Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


(Kỳ 8)

Tình Yêu và Thiên Nhiên
trong thơ Trần Nguyên Anh



Trong những trang trước đây, độc giả đã biết đến một Trần Nguyên Anh,nhà thơ của Tình Nhà, Tình Quê Hương, Tình Non Nước và qua hai đề tài Chiến Tranh và Xã Hội, một Trần Nguyên Anh nữa có mối bận tâm và những day dứt về những đau thương, tan nát, chia lìa rất hiện thực và chân tình. Ông nhìn vào nhiều vấn đề và mô tả tỉ mỉ nên đôi khi làm giảm đi chất thi ca, nếu hiểu thi ca ở bình diện như thế hệ Tiền chiến đã làm. Nhưng thế hệ này chịu ảnh hưởng nhiều ở thi ca gọi là “lãng mạn” Pháp. Còn với nhà thơ đất Phủ Vĩnh Tường, ông lớn lên rồi rời xa quê hương mà mang trong tâm tư nỗi đau quằn quại về gia đình, về bản thân lênh đênh nơi xứ người, theo cách gọi thưở chia đôi đất nước .

Và như vậy, chúng tôi hy vọng đã giới thiệu với độc giả được một phần nào hình ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh, vừa trào phúng, hiện thực và trữ tình.
Dưới đây xin mời độc giả đến với đề tài Tình Yêu trong thơ Trần Nguyên Anh.
Trước hết là mấy bài thơ tiêu biểu, nói lên nỗi lòng của tác giả về một cuộc tình duyên trắc trở :

Chiều thương

Bốn phương trời khóa mây sầu,
Nhớ thương rưng rức lòng đau nát lòng !
Ai về Hợp phố mà mong,
Đêm hoa rượu chuốc môi hồng nở hoa.

Ban-mê-thuột 1959
(Trong : Dĩ vãng bâng khuâng)

Có lẽ chỉ những người yêu nhau mà phải xa cách mới thấm vào lòng từng lời, từng câu trên. Nó đằm thắm, da diết và cũng rất đớn đau đến nát lòng người trong cuộc.
Việc chia đôi đất nước vào thập niên 50 ở cuối thế kỷ trước, đến nay cũng đã 56 năm, đã gây nên bao cuộc chia lìa giữa những người yêu nhau.
Ngày ra đi, Trần Nguyên Anh cũng là người đã phải chia lìa với mối tình đầu thưở ấy. Bài thơ Mưa Chiều dưới đây tác giả viết năm 1962 ghi dấu của tình yêu này :

Mưa chiều giăng mắc lây dây,
Cho ta buồn nhớ nỗi này đường kia.
Tám năm rồi – vẫn câu thề,
Vườn hoa Bách Thảo đi về Hồ Gươm !

(Trong : Dĩ vãng bâng khuâng)

Theo tác giả, thì đây là mối tình giữa một ông thầy rất trẻ và người chị của học trò cũng vừa mới biết yêu lần đầu. Thầy trở thành một “gia sư” sau khi gia đình gặp nạn, nên việc tiếp tế bị trở ngại, ảnh hưởng đến việc ăn học. Ngày đó, đất nước đang ở vào một giai đoạn cực kỳ rối reng. Những tin đồn từ đâu loan truyền vào Hà Nội chung quanh việc thắng trận của kháng chiến, quân Pháp rút lui ở nơi này, rồi nơi kia, và kinh hoàng hơn là tin nói, đất nước chia đôi …Các khu “chợ trời” lập nên nhanh chóng. Ai có thứ gì tốt mà không thể mang đi được, như bàn ghế, tủ giường, chén bát, đồ kiểu sành sứ v.v…thì mang ra, bán thốc bán tháo. Ai có gan ở lại hay có con làm lớn trong hàng ngũ kháng chiến thì mua.
Thầy giáo Trần Nguyên Anh trở về quê để thưa chuyện cưới xin với thân mẫu, mang theo hy vọng, niềm vui là mình sắp cưới một cô vợ trẻ và duyên dáng. Nhưng vì thân mẫu lúc đó đang mắc nạn. Bản thân ông nếu không nhanh chân chạy xuống Hải Phòng lên tàu vào Nam thì cũng kẹt lại.

