TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT




Lời Ban Biên Tập :

Bắt đầu từ số này, Newvietart sẽ cho đăng tập TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT của tác giả Tâm-Nguyện.
Vì tập này khá dày, nên sẽ đăng làm nhiều kỳ.

BBT Newvietart.com


THAY LỜI TỰA

Cho đến nay thì Thiền được nhiều người khắp nơi trên thế giới yêu thích, bởi ai cũng biết Đức Thích Ca đắc đạo nhờ 7 ngày đêm Thiền Định dưới cội Bồ Đề, và Ngài đã trở thành một trong những giáo chủ được sùng bái nhất. Bao nhiêu thời rồi, các Thiền Sư lúc nào cũng có một vị trí cao trong giới tu hành. Đọc các sách viết về Thiền, chúng ta càng thêm ngưỡng mộ bởi lời lẽ hư hư, thực thực, đầy vẻ bí ẩn, hỏi Đông, đáp Tây và những Công Án làm điên đầu người muốn khám phá! Thiền Đường thì ngày càng mở nhiều thêm ra, mỗi nơi đều có cách hướng dẫn riêng. Phái Lâm Tế và Tào Động có phương pháp Đả Thiền. Thậm chí ở nước ngoài cách đây vài thập kỷ đã từng rầm rộ quảng cáo môn Thiền "Đả Thất" của Thiền Sư Lai Quả, thẳng tay đánh người đến chết nếu chấp nhận nhập thất học Thiền! Thiền như một khu rừng huyền bí, thách thức những người tò mò. Thế nhưng càng tìm hiểu càng rối mù, thậm chí chính Ngài Suzuki là một Thiền Sư rất nổi tiếng cũng cho là… không thể giải thích được thế nào là Thiền! Đã không giải thích được điều mình đang tự hào mà còn khuyên người muốn hiểu Thiền “Nên vô Thiền Viện để học ít nhất là vài năm”. Không biết có ai thấy đó là điều nghịch lý hay không?!
     Nhiều người không hiểu Thiền là gì, Thiền để làm gì? Chỉ xem như Thiền là một thế giới huyền bí, cho rằng “Thiền là Thiền, đừng giải thích gì thêm”, rồi chỉ biết ngưỡng mộ, ca tụng! Rồi thì Trà Thiền, Thậm chí các tour du lịch cũng có xen Thiền vào đó… Xem ra Thiền đã trở thành một môn hấp dẫn nhiều thế hệ. Mọi người đua nhau NGỒI THIỀN, đôi khi chưa hiểu gì vể Thiền, không biết là để luyện Khí Công, Yoga, khai mở các luân xa, xuất hồn, xả stress… đều có thể nhờ THIỀN, thậm chí “tẩu hỏa nhập ma” cũng do Thiền!
     Đạo Phật thì phân ra Thiền Ngoại đạo và CHÂN THIỀN bởi vì cùng một thế Ngồi nhưng do điều khiển hơi thở và ý thức mà ra kết quả khác nhau. THIỀN đang phát triển hiện nay có vẻ tách biệt với Đạo Phật, vì người theo bất cứ Tôn Giáo nào cũng có thể Ngồi. Tất nhiên, người ngồi đúng phương pháp cũng sẽ có một số lợi ích nhất định, do thời gian Ngồi nhiếp cái tâm để nó không còn loạn động nữa. Trong khi đó, với Đạo Phật thì THIỀN là một trong 6 Độ mà người hành trì theo đó sẽ sinh TRÍ HUỆ để tiếp tục tự hướng dẫn con đường tu hành cho bản thân. Họ phải làm đầy đủ cả 6 độ, để đạt mục đích cuối cùng là Giải Thoát.
     Thiền trước đó do một người tên là Phất Đang La sáng lâp. Nhưng từ khi Đức Thích Ca đắc đạo nhờ Thiền và dùng nó như một trong Lục Độ để hướng dẫn người tu, thì Thiền không thể thiếu trong pháp môn tu Phật. Từ Tổ Đạt Ma, Phật Pháp được mang sang Trung Quốc, truyền lần xuống tới Lục Tổ Huệ Năng. Nhưng từ Lục Tổ, Y Bát không còn truyền nữa, thì chánh, tà lẫn lộn, không thể phân biệt ai mới thật sự là người đảm đương việc kế thừa và các Thiền Sư thời trước đã lập ra pháp môn chuyên Tu Thiền gọi là Thiền Tông, phát triển ngày càng mạnh. Các nhà sư trở thành Thiền Sư, chùa chiền còn được gọi là Cửa Thiền.
     Trong các đệ tử của Lục Tổ (638-713) có Thanh Nguyên (740) và Nam Nhạc (677-744) sinh ra 5 Phái THIỀN. Thanh Nguyên chính là HẠNH TƯ, học pháp với Lục Tổ, được phong cho làm đầu đại chúng, sau đó được Tổ khuyên đi hóa độ. Ngài đã chọn núi Thanh Nguyên Phủ Kiết Châu để dạy đạo, nên mọi người gọi là Thanh Nguyên Thiền Sư.
     Đệ tử nhiều đời sau của Ngài là Vân Môn (949) sinh ra VÂN MÔN TÔNG, Phán Nhãn (885-958) sinh ra PHÁP NHÃN TÔNG và Tào Sơn (840-901) sinh ra Phái TÀO ĐỘNG.
     Đệ tử nhiều đời sau của Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744) là Quy Sơn (771-853) sinh ra QUY NGƯỠNG TÔNG và Lâm Tế (867) sinh ra LÂM TẾ TÔNG. (Số liệu nói trên được ghi theo tài liệu của Ngài Suzuki).
     Qua đó, ta thấy những phái Thiền này cách xa Lục Tổ hơn 100 năm, nên dù ban đầu cùng xuất phát từ dòng Chánh Pháp của Lục Tổ, nhưng Chánh Pháp từ trước đó đã không còn biết ai là người chính thức được nối truyền thành ra thật, giả khó phân.
     Trong Đạo Phật, việc được ấn chứng hay truyền Y Bát rất là quan trọng, vì không phải ai tu học cũng đều chứng đắc. Bằng chứng là trong chùa Huỳnh Mai của Ngũ Tổ, có hàng ngàn môn nhân nhưng chỉ có mỗi Lục Tổ Huệ Năng là đắc pháp. Không kể vài đệ tử của Lục Tổ được chính thức công nhận có tên trong Pháp Bảo Đàn Kinh. Những người còn lại, chứng đắc hay không cũng mang danh là đệ tử của Ngài. Con cháu của họ cũng cứ thế truyền cho lớp hậu học nên dần dà Phật Pháp bị biến dạng đi. Các phái Tu Thiền cũng thế. Theo tôi, việc biến Tu Phật thành ra Tu Thiền thì cũng đã thấy bắt đầu manh nha khuynh hướng đề cao môn phái. Phái nào cũng muốn nổi bật hơn người khác, không còn theo Đạo Phật chính thống là người tu hành phải “tứ đại giai không”, không màng danh lợi nữa nữa!
     Dựa vào đâu mà ta có thể cho là những người Tu Thiền đang theo một hướng khác hơn là Đạo Phật chân chính? Cũng không có gì khó hiểu, bởi cái mà các phái Tu Thiền tự đề cao pháp môn, cho là “Đốn Giáo” lại chỉ vin vào một vài biểu hiện trong Kinh sách, không giải thích được nguyên do, lại chẳng có liên quan nào đến phương pháp truyền thừa của họ về sau này.
     Thứ nhất: Họ cho rằng nụ cười của Đức Ca Diếp khi Đức Thích Ca đưa cành Sen lên trước chúng rồi được truyền Y Bát là “Đốn Giáo”! Họ không hiểu rằng Ngài Ca Diếp đã theo hầu Phật từ lúc Phật mới bắt đầu ra giảng dạy, đến lúc gần nhập diệt, Phật mới giao đồ chúng lại cho Ngài. Phải đâu gặp Phật vài tháng hay vài ngày mà được truyền Y Bát để cho cái cười đó là “Đốn Giáo”?
     Thứ hai là: Thần Hội bị Lục Tổ đánh ba gậy lúc mới nhập môn. Sau đó theo hầu Lục Tổ một thời gian dài. Khi Lục Tổ tịch diệt rồi, mãi 16 năm sau Ngài mới đứng lên chấn hưng pháp môn của Lục Tổ, thì gậy đó “Đốn” chỗ nào?! Phải đâu vừa gặp Lục Tổ rồi bị đánh 3 gậy mà Thấy Tánh ngay? Rõ ràng những người xiển dương pháp môn Thiền tự cho là “Đốn Giáo” đó không hiểu gì về Đốn Giáo mà Lục Tổ giảng dạy trong pháp Bảo Đàn Kinh. Chỉ nói lên tâm địa muốn tu tắt mà tới cao làm cho nhiều người sau do không biế gì nên cũng tin theo. Rồi cũng do không có văn tự để nối truyền, trách sao pháp môn không đi vào bế tắc? Thử hỏi chỉ “đưa ngón tay lên”, hoặc đánh, hét, nhại lại câu hỏi. Ném, hay đưa lên, đưa xuống tích trượng, phất tử,… thì đồ đệ hay người tham hỏi hiểu được người dạy muốn nói gì mà học?
     Phải chăng do vậy mà cách đây hơn 40 năm, Thiền Sư Nguyệt Khê trong Cội Nguồn Truyền Thừa đã viết lại lời của Pháp Diễn Thiền Sư: "Pháp Nhãn Tông truyền sang Cao Ly, Vân Môn Tông đã thất truyền từ lâu, nay chỉ còn ba Tông: Quy Ngưỡng, Tào Động, Lâm Tế, nhưng con cháu của các Tông chỉ lấy cội nguồn gia phổ để truyền thừa với nhau, ghi tên trên Pháp Quyển là Thiền Sư đời thứ mấy mà thôi, nếu hỏi về Gia Phong Tông Chỉ thì ngơ ngác chẳng thể trả lời!" Đã chẳng biết gì về gia phong tông chỉ thì lấy gì truyền thừa? Nhưng các Phái đó đến nay vẫn còn tiếp tục truyền lần xuống.
     Thập kỷ 20, Nước Nhật có Thiền Sư Suzuki (1904-1971) viết sách để luận về Thiền tựa đề là THIỀN LUẬN. Bộ tái bản năm 2005 được in thành 3 Quyển: Trong đó, Ngài chê là “Đức Thich Ca 49 năm tích cực du hóa sau ngày thành đạo nhằm luận giải sự giác ngộ mà vẫn chưa nói được tiếng nói cuối cùng. Ngài Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân, Vô Trước cũng không biện minh được hết lời, cạn ý”. (tr.74 Q.Thượng) Trong khi hết lời ca tụng, cho là: “Ngón tay trỏ của Thiên Long chỉ cho thấy vẻ huyền bí của toàn vũ trụ, và trong tiếng hét của Lâm Tế, chúng ta nghe bản hòa âm thiên nhạc của khối tinh cầu”! (Thiền Luận Q.Trung tr.10)
      Lẽ ra khi đã nắm được những lẽ sâu xa, huyền nhiệm qua phương pháp hướng dẫn Thiền như thế, thì bản thân người ca tụng hẳn phải thông hiểu Thiền hơn ai hết, có thể giảng nói rành mạch về THIỀN để người sau nương đó mà hiểu biết, thực hành. Trái lại, Ngài viết cả mấy ngàn trang để nói về THIỀN, nhưng lại bảo: “Tôi mong đem đến bạn đọc một ý niệm, dầu rất mơ hồ, về đạo thiền theo như tinh thần đã được truyền tại Viễn Đông trên ngàn năm!.(Quyển Thượng tr. 38).
      Trang 323 Quyển Thượng, Ngài lại bảo: “Thiền là gì? Đó là một câu hỏi rất khó trả lời, không thể trả lời cho vừa ý người hỏi: vì Thiền từ khước tất cả, cả ý định mô tả hoặc định nghĩa Thiền. Vậy, để thông hiểu Thiền, phương pháp hay nhất hẳn là phải học Thiền và hành thiền ít nhất vài năm tại Thiền Đường. Thế nên dầu đem hết tâm trí nghiền ngẫm thiên cảo luận này e bạn đọc vẫn không khỏi hoang mang về đại nghĩa của Thiền pháp”!
     Ngài Suzuki đã là Thiền Sư thì chẳng từng học Thiền nhiều năm tại Thiền Đường đó sao? Như thế bản thân Ngài đã học, hiểu và hành Thiền như thế nào mà không thể nói ra cái hiểu, cái hành đó, lại khuyên người muốn hiểu Thiền phải vào Thiền Đường mà học? Viết hàng mấy ngàn trang để Luận về Thiền, lại bảo rằng người đọc dầu có đem hết tâm trí nghiền ngẫm thiên cảo luận của Ngài vẫn không khỏi hoang mang về đại nghĩa của Thiền pháp? Thiền Sư còn tự nhận: “Mục đích của bài luận này không nhằm chứng minh suông Thiền là cái gì không thể hiểu được, và như thế không ích gì bàn nói đến. Chủ tâm của tôi, trái lại, là thử tận lực làm sáng tỏ ra, dầu kết quả phải thiếu sót và lệch lạc! Ngài đã tận lực mà còn tự cho là phải thiếu sót, lệch lạc. Vậy thì người muốn học Thiền, hiểu Thiền sẽ trông chờ vào điều gì khi dấn thân nghiên cứu, tìm hiểu qua 3 Quyển Thiền Luận dày cộp kia?
     Chính vì vậy mà trong tập này sẽ trích một số đoạn luận chưa đúng về Đạo Phật trong các quyển THIỀN LUẬN của Thiền Sư Suzuki, VÔ MÔN QUAN của Ngài Vô Môn, CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA của Thiền Sư NGUYỆT KHÊ, CHÂN THIỀN ZEN của Taisen Deshimaru... là những vị Thiền Sư coi như cây đa cây đề trong làng Thiền đã viết. Cuối cùng là sẽ đưa ra quan niệm Thiền của Đạo Phật dựa vào kết quả đã đối chiếu với một số chính Kinh, nhằm phân biệt rõ: Thế nào là Thiền của Đạo Phật hướng dẫn, và Thiền được đào tạo qua pháp môn Tu Thiền.
     Nếu không có thêm một luồng dư luận khác để làm sáng tỏ, thì rất có thể nhiều thế hệ sau sẽ tiếp tục hiểu lầm. Vì thế, tập này được viết nhằm mục đích nêu lên một số ý kiến, để người đọc có dịp so sánh sự khác biệt giữa hai phương pháp Tu Thiền và Tu Phật, hầu tiện cân nhắc trước khi chọn pháp môn để tu tập.
     Người viết cũng rất mong nhận được những ý kiến phản biện và những đóng góp của những vị thông hiểu Phật Pháp để làm sáng tỏ thêm. Trân trọng.
(Tháng 10-2010)

Tâm-Nguyện

CHƯƠNG I

PHẢN BIỆN MỘT SỐ ĐIỂM TRONG THIỀN LUẬN CỦA NGÀI SUZUKI.

Đọc THIỀN LUẬN (viết năm 1927) của Ngài Suzuki, ta thấy được một sự tổng hợp rất nhiều Bộ Kinh Phật, và thuyết giải miên man về THIỀN. Qua phần mở đầu dài hơn 30 trang, ta thấy Ngài nói về THIỀN như sau: “Thiền là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải thoát. Đưa ta đến uyên nguyên của cuộc sống uống ngụm nước đầu nguồn. Thiền cởi bỏ tất cả những gì ràng buộc chúng ta, những sanh linh hữu hạn luôn luôn quằn dưới ách khổ lụy trong thế gian này. Ta có thể nói Thiền khai phóng tất cả năng lực nội tại và tự nhiên tích tập trong mỗi người chúng ta, nguồn năng lực ấy, trong hoàn cảnh thường, bị co rút lại, và vặn tréo đi, đến không vùng thoát đâu được” (tr,9 Q.Thượng).

Ngài cho rằng THIỀN “sẽ mở mắt Huệ Nhãn mà khi còn vô minh ta chưa bao giờ mơ tưởng đến”... Sau đó là đưa ra Khổng Tử, Thiên Chúa, nhà văn Adreyev, Tứ Diệu Đế, Mạnh Tử, Oscar Wild để dẫn chứng cảnh Khổ của cuộc sống và kết luận rằng “Thiền sẽ giải quyết những vấn đề trên bằng cách trực tiếp kêu gọi đến ánh sáng của chứng nghiệm bản thân thay vì kiến thức của sách vở. Cần phải dẹp bỏ tri thức, vì tri thức tạo ra đủ thứ vấn đề mà không bao giờ tự giải quyết được nên dẹp bỏ để nhường chỗ cho một cái khác siêu đẳng hơn, minh triết hơn”. (tr.15 Q. Thượng).

Lý lẽ thì nghe có vẻ rất thích đáng. Nhưng ngay dẫn chứng đầu tiên của Ngài ta đã thấy có vấn đề. Ngài đưa Sư Nhật Liên và bốn quy tắc của Nhật Liên Tông - là một phái tu của Nhật - (Chú thích của Ngài về Sư Nhật Liên: Sư nhiều lần bị ám hại và tù đày vì tư tưởng quá khích và hiếu chiến)! Bốn quy tắc đó là:

“Giáo ngoại biệt truyền.

Bất lập văn tự.

Trực chỉ nhân tâm.

Kiến Tánh thành Phật”

Và cho rằng khi Thiền mới du nhập trung Quốc thì “đa số các nhà học Phật đều sa đà trong những cuộc tranh luận siêu hình về giáo pháp vô thượng, hoặc chỉ phụng trì giới hạnh hay suốt ngày ngầy ngật đắm say trong phép Quán Vô Thường. Do đó Bồ Đề Đạt Ma và môn đồ tuyên xưng bốn danh ngôn Thiền kể trên”. (tr.18 Q.Thượng).)

1/- Nếu quả thật Sư Nhật Liên có những tính cách như Thiền Sư Suzuki ghi lại trên, thì hoàn toàn không phù hợp với tính cách của đệ tử Phật gia!. Con nhà Phật thì lúc nào cũng phải “thu thúc lục căn”, chỉ lo “nội quang phản chiếu”, lo đối trị với các tính xấu của mình, gọi là “độ sinh”. Không có nhìn ngó, phê phán người khác. Thái độ “quá khích, hiếu chiến” đi gây sự với người khác hoàn toàn trái với lời Kệ trong bài Tụng Vô Tướng mà Lục Tổ dặn mọi người tại gia hay xuất gia cũng phải y theo đó mà tu hành:

Nếu thấy người lầm lỗi

Ắt mình lỗi chẳng sai

Người lỗi, ta không lỗi

Ta lỗi bởi chê bai

Kinh VIÊN GIÁC nói về việc tu hành, thành Phật qua bài KỆ:

“Nếu người đoạn Thương, Ghét

Cùng với tham, Sân, si

Chẳng cần tu gì khác

Cũng đều đặng Thành Phật”

Như vậy, đối chiếu với chính Kinh ta thấy: Người không trừ Thương, Ghét, Tham, Sân Si, lại quá khích, hiếu chiến thì đâu thể thành Phật như phái này vẫn tôn xưng giáo chủ của mình là Phật Nhật Liên?

2/- Đọc SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT hay gọi là THIẾU THẤT LỤC MÔN được cho là của Tổ ĐẠT MA gồm có: Tâm Kinh tụng, Phá Tướng Luận, Nhị Chủng nhập, An tâm Pháp Môn, Huyết mạch Luận và Ngộ Tánh luận. Trong đó không thấy 4 câu nào tương tựa như quy tắc của Nhật Liên Tông nói trên.

Riêng câu “Trực chỉ nhân tâm ta đã thấy không đúng với Đạo Phật. Trong Đạo Phật, cái CHÂN TÂM là quan trọng nhất. Phật cho rằng: vì mọi người không thấy được cái CHÂN TÂM, tức là Cái BỔN THỂ TÂM, mà phải triển miên chịu Khổ và bị Sinh Tử Luân Hồi. Cái Nhân Tâm – tức cái Tâm của con người, được nhà Phật gọi đó là cái VỌNG TÂM. Chính nó là thủ phạm gây ra bao điều phiền não, sinh tử luân hồi. Người tu Phật phải TRỰC CHỈ CHÂN TÂM mới KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT được. Còn trực chỉ Nhân Tâm chỉ thấy đó là cái vọng tâm, cái tâm phàm, thì làm sao Kiến Tánh? Nguyên tắc quan trọng nhất của việc tu hành thì Phái này đã sai, đã chỉ nhầm hướng, thì người hành trì theo đó sẽ về đâu?

3/- Con đường “Đốn Giáo” là phải “TRỰC CHỈ CHÂN TÂM” để “KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT” thì trong tất cả các pháp môn Tu Thiền ta không hề thấy nói gì đến. Không hề bảo phải Trực chỉ vào Cái TÂM. Chỉ giao cho “Công án”. Phương pháp hướng dẫn thì không có giảng nói, chỉ đưa lên, đưa xuống “Phất Tử”, “gậy”, nhưng Ngài Suzuki coi đó là phương pháp “chỉ thẳng”!

Nếu “gậy”, “phất tử” mà “chỉ thẳng” được, thì lẽ ra số người chứng đắc phải nhiều như cát bụi, vì người học Thiền rất đông. Tại sao người ngộ rất hiếm hoi? Có người phải đợi Thầy “sập cửa cho gảy chân” thì mới “hoát nhiên đại ngộ”? Hơn nữa, nhà Thiền đâu có giải thích như thế nào là “đại ngộ” thì người tu học vin vào đâu để biết mình đã đạt tới tình trạng đó? Người thế gian muốn đi tìm ngọc thì trước đó còn phải học để phân biệt giữa đá, sỏi và ngọc. Phải biết nơi nào có Ngọc để tìm. Có vậy lúc gặp ngọc mới biết chắc là nó. Người Thầy dạy Thiền chỉ “đưa ngón tay lên”. Chưa kịp hỏi gì đã hét, đánh… thì học trò Ngộ cái gì? Ngộ như thế nào? Làm sao biết rằng đó là Ngộ? Bảo rằng lúc đó thấy “đất trời đổ sụp” thì chỉ người nói biết. Lấy gì kiểm chứng để biết đúng, sai, thật, giả?

4.- Về câu “Bất lập văn tự”, ta thấy Lục Tổ HUỆ NĂNG giải thích trong Pháp Bảo Đàn Kinh: “Người chấp “không” thường có ý chê Kinh, nói rằng chẳng dùng văn tự. Đã chẳng dùng văn tự lẽ ra họ chẳng nói lên thành lời mới phải, vì lời nói ra tức là cái tướng của văn tự. Lại nói Chánh đạo chẳng lập văn tự, mà hai chữ “chẳng lập” đó cũng là văn tự! Hễ thấy người ta nói thì chê lời nói của người là chấp trước văn tự”. (PBĐK tr. 136). Tổ Sư Thiền của họ đã chỉ trích người chê văn tự. Nhưng hình như các Thiền Sư về sau không có đọc PHÁP BẢO ĐÀN Kinh để thấy những lời thuyết giảng, dặn dò của Tổ Sư họ, nên xem ra họ toàn làm ngược lại!

* Thiền Sư Suzuki cho rằng “Thiền nhằm chỉ hướng, không bao giờ giải thích, không viện đến lối trình bày quanh co mà cũng không quy nạp”… (19 Q.Thượng) Nhưng lại đưa ra rất nhiều câu chuyện của các vị Lâm Tế, Huỳnh Bá, Vân Môn Văn Yển, Mục Châu, Tô Đông Pha để giải thích về “con đường hiện thực của Thiền”. Ngài cho rằng “Thiền đối xử với những cái cụ thể chớ không phải những suy diễn trừu tượng nhằm chỉ thẳng vào căn bản cái tánh ta mà trí thức thường không đưa ta đến đó được”. Chẳng lẽ “nhắm vào căn bản của tánh ta” lại có thể dùng phất tử hay hét, đánh mà Tánh Ta sẽ bật ra? Rồi Ngài dùng những đoạn văn của Hòa Thương Từ Minh và Viên Ngộ để giải đáp câu hỏi về Thiền và nói rằng “tôi mong đem đến bạn đọc một ý niệm dầu rất mơ hồ về đạo thiền theo như tinh thần đã được truyền tại Viền Đông trên ngàn năm”. (tr.38 Q.Thượng).

Lẽ ra người đã tự xưng là THIỀN SƯ, có thể viết đến mấy quyển sách dày để luận về THIỀN thì phải hiểu rõ về Thiền và diễn đạt một cách rõ ràng để người đọc có thể qua đó hiểu mà thực hành, đi đến kết quả. Đâu thể chỉ nêu ra “Một ý niệm mơ hồ về Đạo Thiền”?!

Ngài cho rằng: “Bắt đầu từ Bồ Đề Đạt Ma truyền đến Tổ Huệ Năng thì Thiền không còn là của Ấn Độ nữa mà hoàn toàn là của Trung Hoa để đưa đến sự NGỘ”.

Quan niệm về NGỘ của nhà Thiền hình như khác rất xa với quan niệm NGỘ của bên Phật gia. Với pháp môn Tu Thiền, chỉ cần Khai hay giải được một CÔNG ÁN thì được gọi là NGỘ. Nhưng cũng không thấy tài liệu nào nói về cái NGỘ đó như thế nào. Chỉ thấy người được cho là Ngộ có hiện tượng: Trò đánh lại thầy. Hai thầy trò cùng hét. Cười vang.Thậm chí còn hung hăng hơn lúc chưa Ngộ! Ít thấy lưu lại bằng thơ, Kệ. Trái lại, trong Đạo Phật, cụ thể như Lục tổ Huệ Năng được đánh giá bằng THẤY TÁNH, và tất cả 33 vị Tổ đểu có Kệ để lưu lại.

Trong phần chú thích trang 381 Quyển Thượng nói về một nữ đệ tử của Lang Nha Thiền Sư mà Ngài Suzuki đã cho là “chứng đạo” do Quán Công Án:

Có một cô được giao cho Công Án “Tùy tha khứ” (theo nó mà đi) để tham quán. Cô cứ theo đó mà hành, chuyên tâm đến nỗi một hôm lửa cháy nhà của cô, cô cũng kêu “Tùy tha khứ”. Hôm khác, cô quăng con xuống sông, người láng giềng kêu bà, báo nguy, cô cũng bảo: “Tùy tha khứ”. Chồng cô chiên bánh, liệng miếng bột vô chảo kêu tiếng xèo. Cô giật mình như tỉnh cơn mê, rồi nhắc chảo dầu đổ xuống đất, tay phủi, miệng cười, hét to “tùy tha khứ”.

Và đây là kết luận của Ngài Suzuki: “Chồng cô tưởng cô điên, đâu ngờ cô vừa chứng đạo”!

Người chứng đắc của Đạo Phật là chứng cái Vô Ngã, cái thoát pháp. Tổ Đạt Ma viết: Rắn biến thành rồng cũng không đổi vảy. Phàm Phu thành Thánh cũng cũng đổi mặt”. Tức là trước và sau khi chứng họ vẫn hoàn toàn là một con người bình thường. Từ Đức Thích Ca cho đến Tổ cuối cùng là Lục Tổ, ta đâu có thấy người nào có hành vi, nói năng bất thường?! Còn bà này rõ ràng không bình thường, không biết gì khác ngoài lập đi lập lại Công Án! Một người tu hành mà không biết mạng sống con người là quan trọng. Cố ý giết một con côn trùng nhỏ mà còn phạm Giới Sát, huống là giết một mạng người. “Hùm dữ còn không ăn thịt con” vậy mà một người mẹ, lại là một bà mẹ tu hành lại đang tâm giết con của mình! Xem ra bà ta chẳng còn biết phân biệt phải, trái, đúng, sai! Thế mà Thiền Sư Suzuki còn bảo bà ta chứng đạo thì chắc ta cũng nên xem lại cái hiểu Đạo Phật của chính Ngài!

* Nơi khác, Ngài đưa lời bình của Nam Tuyền Thiền Sư trong bộ Nam Tuyền Lục, cho rằng vì Ngài Huệ Năng “chẳng hiểu Phật Pháp, chỉ hiểu Đạo” nên được truyền Y Bát. Lời bình này của Ngài Nam Tuyền là không chính xác. Sở dĩ Lục Tổ Huệ Năng được truyền Y Bát vì Ngài THẤY TÁNH. Pháp Bảo Đàn Kinh đã viết rất rõ ràng. Cái Tánh đó được diễn tả qua lời Kệ: “BỒ ĐỀ BỔN VÔ THỌ. MINH CẢNH DIỆC PHI ĐÀI, BẢN LAI VÔ NHẤT VẬT. HÀ XỨ NHÁ TRẦN AI”.

Sở dĩ Lục Tổ HUỆ NĂNG nói rằng Ngài “không hiểu Phật Pháp” là ý ngài muốn nói về cái Hiểu Phật Pháp qua văn tự của những kẻ do học của người khác mà hiểu. Do đó Ngài không cần Hiểu Phật Pháp theo cách đó, mà chỉ cần hiểu cách thức trực tiếp là Thấy Tánh, cũng gọi là Đắc Đạo. Cho nên, nếu cứ theo nguyên Văn mà bàn luận và hiểu đạo thì Kinh đã cảnh báo: “Y KINH GIẢI NGHĨA TAM THẾ PHẬT OAN”. Có nghĩa là nếu cứ Y theo lời kinh mà giải nghĩa thì làm oan cho Chư Phật ba đời vậy!


 
 
... CÒN TIẾP...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 10.08.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .