Mỹ Sơn

ĐỘC ĐÁO THÁP CHÀM



ĐỖ NGỌC THẠCH


Đi dọc miền Trung, – từ Quảng Nam – Đà Nẵng cho đến Thuận Hải – , du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp độc đáo của những Tháp Chàm (Tháp Chăm) cổ kính, hoang sơ trên những triền đồi lộng gió…Khi nhìn Tháp Chàm in bóng trên nền trời xanh thẳm, ta sẽ có được cái cảm giác bao la, hùng vĩ của thiên nhiên và vụt liên tưởng đến thời hoàng kim của Vương quốc Chiêm Thành hùng mạnh. Khi bắt gặp bóng Tháp Chàm trầm tư, cô độc và như đang “lở lói trước thời gian” trong những buổi hoàng hôn, ta như bỗng cảm nhận được hết nỗi bi tráng của một dân tộc đã phải trải qua những tháng năm suy tàn…

Là nơi giao lưu các nền văn minh sớm của Á Đông, dải đất miền Trung – địa bàn cư trú đầu tiên của dân tộc Chăm – đã tiếp thu có bản lĩnh nền văn hóa Ấn Độ và Khơ-me để tạo nên bản sắc riêng, độc đáo của mình. Khi tiếp xúc với Tháp Chàm, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều sửng sốt, ngạc nhiên và đánh giá rất cao:... “Di sản văn hóa của dân tộc Chăm là một bộ phận quan trọng trong tổng thể di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trải thời gian, di sản của nền văn hóa rực rỡ này chỉ còn lại khá ít, nhưng nghệ thuật xây dựng, trang trí và điêu khắc có một không hai, là một trong những kỳ quan của kho tàng di sản văn hóa nhân loại”…

Tháp Chàm được xây dựng theo tín ngưỡng thờ Thần Siva, một trong tam vị nhất thể của đạo Bà La Môn, Siva - tượng trưng cho sự huỷ diệt, hai vị thần kia là Visnu - tượng trưng cho sự bảo tồn và Brahma - tượng trưng cho sự sinh thành. Cả ba nằm trong một vòng luân chuyển không ngừng.

Tháp Chàm, trong Ấn Độ giáo người ta gọi là Sikhara, một dạng kiến trúc tiêu biểu của Bà La Môn giáo. Từ Sikhara có nghĩa là đỉnh nhọn, đỉnh núi nhọn, biểu thị của núi Mêru trong Bà La Môn giáo. Núi Mêru là núi thần thoại có nhiều đỉnh cao thấp khác nhau. Vị thần tối cao ngự trên đỉnh núi cao nhất. Các vị thần tuỳ theo các bậc cao thấp khác nhau mà ngự trị ở những đỉnh núi thấp hơn trên cùng một dãy Mêru. Núi Mêru được biểu hiện thành kiến trúc Sikhara, người Chăm gọi là Kalan, có nghĩa là đền thờ. Đúng ra là Kalan Chàm chứ không phải là Tháp Chàm, nhưng người ta quen gọi là Tháp Chàm.

Theo cổ sử, khi Vương quốc Chiêm Thành bành trướng ra đóng đô ở Anh-đơ-ra-pu-ra (Quảng Nam – Đà Nẵng) thì nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm đã đến thời trung hưng thịnh. Di tích còn lại của Tháp Chàm ở khu vực này tập trung chủ yếu ở Mỹ Sơn và Đồng Dương.

Mỹ Sơn gần khu phố cổ Hội An, là một khu đền đài thờ thần của đạo Bà La Môn. Những ngôi đền đầu tiên ở Mỹ Sơn do Vua Ba-đơ-ra-vac-man xây dựng vào thế kỷ VII để thờ thần Xi-va của đạo Bà La Môn. Ở Mỹ Sơn, từ đầu thế kỷ, người ta đã đếm được hơn 70 đền tháp (Ka-lan) và đều xác định đó là những khu Ka-lan đẹp nhất của nghệ thuật Chăm. Nhưng qua cuộc chiến tranh chống Mỹ, bom đạn đã biến thành đống gạch vụn khu Ka-lan đẹp nhất đó! Năm 1980, kiểm kê lại, chỉ còn khoảng 30 Ka-lan!...

Cạnh Mỹ Sơn là khu Đồng Dương, một khu di tích của chùa lớn thờ Phật Quan Âm. Do ảnh hưởng mạnh của kiến trúc Phật giáo, những Tháp Chàm ở đây có một vẻ sinh động, khỏe mạnh khác thường.

Đầu thế kỷ VIII đến thế kỷ IX, vùng đất Nha Trang là kinh đô của triều đại Pan-đu-ran-ga hào hùng. Quần thể kiến trúc Pô Na-ga nằm trong quần thể kiến trúc của hoàng cung là di tích còn lại khá nguyên vẹn và đây cũng là đền tháp nổi tiếng nhất ở Nha Trang.

Tháp Pô Na-ga (còn gọi là Tháp Bà) gắn liền với truyền thuyết về Thánh Mẫu Thiên Yana – biểu tượng của sức sống phồn thực, người đã làm cho dân tộc Chăm thịnh vượng. Trong một ngôi tháp chính cao 23 mét, người ta tạc tượng Thánh Mẫu. Hàng năm, vào ngày cúng tế vía Bà, người Chăm tổ chức trang trọng lễ cúng tế với dàn nhạc lễ đầy đủ các loại nhạc cụ kèn, trống, sáo…

Từ thế kỷ XI, kiến trúc Chăm vẫn còn giữ vẻ đồ sộ nhưng không còn duyên dáng như thời kỳ Mỹ Sơn. Đó là những Tháp Vàng, Tháp Bạc, Tháp Đồng ở Bình Định. Những tháp này thờ các vị thần Ấn Độ giáo như Xi-va, Xkăn-đa…(tượng thần còn nguyên vẹn).

Bình Định là địa phương thứ hai, sau Quảng Nam sở hữu được nhiều tháp Chăm nhất nước ta, với 8 cụm di tích tháp với 14 tháp rải ra trên địa giới ba huyện và một thành phố: Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước và Quy Nhơn. Niên đại của các tháp Chăm được xác định là từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 12, tức tuổi thọ trung bình của chúng cách nay ngót 1.000 năm. Khi định niên đại của các tháp Chăm thuộc phong cách Bình Định, các nhà nghiên cứu khá thống nhất với giả thuyết: bắt đầu từ tháp Bánh Ít - còn gọi là tháp Bạc (nửa đầu thế kỷ 12), tiếp theo là tháp Dương Long (đầu thế kỷ 13), tháp Hưng Thạnh (nửa đầu thế kỷ 12), tháp Thủ Thiện Cánh Tiên (hay tháp Đồng)và cuối cùng là tháp Phú Lốc hay tháp Vàng (thuộc thế kỷ 13).

Từ thế kỷ XIV, kiến trúc Chàm với tháp Pôkơ Long Garai (ở Phan Rang) là chấm dứt nền kiến trúc lớn của dân tộc Chăm…

Nhìn chung, Tháp Chàm có hình dáng chung theo luật cân đối, chân đế có hình khối vuông, không dùng nguyên liệu đá như kiến trúc đền tháp Khơ-me cổ mà dùng một thứ gạch nung rất cứng, có độ dính kết chặt (đây còn là một bí ẩn của Tháp Chàm), nhà điêu khắc có thể chạm trang trí vào tường đã xây lên. Cấu trúc của Tháp Chàm gồm có nhiều tầng, mỗi tầng bé dần lên tới đỉnh tháp. Tầng thứ nhất trên một nền cao là tầng quan trọng nhất đứng thẳng lên giữa những cột ghép ở góc hay theo khung cửa lồi ra, làm thành những đường dọc thanh nhã. Hình trang trí trên đầu cột phồng ra như búp sen. Cửa vào tháp bao giờ cũng hướng về phía mặt trời mọc, ba hướng kia có cửa giả. Trên mỗi cửa đều có óc cửa hình thoi, trang trí bằng tượng quái vật nhô ra. Nhìn từ xa, hình dáng chung của Tháp Chàm giống như một quả thông khổng lồ…



(Ghi chép Folklore)
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 16.12.2009 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.