Những mối tình của thưở ban đầu luôn luôn đầy ắp mộng mơ, trong sáng. Chính đấy là yếu tố để hai người còn nhớ còn thương. Trần Nguyên Anh dù là con người đạo lý, thực tế và hết lòng lo cho gia đình, xây dựng nên một gia đình có truyền thống về đạo lý, về hiếu thảo và kiến văn, nhất là một đời sống nhân bản, cũng không thoát được cái lưới vô hình của tình yêu không trọn.Cho nên, có lúc ông tự hỏi :

Hỏi ai còn nhớ còn thương

Hà Nội ơi ! Hà Nội ơi !
Quen nhau từ thưở đất trời Thủ Đô !
Bốn phương khói lửa mịt mờ ,
Mà sao hò hẹn đợi chờ làm chi ?
Cho em lỡ buổi xuân thì,
Cho ta lận đận đi về miền Nam!
Bao năm ôm bóng trăng vàng,
Trên đường rong ruổi quan san lạnh lùng !
Câu thơ viết mãi não nùng,
Tình đầu dang dở xin đừng trách nhau !
Đến nay tóc đã đổi màu,
Nhớ quên rõ khéo chén sầu còn say !
Chợt buồn theo sợi mây bay,
Mưa đan lất phất gió heo may vào !
Lá vàng nhè nhẹ lao xao,
Bốn mươi năm lẻ ngọt nào tha hương !
Hỏi ai còn có nhớ thương ?!

Mùa Thu 1996
(Trong : Ly hương hoài cảm 2)

Ngôn ngữ cũ, ý cũ nhưng bài thơ vẫn toát ra một tình yêu chân thành và thắm thiết, cho dù đôi đường cách trở đã “bốn mươi năm lẻ”. Phải chăng đó là câu chuyện thuộc về tình yêu đôi lứa của thuở ban đầu và chỉ có ở giai đoạn này thôi ? Ở đây là thời kỳ xã hội Việt Nam còn trong vòng lễ giáo và văn hóa cũ, mặc dù văn hóa Tây phương, tiêu biểu là Pháp, đã có ảnh hưởng trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.Nhưng quan trọng hơn vẫn là ở chính những con người yêu nhau vẫn còn lại trong họ những giá trị văn hóa truyền thống ở hai bình diện : gia đình và xã hội.

Bao năm ôm ánh trăng vàng,
Trên đường rong ruổi quan san lạnh lùng !

Những từ “trăng vàng” và “quan san lạnh lùng” có tính ước lệ, chung chung vì thường thấy trong thi ca Việt Nam. Tuy nhiên ở Trần Nguyên Anh, tuổi trẻ của ông là một chuỗi đoạn trường, rong ruổi rày đây mai đó, cao nguyên rừng núi hay đồng bằng lúa vàng, nơi nào cũng ghi dấu chân của ông. Cho nên những từ ấy là trung thực, là một góc tâm tư và kỷ niệm của một cõi lòng đầy trắc ẩn như ông. Cảnh vật và tâm tư của ông như thể là một, như phần sau đây chúng tôi giới thiệu cùng độc giả một đề tài khác mà nhà thơ Trần Nguyên Anh cũng có những sáng tác khởi sắc, đó là :

Thiên nhiên trong thơ Trần Nguyên Anh

Trong những dòng thơ lấy cảnh trí thiên nhiên để gửi gấm tâm sự của mình, tôi đã ghi đậm nét bút chì ở đọan thơ Trần Nguyên Anh mô tả tiếng chuông nhà thờ ban mai của Hà Nội trong tập Nước non Tâm sự. Bởi vì đây là tiếng chuông nhà thờ mà lần đầu tiên ông được nghe, khi ông đi học ở Hà Nội, năm 1949. Năm này tác giả đã 15 tuổi, sau khi :

Tản cư ngày tháng dần qua,
Mẹ con dắt díu đi xa về gần.
Đến chừng mỏi mệt dừng chân,
Trở về làng cũ vườn sân tiêu điều.
Nhà thì giặc đốt giặc thiêu,
Ruộng thì giặc chiếm khôn kêu thấu trời.

Trong : Nước non Tâm sự
(Từ câu 247-252)

Trước khi đi vào thiên nhiên qua thơ Trần Nguyên Anh, chúng tôi giới thiệu với độc giả mấy bài thơ của ông mô tả cảnh trí Hà Nội qua tiếng chuông nhà thờ ban mai thời kỳ 1949 , 1950:

Mình ta với bốn bức tường,
Vài ba quyển sách bụi vương đầy bìa.
Ngọn đèn ngủ lúc canh khuya,
Chuông nhà thờ đổ tiếng chì, tiếng thau.
Tiếng như ngựa vút qua cầu,
Tiếng như mưa đổ trên đầu núi non !
Tiếng như trống giục quân bon,
Tiếng như dao sắc khua dòn đánh nhau.
Tiếng như thác đổ từ cao,
Nửa vời nước chảy đập vào đá xanh.
Tiếng như gió hú đầu ghềnh,
Tiếng như nước vỗ chân thành sóng reo.
Tiếng như cắt ruột trăm chiều,
Tiếng như ghiền nát tình yêu quê nhà !

Trong : Nước non Tâm sự
(Từ câu 296-310)

Tiếng chuông nhà thờ mà mô tả như thế thì mặc dù tôi là một Ki-tô hữu, rất gần gũi với tiếng chuông ngay từ ngày còn thơ ấu tại làng quê xứ đạo, tôi vẫn thấy tiếng chuông trong thơ Trần Nguyên Anh có một điều gì đó quyến rũ lạ lùng, nó huyền bí và lay động tâm can mình. Tiếng chuông da diết đầy nỗi nhớ, bồn chồn, thao thức và cô quạnh như đó chính là tiếng lòng của nhà thơ. Trong mười câu tả về tiếng chuông, thì cả mười câu đều nói lên tâm trạng khác nhau của tác giả. Nhưng tất cả đều dồn vào một mối, đó là lúc tác giả sống trong tình trạng bồn chồn, khắc khoải về cảnh nhà, về thân mẫu. Có lúc người học trò 15 tuổi ấy có thể lịm đi trong những phút giây mất cân bằng. Để nói về tiếng chuông, tác giả dùng chữ “Tiếng” ở đầu câu. Dòng thơ đang chảy trong tim ông, bỗng dưng tác giả dừng lại như thể có một vết nứt nào đó ở mãi nơi sâu thẳm và huyền nhiệm của con người, làm đứt đoạn tiếng chuông đang dồn dập đổ vào tận cõi lòng u uẩn của ông :

Nửa vời nước chảy đập vào đá xanh

Phải chăng, những ẩn tình riêng mà Trần Nguyên Anh đã gửi vào tiếng chuông, như : “ngựa vút qua cầu”, như “mưa đổ trên đầu núi non”, như “trống giục quân bon”, như “dao sắc…”, như “thác đổ…” và sau đó, những tiếng chuông như “gió hú đầu ghềnh”, như “nước vỗ chân thành…”, “cắt ruột trăm chiều” và như “ghiền nát tình yêu quê nhà”là tất cả những thách đố, những đau thương đã đổ ập xuống trên gia đình tác giả, và tất nhiên cho chính tác giả nữa, lúc ấy đang còn ở cái tuổi “đá xanh”.

Sau tiếng chuông nhà thờ là cảnh phố xá Hà Nội :

Sáng bừng trăng vẫn còn treo,
Nằm ngang cửa sổ hắt hiu cảnh trường.
Trông xa, phố xá rộn ràng,
Kẻ đi người lại, kẻ sang người nghèo.
Xích lô xe đạp ì xèo,
Người nhàn bách bộ đi theo vỉa hè.
Về trưa nắng lửa vàng hoe,
Lá xanh héo lá cho se lòng này !
Trên trời bàng bạc mây bay,
Như màn lụa mỏng khăn tay của trời !
Chiều chiều lên Cổ Ngư chơi,
Gió chiều man mát ngậm ngùi nhớ quê !
Nghi Tàm trước mặt con đê,
Mà sao giống lạ lối về quê ta.
Hồ Tây sóng gợn sao sa,
Trăng lồng đáy nước khắc là gương soi !
Trấn quốc mõ nện từng hồi,
Lời kinh sang sảng cho người ngẩn ngơ !
Phù sinh kiếp sống phù du,
Nay còn mai mất nở trưa tối tàn (1)
Khác gì một giọt sương tan,
Đọng trong giây lát mà tan tức thời.
Bâng khuâng hết đứng lại ngồi.

Trong : Nước non Tâm sự
(Từ câu 312-335)

_________

Hoa mười giờ

Cũng vẫn là cách mượn cảnh ngoài để nói đến cái tâm của mình, “Lá xanh héo lá cho se lòng này !” Đến những câu khi nghe tiếng mõ chùa, tác giả chuyển sang tinh thần đạo pháp về cái cõi phù sinh, có đấy rồi lại không đấy. Nhưng cái hiện thực của cuộc đời vẫn khiến ông “Bâng khuâng hết đứng lại ngồi”.

Thấy cảnh là thấy lòng mình u hoài hay là chính cái lòng u hoài mênh mang quá, và quả thực là như vậy ở Trần Nguyên Anh. Cho nên cái tâm cảnh ấy chỉ chờ có dịp là phát tỏa ra chung quanh. Lúc ấy tâm và cảnh là một.

Nhưng thiên nhiên trong thơ Trần Nguyên Anh không phải tất cả đều là tâm cảnh. Bài dưới đây, tác giả viết về Ban-mê-thuột. Tôi coi đây là một bức tranh toàn cảnh về mảnh đất Cao nguyên, được lưu truyền lại như “xứ buồn muôn thưở” :

Thoắt đi vừa đúng ba thu,
Ở Ban-mê-thuột cao su bạt ngàn.
Đồi trà bát ngát màu lam,
Cà-phê nặng trĩu nắng vàng trên cây.
Bốn mùa bàng bạc mây bay,
Sương sa buổi sớm gió lay buổi chiều.
Núi đồi lúp súp xanh rêu,
Không cao mà đẹp đều đều lên cao.
Hồ sen Lạc Thiện ngọt ngào,
Gió đưa hương ngát như chào khách du.
Đứng trên biệt điện “Nhà vua” (2)
Bốn bề phong cảnh nên thơ hữu tình.
Một bên núi dựng liên thành,
Một bên rừng biếc màu xanh chân trời.
Bình minh sáng dậy tuyệt vời,
Nắng vàng trải lụa trên đồi non xa.
Chim rừng réo rắt hoan ca,
Vượn đưa tiếng hú vọng qua đường đèo.
Lửng lơ mây lượn ngòng ngoèo
Dưới chân đỉnh núi treo leo dốc dài.
Mặt trời đỏ lựng ngàn mai,
Lung linh tia nắng đổ ngoài rừng thưa.
Như tay quái vật rung đùa,
Vươn ra biển cả sóng lùa mênh mông.

Trong : Nước non Tâm sự
(Từ câu 673 – 696)

(2) Biệt điện của Bảo Đại

Tôi cũng có một thời kỳ ở Ban-mê-thuột (Từ 1957 – 1960), nhưng chỉ quanh quẩn trong tỉnh lỵ. Thỉnh thoảng có ngày nghỉ rảnh rang mới đi ra ngoài, rời xa phố chợ, rảo bước bên những suối rừng tìm cái thanh tịnh cho lòng mình, nên đối với tôi, bài thơ trên đây có một sự cuốn hút lạ kỳ, đưa tôi trở lại cảnh trí Ban-mê-thuột xa xưa đó, cho dù tôi đã rời xa cái “xứ buồn muôn thưở” ấy, đến nay, vừa tròn 50 năm.

Để đóng lại dòng thơ thiên nhiên của Trần Nguyên Anh, xin giới thiệu với độc giả hai bài tả cảnh Mùa Đông, viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.

Đông vào (1)

Thu đã qua rồi ! Đông đã sang,
Ai xui gió bấc thổi trên ngàn.
Cho trăng vàng úa – trăng mờ quá !
Cho gió đen ngòm – gió khóc than.
Xơ xác núi non rừng lá rụng !
Eo xèo sông nước chợ chiều tan !
Mưa phùn lất phất đời thêm lạnh !
Sương muối giăng giăng trắng cửa tràng !

1998
(Trong : Đời vô thường)

Đông vào (2)

Đông vào cảnh vật một màu tang,
Gió bấc mưa phùn lạnh tím gan !
Sương muối căm căm như cắt thịt !
Mây tro mù mịt khóa không gian !
Đất trời u ám trăng mờ nhạt !
Sông nước eo xèo khách thở than.
Kẻ khó cuộc đời thêm khốn khó,
Mong xuân ấm áp rực mai vàng.

1998
(Trong : Đời vô thường)

Trong cả hai bài trên đây, tác giả không nói đến một mùa đông hiện thực của năm 1998 là năm viết bài thơ, mà đây là một mùa đông của tiềm thức, của quá khứ ở quê nhà yêu dấu của ông. Ở miền Nam chỉ có hai mùa mưa nắng, nhưng mỗi năm, kể từ mùa Noel trở đi, trời Sài-Gòn cũng có khi bất chợt gặp được mấy sợi gió lành lạnh của mùa Đông miền Bắc bay lạc vào, khiến cho bao con người đã rời xa đó, thấy thế thì động lòng nhớ quê, trong số này chắc hẳn không thể không có nhà thơ Trần Nguyên Anh. Tất nhiên ở mỗi người mỗi khác, do tuổi tác và hoàn cảnh gia đình ngày xưa đó của họ. Chẳng hạn ,với tôi thì mùa đông ở quê hương tôi ngày đó, luôn luôn gắn liền với một lễ đêm Giáng Sinh lạnh cóng, cùng mẹ và anh chị đi nhà thờ trong chiếc áo len hay áo bông dày cộm.Còn với Trần Nguyên Anh, mỗi khi có cơn gió lạnh về là ông lại hồi tưởng đến mùa đông ở quê nhà ông, mà nhớ đến quê là ông lại không sao quên được một “mùa đông” của gia đình. Ông vẫn mang “mùa đông” ấy trong lòng. Vì vậy, hai bài thơ Mùa Đông trên đây, ta thấy những câu khởi đã chứa ẩn một niềm tâm sự của ông. Vì tuy nói đến mùa đông mà thực sự ông lại nghĩ đến một “màu tang”, làm “tím gan” con người.Dẫu vậy, hai bài thơ thất ngôn bát cú này, thật sự là mùa đông ở xứ lạnh, song ông đã dùng những từ để nói đến thân phận của kẻ bất hạnh, khổ đau. Như “khóc than”, “thở than”, “khốn khó”.

Ngoài ra hai bài thơ trên đây có thể coi là tiêu biểu cho dòng thơ của Trần Nguyên Anh làm theo Đường luật, gieo vần bằng. Những câu khởi trong cả hai bài, tác giả đều nói đến tình và cảnh :

Thu đã qua rồi ! Đông đã sang,
Ai xui gió bấc thổi trên ngàn.

(Bài 1)

Đông vào cảnh vật một màu tang,
Gió bấc mưa phùn lạnh tím gan !

(Bài 2)

Những câu khởi mà gồm cả tình và cảnh trong một bài thơ như thế, thì theo những nhà nghiên cứu về Thơ Đường, đó là hạng nhất. Còn câu khởi chỉ nói đến cảnh hoặc tình, một thôi, là hạng thứ. (Theo Đào Duy Anh, trong Đường thi, tr. 141, NXB Văn hóa Thông tin, 1995). Bài Đông vào (1), ngoài hai câu khởi, còn lại sáu câu, tức là những câu thừa (câu 3-4), câu chuyển (5-6) và câu hợp (7-8), tác giả đều dùng cả từ và ý đối nhau. Như :

“Trăng vàng úa” (câu 3) đối với “ gió đen ngòm” (câu 4)
“Xơ xác núi non” (câu 5) đối với “Eo xèo sông nước”(câu 6)
“Mưa phùn lất phất”(câu 7) đối với “Sương muối giăng giăng”(câu 8).

Còn bài Đông vào (2), tác giả dùng từ để đối ngẫu ở những câu thừa (3-4) và chuyển (5-6). Hai câu hợp tác giả dùng ý để kết.
Ngày nay, làm thơ Đường mà đạt tới trình độ dùng cả từ và hay tình và cảnh trong một bài thơ như vậy, quả là hiếm.



Kỳ sau : Nhân sinh quan của tác giả
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 29.01.2010 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .