹ trong một khu rừng, cất chòi canh ở cạnh mộ phần, thủ hiếu trong 3 năm, cúng dường tượng Phật, thắp hương lễ kính, thọ trì trai giới, tụng niệm kinh kệ hồi hướng mẫu thân. Nhưng ông lại nghĩ: Muốn báo thâm ân không gì bằng xuất gia tu hành, học đạo, nên đến núi Kỳ Xà Quật xin Phật cho xuất gia, được Phật đặt cho tên: Đại Mục Kiền Liên.

Ngài Mục Kiền Liên chuyên tu Thiền Định, đắc thần thông cao nhất trong số đệ tử của Phật. Muốn báo ân mẹ, Ngài dùng thần thông lên các cõi trời tìm mẹ, nhưng không gặp, xuống các cõi địa ngục cũng không thấy mẹ đâu, ông buồn rầu tới bạch Phật, Phật cho biết: “mẹ ông lúc còn sống không tin Tam Bảo, bỏn xẻn như núi Tu Di, sau khi chết đã đọa vào địa ngục”. Ngài Mục Liên lại xuống địa ngục để tìm.

Qua nhiều cửa ngục, thấy các tội nhân bị hành hình rất khổ sở, Ngài rất thương tâm, xin với chúa ngục cho chịu thay, chúa ngục cho biết: “Tội ác nơi địa ngục ai làm nấy chịu, dù có thân thiết như mẹ với con cũng không thể chịu thay được”. Đến một ngục kia rất kiên cố tên Cao Tường, vách sắt nghìn lần, tường cao muôn dặm, mắt tuệ nhìn không thấy, pháp thân cũng không thể lọt qua. Ngài Mục Liên trở về bạch Phật, Phật dạy: “Muốn đến địa ngục đó phải dùng gậy, áo, bát của Phật, đến ngoài cửa giộng 3 cái thì cửa ngục sẽ tự mở. Phật cho mượn 3 món, Ngài Mục Liên làm y theo lời. Cửa ngục mở ra, Mục Liên bước vào, chúa ngục hoảng sợ vội đẩy Ngài ra và hỏi: “Ngài là người như thế nào mà vào được ngục này, vì ngục này chỉ có những người không tin Tam Bảo, phạm tội ngũ nghịch?” Mục Liên thưa Ngài là đệ tử của Phật muốn tìm mẹ để báo ân. Chủ ngục liền tra sổ sách và lớn tiếng gọi bà Thanh Đề, báo tin cho biết là có một Thầy tên là Mục Liên tới thăm và nói rằng nếu quả thật Ngài là con của bà thì chẳng bao lâu bà sẽ thoát địa ngục.

Bà Thanh Đề cứ lặng im không thấy lên tiếng. Chúa ngục liền gạn hỏi vì sao không trả lời, thì bà bảo là sợ chịu khổ thêm nên không dám nói, lúc còn sống bà có một người con nhưng không có xuất gia và cũng mang tên khác. Chúa ngục hỏi lại Ngài Mục Liên thì Ngài bảo: “Khi còn cha mẹ tôi tên là La Bốc, khi cha mẹ mất tôi mới xuất gia và có tên là Mục Liên”. Bà Thanh Đề biết đúng là con nên mới xin gặp.

Chúa ngục dắt bà Thanh Đề ra. Mục Liên thấy mẹ bị dao đâm khắp mình, toàn thân lửa cháy, cổ mang gông sắt, mình khoác lưới sắt, từ các lỗ chân lông máu tuông lênh láng thì đau lòng khóc lóc nói với mẹ: “Thiết Trai Tăng gồm 500 vị tưởng đã sinh thiên, hưởng mọi thú vui. Con đi tìm mẹ khắp các cõi tr ờ i nhưng không thấy, nào ngờ gặp mẹ nơi địa ngục”. Bà Thanh Đề nghẹn ngào nói: “Tưởng rằng mẹ con không bao giờ được nhìn thấy nhau, không ngờ ngày nay giữa chốn địa ngục sung sướng được gặp”. Mục Liên hỏi: “Con ở dương gian làm mọi Phật sự sớm tối không ngơi, trai nghi cúng mẹ có ích gì không ? Bà Thanh Đề trả lời: “Cúng tế vô ích, có ăn được đâu, phải lập công đức mới cứu được mẹ. Khi còn ở đời mẹ không tu phúc, chỉ gây nghiệp ác, lại thề với con là đã tu phúc nên ngày nay phải đọa địa ngục, chịu khổ vô cùng. Đói ăn sắt nóng, khát uống nước đồng”. Nói chưa dứt lời chúa ngục đã giục Bà Thanh Đề vào trong vì đã đến giờ chịu tội. Bà Thanh Đề còn ngoảnh lại nói với Ngài Mục Liên: “ Thân mẹ đau đớn không chịu nổi, con về bạch Phật xin tìm phương pháp cứu mẹ thoát khỏi tội báo địa ngục”.

Mục Liên nghe nói đau đớn khôn xiết, vập đầu vào tường cầu xin chúa ngục cho mình vào chịu tội thay cho mẹ. Chúa ngục trả lời là không thể được, bảo Ngài về xin Phật họp Đại Đức Tăng, sám hối thay mẹ mới mong tiêu trừ nghiệp ác, sinh về nơi cực lạc”.

Mục Liên lại bạch Phật xin từ bi tìm mọi phương pháp cứu mẹ thoát khổ. Tấm lòng hiếu thảo làm Phật thương xót nhận lời thỉnh cầu. Phật cùng đệ tử thiên long, thánh chúng đi lên hư không, phóng hào quang xuống làm cho các dụng cụ hành hình biến thành hoa quả, giường sắt biến thành tòa sư tử, tất cả đại chúng thấy được thân Phật và được thoát khổ. Mục Liên hỏi Phật mẹ mình hiện giờ thác sinh chỗ nào? Phật bảo: “Vì tội chướng sâu nặng, vừa thoát khỏi ngục A Tỳ lại phải sinh ngục Hắc Am. Mục Liên lại xuống ngục Hắc Am tìm mẹ, gặp được mẹ liền dưng cơm, bà Thanh Đề thấy cơm mừng rỡ, vội bốc ăn, nhưng cơm chưa đến miệng đã biến thành lửa. Mục Liên lại khóc lóc trở về bạch Phật. Phật dạy: “Thỉnh các Đại Đức đã tu đắc đạo, đã chứng Thiền Định, thiết La Bồn Trai, cúng dàng Tam Bảo, sám hối thay mẹ, cứu độ u hồn”. Ngài Mục Liên làm theo Phật dạy, thiết lễ cúng dường, sau đó hỏi Phật mẹ Ngài hiện ở chỗ nào? Phật dạy: “Sinh lên cõi trời Đao Lợi, sung sướng an vui”.

Qua tóm lược ta thấy Kinh dạy về Nhân Quả qua các việc sau:

1/- Bà Thanh Đề tạo ác nghiệp nên phải đọa địa ngục.

2/- Theo đúng luật Nhân Quả: Ai tu nấy đắc, dù là con ruột như Ngài Mục Liên tu hành đắc thiền, chứng thần thông cao nhất, có gặp được mẹ cũng không cứu được.

3/- Kinh mượn lời chúa ngục để giải thích: Tội ai làm nấy chịu, dù có thân thiết như mẹ với con cũng không thể chịu thay được.

4/- Kinh đã phương tiện tạo ra cuộc gặp gỡ giữa người còn sống là Ngài Mục Liên và người đã qua đời là Bà Thanh Đề để giải thích về những việc cúng kiến cho người đã khuất qua câu trả lời của Bà Thanh Đề: “Cúng tế vô ích, có ăn được đâu, phải lập công đức mới cứu được mẹ”. Cách lập công đức cũng được giải thích là phải tu hành, học đạo.

5/- Phật cũng không cứu được cho Bà Thanh Đề, vì tự tâm bà biết việc mình làm là tội, nên dù Phật phóng quang tắt lửa địa ngục này thì bà lại sinh ngay vào địa ngục khác. Bà nợ lời hứa cúng dường Trai Tăng, nên chỉ khi con bà thay cho mẹ làm việc đó thì Bà mới thấy hết nợ, được giải thoát.

6/- Chúa ngục bảo Ngài Mục Liên về xin Phật họp Đại Đức Tăng, sám hối thay mẹ. Phật cũng dạy: “Thỉnh các đại đức đã chứng Thiền Định, thiết La Bồn trai, cúng dường Tam bảo, sám hối thay mẹ”. Tức là không phải tăng nào cũng có thể sám hối thay người đã chết mà phải nhờ những vị Tăng có đạo hạnh thì mới giúp được vong linh người chết. Theo những nhà nghiên cứu về cận lâm sàng (Near death Experiences) thì vong linh người chết, khi xuất ra khỏi xác thì vẫn ở quanh đó, nhìn thấy, nghe và biết hết những sinh họat của người sống, dù không liên lạc được. Vì thế, nếu họ nhìn thấy thân nhân nhờ những Tăng thiếu đạo hạnh, không trang nghiêm, làm chiếu lệ… ắt họ sẽ sinh tức giận, buồn phiền thì hóa ra việc ta làm chẳng giúp ích gì cho họ.

Có lẽ chúng ta cũng khó thể hiểu hết dụng ý của Phật trong một quyển Kinh, nhưng ít ra trong câu chuyện này ta cũng rút ra được vài bài học cho bản thân, vì ngoài việc khuyến cáo không nên làm ác, đạo Phật dùng sự gặp gỡ, trao đổi giữa hai mẹ con bà Thanh Đề để chỉ rằng không phải chết đi là mọi tội nghiệp sẽ chấm dứt. Người tu dù có chứng đắc cao đến đâu cũng không thể cứu độ cho người khác, bằng chứng là chính Phật cũng bất lực dù rất cảm động trước tấm lòng của hiếu tử. Ngoài ra, chúng ta cũng học được một bài học về Nhân Quả là: Nợ gì thì phải trả đó, thiếu ai thì trả cho nấy. Bà Thanh Đề đã nhận một phần gia sản với lời hứa cúng dường Tăng, nhưng không thực hiện, nên khi con bà làm thay cho bà thì Bà mới thấy mình hết nợ, được giải thoát. Ngài Mục Liên đau khổ vì thấy mẹ bị đọa, khi thấy mẹ được Giải Thoát thì Ngài cũng hết khổ. Cũng qua đó, ta suy ra: không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể dùng phương pháp cúng dường Trai Tăng mà hóa giải được. Vì thế, khi chúng ta muốn báo hiếu cho thân nhân trong dịp Lễ Vu Lan thì nên xét những vướng mắc của họ lúc còn sống để làm cho phù hợp: Nếu thân nhân chúng ta không có hứa cúng dường Tăng chúng, nhưng lại có những món nợ khác chưa trang trải, thí dụ bỏn xẻn, nợ tiền bạc của ai đó, biển lận, lừa đảo, lường công, cân thiếu… chẳng hạn, thì có lẽ chúng ta nên dùng phương pháp đối trị và tháo gở đúng đối tượng: nợ ai, trả đó, nợ gì, trả nấy, có vậy thì có lẽ vong linh người chết mới được lợi lạc, có thể thanh thản, được giải thoát vậy.

 
______________________________________________  
 
(Vu Lan 2002)





© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 26.08.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .