Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


(Kỳ 7)

Khái quát về :
Những vấn đề xã hội
trong thơ Trần Nguyên Anh



Cũng tương tự như vấn đề chiến tranh, Trần Nguyên Anh đã khai thác đề tài xã hội hầu như toàn diện. Cho nên, bỏ qua đề tài này là một thiếu sót. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ nói đến một cách khái quát, hy vọng nói lên được một phần nào tâm tư của nhà thơ đất Phủ Vĩnh Tường này.

Phần lớn đề tài xã hội được tác giả nói đến trong hai tập trường thiên, là Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình, nhất là tập sau. Ở các tập thơ khác, như Đời vô thường và tập Ly hương hoài cảm (2 tập), cũng có những bài về xã hội.
Trước hết vẫn là cái mốc lịch sử của dân tộc, năm 1945. Đây là thời gian khởi đầu cho những cảm xúc của Trần Nguyên Anh, trước những vấn đề xảy đến cho đất nước : chiến tranh, chính trị, xã hội.

Về mặt chiến tranh, chúng tôi đã nói đến trong bài kỳ trước.Một phần nào chúng tôi đã giới thiệu mấy bài thơ về chiến tranh, những đổ vỡ, đau thương và bi thảm cho người dân. Theo Trần Nguyên Anh, một hành vi nào có tính toán mà hậu quả là gây đau thương cho con người, dù là một cá nhân nhỏ bé nhất, tầm thường nhất, nghèo hèn nhất trong xã hội, do bất cứ ai, bất cứ lực lượng nào cũng đều phải bị lên án. Như thế, cái đau của Trần Nguyên Anh là cái đau của một người có lòng với nước, với phận người. Ông không thuộc về một phía nào trong cái bàn cờ chính trị của đất nước từ gần thế kỷ vừa qua. Cho nên, chúng tôi ,sau khi đọc toàn bộ các tác phẩm thi ca của ông, có thể không ngại ngùng mà nói rằng, cái tâm của ông là cái tâm của một vị Bồ Tát, vượt trên mọi sai biệt, mọi khuynh hướng chính trị bè phái, xã hội và tôn giáo.

Về chính trị, giai đoạn này xuất hiện nhiều khuynh hướng đối nghịch. Vì vậy nó cũng được giải thích, được phê phán qua nhiều quan điểm và lập trường. Hiện nay, những vấn đề này còn đó, tạo nhiều ngăn cách, làm trở ngại cho sự tương quan bình đẳng, nhân ái giữa con người với nhau. Nhưng thật ra, chính trị theo cái nghĩa này thì hết sức phức tạp, muôn đời nó vẫn là nó. Còn theo cái nghĩa vượt lên, coi con người là chủ thể có sứ mệnh dẫn dắt loài người tiến vào một không gian, một thời gian của nhân ái, thì có thể tìm ở một vài nền văn hóa và triết lý những tia sáng, hướng dẫn con người đạt đến đó..

Về xã hội, chúng tôi chọn một đoạn trong tập Nước non tâm sự, tác giả nói về trận đói năm 1945 :

Bốn Nhăm (1945) nạn đói lao đao,
Đầy đường người chết ai nào xót đau !
Nhật thì đốt thóc chạy tàu,
Tây thì thất trận ôm đầu máu thua.
Triều đình Nhà Nguyễn Quan, Vua,
Ngẩn ngơ một lũ láo lơ bù nhìn.
Tận cùng khốn khổ dân đen,
Lại thêm cướp trộm khắp miền nổi lên.
Côn đồ giật giọc ban đêm,
Huyện quan đề lại những tên cướp ngày.
Cường hào ác bá tiếp tay,
Thằng dân sạch bách trên mày dưới khu.
Chồng thì hở đít hở cu,
Vợ thì để cả mu cua ra ngoài.
Ông già bà lão so vai,
Ốm trơ xương má, xương vai mấy tầng.
Trẻ em trai gái ở trần,
Teo mông, lép ngực, xanh gân da trời.
Hắt hiu môi lạnh tiếng cười,
Bước đi lạng quạng như người rượu say.
Nằm bên đống rác quờ tay,
Cầm từng vỏ ốc đưa ngay vào mồm.
Nghiến răng máu chảy tanh lờm,
Co mình cố bám hút trôn ốc nhồi.
Hút vào chút nước tanh hôi,
Để mong sống được thêm vài phút giây !
Hay nằm bên cạnh cống xây,
Vớt cơm rau cặn bám đầy chất dơ.
Thế là sau một vài giờ,
Họ nằm chết lạnh xác khô đầy ruồi.
Nhặng bay như đổ trấu phơi,
Chất chồng già trẻ đầu đuôi lộn phèo.
Có người chết ôm con theo,
Miệng còn ngậm vú bèo nhèo lớp da !
Một thảm trạng vạn xót xa,
Bây giờ mãi mãi sao mà ta quên !

Trong : Nước non tâm sự
(Từ câu 63 – 98)

Thơ viết về trận đói năm Ất Dậu, 1945, như thế, thì có thể nói, chưa thấy có bài nào so sánh nổi với ông về mặt hiện thực. Bây giờ nhìn lại,qua bài thơ này, người đọc còn thấy kinh hoàng và tủi nhục. Trong lúc đó, vẫn diễn ra cảnh các đảng phái chém giết, sát hại nhau không chút phân vân; còn phía cầm quyền thì bất lực, không ngăn được đám quan lại lộng hành.

Đối với xã hội ở miền Nam dưới hai thời Tổng thống Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, tổng cộng hơn hai mươi năm, tính từ năm 1954, ngòi bút của Trần Nguyên Anh cũng vẫn sắc xảo, tinh tế, không e dè. Ông dấn thân vào làng báo qua những bài thơ trào phúng và những thiên phóng sự xã hội, đã đủ để thấy tác giả luôn đấu tranh cho công bằng và sự thật, chống bất công, áp bức, chống những hành vi lộng hành của quyền thế và của bọn gian thương, giàu có miệt thị người nghèo, cô thân cô thế giữa chợ đời ma quái. Ông còn đề cập đến xã hội và đời sống của người dân trong vòng lửa đạn, cũng như dưới bất cứ chế độ chính trị nào, người dân bao giờ cũng là thành phần phải gánh chịu tất cả đau thương, đổ vỡ, mất mát, chia lìa v.v…

Dưới đây xin trích dẫn đoạn thơ, tác giả viết về giai đoạn sau ngày 1/11/1963 :

Ba tháng Nguyễn Khánh giở trò,
Làm màn chỉnh lý vẽ cò thành cua !
Vũng Tàu là một vết nhơ,
Hiến chương gây cảnh rối mù hoang mang.
Sinh viên dồn dập xuống đàng,
Biểu tình phản đối, chiến trường xục xôi.
Việt Cộng đánh phá khắp nơi,
Lính thì chết trận dân thời tản cư.
Đầy đường, đầy chợ (thủ đô),
Nát lòng người trị – béo xù kẻ gian !
Phật giáo – Công giáo tan hoang,
Đánh nhau giành giật từng gang đất chùa.
Linh mục khích bác nhà sư,
Giáo dân, Phật tử gầm gừ thủ dao.
Minh lớn bị lật đổ nhào,
Ông Sửu lên thế xanh xao thân già.
Hết gân hết cốt trùng da,
Chẳng làm gì được Quốc gia suy tàn
Bảy tháng “Quốc trưởng” gian nan,
Chỉ lo dàn xếp nát gan Trâu cầy.
Thế tình nát bấy lay hoay,
Phe này nhóm nọ diễn xoay đủ trò.
Tranh giành chụp giật giằng co,

Vật giá như sốt lên cơn,
Mỗi ngày một giá còn hơn cháy nhà !
Chiến tranh khốc liệt gần xa,
Xương đầy thung lũng, máu hòa rừng xanh.
Hậu trường chính trị rối tinh,
Xuống đường Phật giáo đấu tranh hỗn bừa.
Đem bàn thờ Phật phơi mưa,
Hương bày, đạn réo sững sờ người ngu.
Ông Thiệu ngồi ngó trơ trơ,
Ông Kỳ tuyên bố láo lơ chia bè.
Đối lập được dịp kéo phe,
Nhóm này, nhóm nọ chém vè lẫn nhau !
Gian thương tích trữ làm giầu,
Tha hồ móc ngoặc moi hầu người dân.

Trong :Diễn khúc dân tình
(Từ câu 576 – 625)

Sau khi ông Ngô Đình Diệm bị sát hại và bị lật đổ , người Mỹ đã đưa tướng Dương Văn Minh (Minh lớn) lên cầm quyền, nhưng nội bộ tướng lãnh bất hòa, nên người Mỹ lại dùng đến tướng Nguyễn Khánh, đang làm Tư lệnh Q.Đ II kiêm Vùng II Chiến thuật, làm “chỉnh lý” ngày 30/1/1964, lật đổ tướng Minh,đưa ông Phan Văn Sửu lên làm Quốc trưởng. Giai đoạn này nổ ra xung đột giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo, và giữa Phật giáo Ấn Quang và Phật giáo Việt Nam Quốc tự. Sau khi Nguyễn Khánh cầm quyền, một bản Hiến chương ra đời, gọi là “Hiến chương Vũng Tàu”.Dư luận nói rằng, bản hiến chương này do một nhân vật trong nhóm Quan Điểm soạn (?). Lập tức phe đối lập phản đối dữ bằng các cuộc biểu tình, phần lớn là sinh viên học sinh. Lý do : bản hiến chương có mầm mống độc tài. Nguyễn Khánh đã nhượng bộ, xé bỏ bản hiến chương Vũng Tàu.


Kỳ sau : Thơ tình Trần nguyên Anh)
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 02.01.2010 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .