LỄ VU LAN



NGUYÊN TỪ - NGUYỄN TƯỜNG UYỂN


Lễ Vu-Lan là một lễ của nhà Phật nhằm vào ngày 15 tháng 7 âm-lịch.

Vu-lan chính là cái chậu dùng để chứa đựng những hoa quả phẩm-vật dâng cúng – Bởi vậy, muốn gọi đúng phải gọi là lễ Vu-Lan-bồn.

Lễ Vu-Lan-bồn tức là lễ dâng các phẩm-vật đựng trong chiếc vu-lan để cúng chư tăng với mục đích cầu xin cho vong-hồn người thân của mình được thoát khỏi nơi địa-ngục.

Sự tích lễ Vu-Lan có từ khi Đức Phật còn tại thế.

Trong bọn đệ-tử vẫn tháp-tùng Đức Phật có ngài Mục-Liên là một vị tôn-giả đã tu được nhiều thần-thông. Một bữa ngài Mục-Liên dùng thiên-lý nhỡn thấy thân-mẫu ngài ở dưới địa-ngục phải đọa làm quỷ đói khổ-sở. Ngài liền dùng phép mầu mang cơm xuống địa-ngục cho mẹ, nhưng ác thay, mỗi khi bà mẹ, bà Thanh-Đế, chìa tay ra để nhận cơm thì cơm biến thành khối lửa không sao ăn nổi được. Không làm sao cho mẹ ăn được ngài Mục-Liên quay về kêu van Đức Phật, Phật dạy rằng ngày rằm tháng bảy, nhân lúc chư tăng mãn hạ, nên sắm sửa hoa thơm quả ngọt để vào chiếc chậu Vu-lan mang đến cúng dàng chư tăng, ăn mày uy-đức của chư tăng để chuyển-nghiệp tham-si nơi vong-nhân, ngài Mục-Liên tuân theo lời Phật dạy quả-nhiên cứu mẹ khỏi âm-cung.

Từ đó về sau các Phật-giáo-đồ căn-cứ vào lời Phật dạy cử hành lễ Vu-lan cầu Phá địa-ngục.

Qua sự-tích trên ta thấy rằng việc phá-ngục không phải do một mệnh-lệnh của một quyền-lực nào mà chỉ nhờ vào uy-đức của Chư tăng chuyển-nghiệp tham-si nơi vong-nhân mà vong-nhân thoát khỏi nơi địa-ngục. Chính Đức Phật cũng đã nói rằng: Thần-thông bất năng định-nghiệp, nghĩa là phép thần-thông không thể định-nghiệp cho ai được.

Phật có thể dạy cho biết cách thoát khỏi địa-ngục, nhưng muốn thoát được cần phải theo đúng lời Phật dạy, nghĩa là chính vong-nhân phải tự chuyển-nghiệp lấy cho mình để tìm thấy con đường thoát khỏi địa-ngục.

Như ở trên đã nói địa-ngục hay thiên-đường đều do mình tự tạo ra và đều ở trong lòng mình hết. Mình là thủ phạm gây ra tội-ác, phải chính mình có chuyển-nghiệp mới cứu nổi mình. Chuyển-nghiệp để phá tan gốc rễ của tội ác, do đó mà vong-nhân thoát khỏi được nơi địa-ngục.

Như vậy phá địa-ngục không phải dùng một sức-mạnh nào ở ngoài phá vào mà phải phá tự trong phá ra tức là làm thế nào cho tội nhân chuyển được thức-tâm thành thánh-chí.

Công-đức lớn-lao và khó khăn ấy, chuyển thức-tâm thành thánh-chí của tội-nhân, Phật đã trông cậy vào chư tăng vì:

- Phật đã đưa ra những điều cần thi-hành, mà những điều này phải nhờ sự gia-hộ của chư tăng mới chuyển nổi nghiệp-thức nơi chúng-sinh.

- Phật muốn khi nào Phật không còn tại-thế nữa, pháp-môn Vu-Lan vẫn có thể thi-hành được, mà chỉ cần có hai ngôi Tăng và Pháp là đủ.

Thứ vị quan-trọng nhất trong nghi-thức Vu-lan, chính là Chư Tăng, nhưng cũng cần phải có thời-cơ thuận-tiện để chư tăng thi-hành công-quả của mình: đó là lúc chư tăng họp nhau trong khóa hạ, và khóa hạ vừa mãn, nghĩa là vào ngày Tự-Tứ, lúc chư tăng ai nấy hoan-hỉ để bố-thí công đức. Do đó ngày rằm tháng bảy là ngày thuận-tiện để cử-hành lễ Vu-lan.

Ngoài ra, lễ Vu-Lan lại đòi hỏi một hằng-tâm ở nơi tín-chủ, nhiều ít lễ vật để dâng cúng chư tăng – xin nhấn mạnh đây là cúng chư tăng, chứ không phải dâng cúng Phật, vì ở đây không phải Đức Phật nhận trách nhiệm.

Tín-chủ dâng lễ cho các thày, các thày đem dâng Phật trước khi thọ-thí đó là việc của các thày, còn tín-chủ chỉ tuân theo giáo-pháp của Đức Phật cúng dàng chư-tăng để chư-tăng hoan hỉ chuyển pháp-luân siêu-thăng cho các vong hồn đang bị giam nơi địa-ngục.

Ở đây việc cúng dàng chư-tăng không giống như việc dâng lễ để nhờ việc, nghĩa là nói nôm na, là không phải để trả công chư-tăng.

Việc cúng dàng chư-tăng là một pháp-môn rất mầu-nhiệm, càng thành-kính bao nhiêu, kết-quả càng tốt-đẹp bấy nhiêu. Của mình đem dâng cho người, phải kính-cẩn cầu xin để người nhận cho, có vậy mới là lòng thành của tín-chủ. Cử-động này là một cử-động làm giảm bớt tham sân si, một cử-động đánh tan sự kiêu-ngạo của tín-đồ, và đó chính là một pháp-môn tiêu tội và tăng đức-hạnh.

Về phía chư tăng đây là cả một sự khó-khăn, vì nhận của cúng dàng tức là nhận tội thay cho tín-chủ, và muốn như vậy, phải có công-đức tu-hành.

Nếu cúng dàng gặp phải sãi chùa thiếu công-đức tu-hành, việc cúng dàng sẽ không có ích-lợi gì mà sãi chùa thêm mang tội.

Chính vì e sự cúng dàng gặp phải sãi chùa thiếu công-đức cho nên lễ Vu-Lan phải đợi ngày Tự-Tứ, ngày các chư tăng hội-họp đủ mặt; có kẻ dở cũng có người hay, người hay sẽ lấy công-đức tu-hành của mình át kẻ dở và đem lại kết-quả trong việc cúng dàng, nghĩa là chuyển được nghiệp cho các vong-nhân.

Hơn nữa trong các chư tăng, theo giáo lý nhà Phật, gồm cả phàm-tăng, hiền-tăng và thánh-tăng. Thánh-tăng là các vị Bồ-tát, đệ-tử của Đức Phật, nguyện ở lại trong đời độ-hóa chúng-sinh.

Hiền-tăng là các vị đã tu qua nhiều kiếp và đã luôn luôn trau-dồi đức-hạnh qua các kiếp.

Phàm-tăng là các vị sư thụ giới tỳ-kheo để trau-dồi đức-hạnh, tu theo đúng lời Phật dạy.

Vả chăng Tăng-Bảo là một ngôi oai-đức lớn nên chư-tăng trong lễ Vu-Lan đủ đức để chuyển-nghiệp cho vong-nhân tội lỗi, và như vậy khế-hợp với đại-nguyện của Chư Phật.

Về phía tín-chủ, thành-tín dâng hương là khế-hợp với sở-cầu của chúng-sinh.

Tất cả các nghi thức trên thi-hành đúng phép làm chấn-động cõi U-minh, dọi ánh sáng trí-tuệ vào thức-tâm tăm-tối của bọn tội-nhân, khiến cho họ tỉnh giấc mộng dị-sinh(1), và tỉnh giấc mộng này, tự họ đã cứu được họ.

Mỗi chúng-sinh nơi u-minh phải riêng đón ánh tuệ-quang chứ không ai giúp hộ được, kể cả Đức Phật. Chúng-sinh đón được nhiều hay ít hay không đón được không phải do một sự chọn-lọc nào mà chính do nguyện-lực của thân-nhân họ có đi sâu được tới họ, có cảm được đến họ hay không, do đức của Chư-tăng có đầy đủ hay không và do nghiệp-báo dày mỏng của chính tội-nhân. Tâm chúng-sinh có động, nghiệp mới chuyển và họ mới được giải thoát.

Qua các điểm trình-bày trên, ta thấy rằng:

- Về phía tín-chủ, đức-tin rất cần-thiết để cầu xin cho ông bà, cha mẹ được siêu-thăng nhờ pháp-Vu-lan; tín-chủ phải tin ở phép Phật, tin ở nhân-quả thiện-ác, tin ở giáo-lý nhà Phật.

Đức-tin đã khiến tất cả tâm-hồn được chuyển thành một nguồn thương không phân-biệt thân-sơ, một suối hỷ-xả không bờ bến, điều-kiện.

Phẩm vật trong chậu Vu-lan, chỉ tượng-trưng cho đức-tin.

- Về phần chư Phật, không Đức Phật nào thủ vai trò mở cửa ngục hay ra lệnh cho kẻ khác mở cửa ngục. vả lại nói Phật không phải chỉ là một vị Phật nào, mà là Phật của cả mười phương, của cả quá-khứ, hiện-tại và tương-lai.

Có chúng-sinh nên mới có Phật. Phật nguyện cứu-độ hết chúng-sinh để chúng-sinh cũng thành Phật, và lúc đó giữa Phật và chúng-sinh không còn gì là phân-biệt nữa. Do đó, danh-từ Phật chỉ là giả danh và và Phật pháp cũng chỉ là giả lập để tận-độ chúng-sinh, theo đúng ý-nguyện của mười phương chư Phật.

Đối với chúng-sinh nào Phật cũng nguyện độ cho hết tội-lỗi, và mọi chúng-sinh đều có thể đón-nhận Phật-pháp, và sự đón-nhận sẽ được thành-tựu khi nào mỗi chúng-sinh đều rõ rằng mình với Phật cùng một thể, mê là chúng-sinh tỉnh là Phật.

Ngoài ra mỗi chúng-sinh còn phải nhận thấy rằng mình với mọi chúng-sinh khác cũng đồng một thể. Khi một chúng-sinh cần Phật thì phải nghĩ rằng mình hành-động vì toàn-thể chúng-sinh khác và phải cảm thấy rằng việc cầu-khẩn của mình là việc cầu-khẩn của tất cả chúng-sinh mười phương. Như vậy, một chúng-sinh không phải chỉ có cái sức mạnh của riêng mình, mà đã có cái sức mạnh của cả chúng-sinh mười phương, vì lẽ rằng đây không phải riêng bản-ngã cá-nhân mà đây là bản-thể pháp-giới. Nhờ vậy cái nguyện-lực đồng-thể vi-ngưỡng sẽ vô-biên như pháp-giới.

Đồng-thể vi-ngưỡng nơi chúng-sinh, đồng-nguyện thùy-từ nơi chư Phật nên từ-bi đã thành một phương-tiện viên-mãn nó hàm cả đại giác, đại-hùng, đại lực và nó thành-tựu tất cả mọi môn công-đức .

Lẽ tất nhiên trước cái diệu lực đại từ-bi ấy, thức-tâm của tù-nhân thức dậy khiến ngục thành không còn nữa, và tù-nhân đã tự giải-thoát.

Lễ Vu-Lan cử-hành vào rằm tháng bảy hàng năm. Các chúng-sinh muốn được giải-thoát phải có sự chuyển-nghiệp và phải chính chúng-sinh tỉnh ngộ nhờ nghi-thức lễ Vu-Lan.

Lễ Vu-Lan tại nước ta ngoài ý-nghĩa dùng Từ-bi làm một phương-tiện phá ngục, còn là Tết Trung-Nguyên.

Theo Phan-kế-Bính thì ta thường cho hôm ấy là ngày vong-nhân xá tội, nghĩa là dưới âm-phủ được tha tội một ngày hôm ấy. Bởi vậy nhiều nhà mua vàng mã cúng gia-tiên, các nhà có người mới mất, cũng hay đốt mà làm chay về hôm ấy.

Sở-dĩ như vậy vì ta nghĩ rằng trong ngày hôm ấy, vong-hồn các tổ-tiên ta được tha tội, có thể trở về cõi trần hưởng lễ của con cháu cúng kiến.

Về sự-tích ngày lễ Vu-Lan, có sách chép khác với sự tích kể trên. Thực ra, cũng vẫn là truyện ngài Mục-Liên cứu mẹ, nhưng ở đây câu chuyện không nói đến việc cúng dàng chư-tăng và sự chuyển-nghiệp của vong-nhân. Để độc-giả tiện việc tham-cứu, xin ghi lại sau đây sự-tích này:

Ngày xưa có ông La-Bộc, con ông Phó-Tưởng là người rất thông-minh và hiếu-thảo với cha mẹ. Ông mồ-côi cha từ lúc nhỏ, sống với mẹ, mẹ rất tham-lam gian-ác. Ông luôn luôn ở bên mẹ để phụng-dưỡng, nhưng về sau vì nghèo khó quá, ông phải từ-giã mẹ tới tỉnh Kiên-Liên kiếm ăn. Ở đây ông đã làm ăn phát-đạt và trở nên giàu có. Ông thu xếp gửi về cho mẹ một món tiền lớn, rồi sau đó ông cũng về thăm mẹ.

Nhận được tiền của con, bà Thanh-Đế đem tiêu xài hết, rồi vào chùa niệm Phật ăn chay và định bụng rằng nếu con về sẽ nói dối đã cúng vào các chùa-chiền đình miếu hết.

Khi La-Bộc về tới nàh được biết việc hoang-phí tiêu hết cả tiền đã gửi về, ông đã ngã quỵ xuống đất máu ra lai láng vì tiếc của.

Bà Thanh-Đế lo sợ vội vàng cứu chữa, và sau đó bảy ngày, bà Thanh-Đế bị chết.

La-Bộc thương xót mẹ lắm. Chôn mẹ xong, làm nhà ở ngay bên mồ mẹ ba năm mới thôi. Các loài chim thấy ông có hiếu đến đậu chung quanh và mỗi con lại tha ít đất để đắp lên ngôi mộ mẹ ông.

Mãn tang ba năm, ông La-Bộc sang nước Kỳ-Đồ tìm tới Phật xin phép được ở lại tu-luyện.

Phật ưng-thuận sai thày Kha-Na cắt tóc ông, đặt tên là Đại-Mục Kiện-Liên, cho vào tu ở chùa Lã-Bí trong rừng Quít-Sơn. Ngày nay, người ta gọi tắt tên ngài là ngài Mục-Liên.

Một ngày kia, vâng lệnh Đức Phật, ngài Mục-Liên đến chùa Thiên-Giai là nơi có âm hồn ở. Ngài trông thấy cha là Phổ-Tường mà không thấy mẹ.

Ngài buồn bã nhớ thương mẹ khóc lóc. Đức Phật hiện tới bảo mẹ ngài tuy trước có mộ đạo, nhưng vì tham lam và điêu-ngoa nên phải đầy xuống địa-ngục.

Mục-Liên xin phép Đức Phật được xuống địa-ngục tìm mẹ. đi khắp mọi ngục, ngài cũng không gặp mẹ, sau hỏi thăm quỷ-sứ mới được biết mẹ bị giam ở ngục A-Tỳ. Gặp ông, bà mẹ mừng lắm khóc-lóc than-thở kể hết mọi điều khổ-sở với con và nhờ con cứu ra khỏi địa-ngục.

Vâng lời, ngài Mục-Liên đưa mẹ ra khỏi ngục, nhưng quỷ-sứ ngăn lại nói rằng phải có lệnh của Đức Phật. Ngài Mục-Liên lại quay về dương thế kêu van Đức Phật.

Thấy Mục-Liên là người hiếu hạnh Đức Phật chấp-thuận và bảo:

- Nhà ngươi cứ yên lòng trở lại địa-ngục. ta sẽ hóa phép cho mẹ ngươi thành con chó để nhà ngươi được gặp.

Vâng lời, Mục-Liên lại xuống địa-ngục. Vừa tới nơi đã thấy con chó cái quanh quẩn bên mình. Ông hiểu đó là mẹ liền hóa phép cho trở lại thành người. ông đem lời hiếu-hạnh ngọt-ngào khuyên-răn mẹ phải thật-thà và phải dốc lòng theo chân-lý đạo Phật.

Từ đó hai mẹ con tu-hành ăn chay niệm Phật rồi tự nhiên đêm rằm tháng bảy, bà mẹ hóa tiên lên trời. Mục-Liên thấy vậy vội-vàng theo mẹ và cầu-xin Đức Phật xá tội cho cả bảy đời họ hàng của ông nữa.

Dựa theo sự-tích này, đến rằm tháng bảy, các chùa-chiền miếu-vũ có làm chay, chạy đàn, phá ngục cho các tội-nhân.

Do đó tết Trung-Nguyên còn được gọi là ngày xá tội vong-nhân.


NGUYÊN TỪ - NGUYỄN TƯỜNG UYỂN

 
 

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 10.08.2011.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.