Người Đặt Tên Cho Hà Nội Xưa Là Thăng Long




Chuyện kể rằng: ngày xửa, ngày xưa có một cô gái người ở châu Cổ Pháp (Bắc Ninh ngày nay) rất xinh đẹp, da trắng, tóc dài, cổ cao ba ngấn. Con người má thắm, môi son, mắt phượng mày ngài ấy tuy đã ngoài 30 tuổi, duyên phận chưưa đến hay sao mà lại ra chùa Cổ Pháp ở để từ chối bao chàng trai cùng quê dạm hỏi.

Bà được sưư thầy Lý Khánh Văn cắt tóc để qui y cửa Phật nhưưng không may lưưỡi dao cạo vấp làm đứt tai, có 3 giọt máu chảy xuống chân. Bà giận sư thầy bỏ chùa về nhà thì thấy mình có chửa. Ngưười ta chửa 9 tháng 10 ngày thì đẻ, nhưng bà lại chửa đúng 1 năm. Đêm hôm ấy, ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, trời tự nhiên mưa giông gió giật, sấm chớp đùng đùng, bà lại lên cơn đau bụng đẻ. Mọi người xúm lại bàn tính đi rưước bà mụ, thì có con chó lạ sợ sấm sét chạy vào nhà đứng sừng sững dùng mình vẩy nước mưa trên lông.

Con chó khoang đen trắng đẹp quá lại tự nhiên nhưư nhà của nó (liếm ngửi hết mọi người). Ai cũng thấy đốm đen trên mình nó mang hình chữ Thiên tử (con trời). Cậu bé sinh ra khóc oang oang át cả tiếng sấm sét ngoài trời. Kẻ thức giả nói đó là điềm ngưười sinh vào năm Tuất làm Thiên tử. Cậu lớn nhanh nhưư thổi, mới 3 tuổi mẹ cậu đã bế vào chùa gửi cho sưư thầy Lý Khánh Văn nuôi dạy. Từ đấy cậu bé đưược đặt tên là Lý Công Uẩn. Có một lần nhà sưư sai Lý Công Uẩn mang oản đặt lên bàn thờ cúng Phật, cậu bé đã khoét ruột ăn trước. Nhà sưư biết dưược tránh mắng, cậu tức nắm, vào chùa tát cho tưượng hộ pháp 3 chiếc rồi lấy son viết vào lưng tượng máy chữ “Đồ tam thiên lý” (đày 3 ngàndặm) rồi bỏ đi. Vì cậu bé chỉ cho rằng hộ pháp nhìn thấy đã mách nhà sưư. Đêm hôm ấy nhà sư Khánh Văn nằm mơ thấy hộ pháp đến khóc và chào từ biệt với lý do bị Hoàng Đế đuổi đi. Sáng dậy nhà sư vào xem tượng rồi sai mấy chú tiểu lấy nước lau sạch chữ sau lưng hộ pháp. Nhưng ai lau cũng không sạch, đến khi Lý Công Uẩn chỉ lấy tay xoa nhẹ là chữ biến mất. (theo “Thần Đồng xưưa của nưước ta”).

Lý Công Uẩn là người thông minh, học một biết mười. Được ít lâu Khánh Văn thấy mình hết chữ bèn dắt cậu bé sang chùa Tiên Sơn (Bắc Ninh bây giờ) gửi cho sư Vạn Hạnh dạy đỡ. Tuy đã lớn, học hành giỏi giang nhưưng nghịch quá trời. Có lần Công Uẩn bị sư Vạn Hạnh phạt trói suốt đêm ở cửa chùa, bị muỗi đốt không chịu đưược, tức cảnh đọc bốn câu thơ đầy khẩu khí bằng tiếng Hán, dịch nôm ra như sau:

“Màn có trời cao chiếu đất liền
Cùng trăng thanh thả giấc thần tiên
Suốt đêm nào dám vung chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng”


(Lê Văn Uông dịch)

Nhà sư Vạn Hạnh khen rằng: “Đứa trẻ này không phải là ngưười thưường, sau này lớn lên tất có thể giải quyết được mọi việc khó khăn, làm vua giỏi trong thiên hạ”. Khi Lý Công Uẩn đã trưởng thành, nhà sư Vạn Hạnh đã tiến vào trièu giúp nước “Đại Việt sử ký toàn thư”. Sau khi vua Lê Đại Hành băng hà, Trung Tôn bị giết, Lý Công Uẩn ôm xác vua mà khóc, Ngoạ Triều khen là người trung. Nhờ có học vấn và tài cán, Lý Công Uẩn được phong làm “Tứ Xương quân” rồi thăng lên chức “Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ”. Từ ngày vua Lê Đại Hành mất, vua nối ngôi chơi bời truỵ lạc, không quan tâm gì đén triều chính, nhân dân chán ghét triều đại nhà Lê. Lúc ấy tại làng Cổ Pháp, nơi sinh ra Lý Công Uẩn có cây gạo bị sét đánh hiện lên dòng chữ:

“Thụ căn diểu diểu
Mục biểu thanh thanh
Hoà đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Đông A nhập địa
Dị mộc tái sinh
Chấn cung hiện nhật
Đoài cung ấn tinh
Lục, thất niên gian
Thiên hạ thái bình.”

Tạm dịch là:

“Gốc cây trăng trắng
Vỏ cây xanh xanh
Hoà đao mộc ngã
Thập bát tử thành
Đông A nhập địa
Cây khác lại xanh
Cung chấn vầng nhật
Cung đoài ấn tinh
Khoảng sáu, bảy năm
Thiên hạ thaí bình”

Thấy lạ, làng trên xã dưới người người lũ lượt kéo nhau đén xem, bàn tán:

- Đấy các cụ xem, câu 1 chẳng ám chỉ nhà vua suy yếu là gì. Còn câu 2 muốn nói tới kẻ bề tôi đã hưng thịnh. Cụ khác lại quả quyết:

- Đây, đây rõ rành rành nhé: Hoà đao mộc ghép ghép lại thành chữ Lê. Thập bát tử ghép lại thành chữ Lý, ai đến xem cũng kháo nhau ầm lên cho là điềm trời hợp với lòng dân: “Lê mất Lý thành, trời bảo vậy”.

Tin có “sấm” trời từ làng Cổ Pháp dội đi khắp nơi. ở Triều đình nhà vua ra lệnh tìm giết hết người họ Lý, nhưng Lý Công Uẩn vẫn bình an ngay trong cung. Ngoạ triều băng hà, sau khi thử lòng một số quan trong triều, Lý Công Uẩn mới nghe theo lời khuyên của nhà sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc lên ngôi Hoàng Đế và đỏi niên hiệu là Thuận Thiên (1010). Cùng năm nhà vua hạ chiếu dời đô về thành Đại La: “là nơi có thế rồng cuộn hổ ngồi, núi sông sau trước, đất rộng bằng phẳng, cao mà sáng sủa. Dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rất thình vượng và phồn thịnh. Xem khắp đất Việt ta, chỗ ấy là hơn cả…” “Đại Việt sử ký toàn thưư”. “Thiên đô chiếu” của vua có hai trăm mười bốn chữ sau lại ứng với 214 năm và 8 triều vua Lý trị vì đất nước, không kể 2 năm Lý Chiêu Hoàng thực tế quyền lực về tay nhà Trần. Được bề tôi ủng hộ, mùa thu tháng 7, vua dời kinh đô từ thành Hoa Lưư về Đại La. Thuyền vừa tạm đỗ ở dưới thành bỗng vua trông thấy rồng vàng bay lên chào đón. Vì thế vua đổi ngay tên thành Đại La là Thăng Long.

Kinh đô Thăng Long thời nhà Lý do Lý Công Uẩn chọn hàng nghìn năm trưước đã trở thành thủ đô Hà Nội trái tim của cả nước như ngày nay. Ai cũng bảo: “Lý Thái Tổ dấy lên tự trời báo điềm tốt hiện lên ở nét cây thiêng. Có đức tất có ngôi, bởi lòng ngưười qui thuận”

. Đăng ngày 18.08.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .