NHÀ THƠ HOÀI KHANH
Từ lục bát "nâu" đến lục bát "thiền"


LÊ NGỌC TRÁC

"...Tôi lớn lên ven bờ sông Cà Ty
Với giữa hai triền núi Cú và Tà Zôn
Lưu luyến nhìn biển cả gọi hồn đi tám hướng

... Cha tôi một nơi, mẹ tôi một ngã và súng nổ
làm chúng tôi ôm nhau khóc hoài
Giữa cánh đồng mà vài tấm tranh không làm sao che nổi
Cơn gió bấc cũng như tôi lớn lên sau này không sao
che nổi buồn đau đớn trên gương mặt rầu rĩ của tôi..."

Đó là những câu thơ tự sự, Hoài Khanh viết về quê hương và gia đình của ông trong một thời ly loạn. Nhà thơ Hoài Khanh tên thật là Võ Văn Quế, sinh ngày 13 tháng 06 năm 1933 tại Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (Có tài liệu ghi ngày sinh của Hoài Khanh là ngày 20/03/1934?). Từ năm 1957, Hoài Khanh đã hiện diện trên bầu trời thi ca Việt Nam với thi phẩm "Dâng rừng". Tính đến nay, Hoài Khanh đã xuất bản về thơ có: Thân phận (1962), Lục bát (1968), Gió bấc - trẻ nhỏ - đóa hồng và dế (1970), Hương sắc mong manh (2006). Về văn có: Trí nhớ hoang vu và khói (Tập truyện – 1970). Trước năm 1975, Hoài Khanh viết báo làm thơ. Ông là người chủ trương và điều hành nhà xuất bản Ca Dao, một trong những nhà xuất bản đầy uy tín, có nhiều ấn phẩm giá trị, thu hút được đông đảo người đọc. Hiện nay, Hoài Khanh thường trú tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Từ thưở đôi mươi, Hoài Khanh đã viết những câu thơ mà khi đọc xong nhiều người cảm nhận như có một cơn gió lạnh thổi qua tâm hồn của mình:

"... Qua sông là một nhịp cầu
Qua tôi là một kiếp sầu vô chung"

Khi đọc hai câu trên trong tập thơ "Dâng rừng" của Hoài Khanh, Bùi Giáng, một nhà thơ, nhà giáo và là một nhà biên luận phải kinh ngạc thốt lên: "Anh chưa quá hai mươi tuổi, anh làm những vần thơ mà Nguyễn Du, Nguyễn Khắc Hiếu tái sinh nghe được phải lạnh mình trước cái vĩ đại, hồn nhiên của một tài hoa chưa ráo máu đầu. Cái vẻ ngây thơ thăm thẳm của lời thơ, chỉ những thiên tài xuất chúng mới có được". Quả thật vậy, qua thời gian, Hoài Khanh là một nhà thơ tài hoa. Nhưng, thơ của ông mang một nỗi u hoài. Phải chăng khi lớn lên, Hoài Thanh đã sớm chứng kiến những cảnh khổ đau của một thời đất nước chìm trong chiến tranh, loạn lạc nên trong thơ Hoài Khanh viết nhiều về nỗi buồn. Thơ lục bát của Hoài Khanh nhuần nhuyễn, mang đậm hồn dân tộc. Nhưng là những bài lục bát "nâu" – một màu nâu buồn mênh mông sâu thẳm. Chúng ta bắt gặp trong thơ Hoài Khanh nỗi đau thương của một kiếp người:

"Cõi nào giọng khởi nguyên vang
Nhánh khô trời muộn trôi tan mộng thầm
Súng còn vọng mãi trời căm
Rưng rưng mắt lệ nghìn tâm sự nào?
Mộng đời nát ngọc chìm châu
Bến mê vẫn rợn mấy màu trầm luân
Mười lăm năm bấy nhiêu lần
Bấy nhiêu rồi nhỉ hỡi trần gian kia?
Ngược xuôi bao kẻ đi về
Tấm thân bé mọn bên lề tồn vong
Chuyện đời có có không không
Phù vân một áng bụi hồng xa xa
Cớ sao thiên hạ người ta
Vẫn chưa tròn một quê nhà bao dung?
Vẫn chưa tỉnh giấc hãi hùng
Trong cơn trường mộng vô cùng thời gian".

("Lục bát" – 1968)

Và, còn bắt gặp nỗi buồn của thời gian, nỗi buồn mông mênh của dòng sông:

"Nước xuôi lạnh một giòng sầu
Biết về đâu hỡi mấy màu thời gian
...
Con sông nào đã xa nguồn
Thì con sông ấy sẽ buồn với tôi"

Rất nhiều người yêu thơ mãi đến nay vẫn còn say mê bài thơ "Ngồi lại bên cầu" của Hoài Khanh. Có lẽ, với bài thơ này, Hoài Khanh đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nền thi ca Việt Nam ở hậu bán thế kỷ 20:

"Người em xưa trở về đây một bận
Con đường câm bỗng ánh sáng diệu kỳ
Tôi lẩn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi

Em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
Màu cô đơn trên suối tóc la đà
Còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến sông xa

Thôi nước mắt đã ghi lời trên đá
Và cô đơn đã ghi dấu trên tay
Chân đã bước trên lối về hoang vắng
Còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia vẫn cứ chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.

("Thân phận")

Bước sang những năm đầu thế kỷ 21, chúng ta tiếp tục thưởng thức thơ của Hoài Khanh. Thơ của ông vẫn còn nguyên hấp dẫn như thuở ban đầu. Nhưng, ta bắt gặp Hoài Khanh với những ý thơ mới hơn, trong sáng hơn. Hoài Khanh ở giai đoạn này không còn là những bài lục bát "nâu" mang một nỗi buồn mênh mông sâu thẳm. Ý thơ của ông khác xa với thời kỳ trước. Trong thơ, Hoài Khanh hướng tới những điều tốt đẹp, ảnh hưởng "thiền" của Phật giáo một cách đậm nét:

"Hiểu ngầm sen nở đầm xa
Là nhân gian hỡi Thích Ca đã về
Người về đánh thức cơn mê
Ác gian, thù hận tràn trề khổ đau
Người về với ánh nhiệm mầu
Mấy ngàn năm đã qua cầu tử sinh
Đạo vàng ôi sắc hiển linh
Muôn đời vẫn vọng câu kinh độ trì
Muôn đời ánh đạo từ bi
Sẽ xua quỷ dữ, sân si, bạo tàn
Sẽ đem trả lại nhân gian
Cuộc sinh tồn ngát hoa vàng từ tâm".

("Điềm triệu của sắc vàng")

Hoài Khanh đã viết những dòng lục bát, đọc xong, chúng ta tưởng chừng là tâm kinh:

"Nhớ câu "vô sở tùng lai
Diệt vô sở khứ" trần ai nhãn tiền
Con từ sa cõi phân duyên
Nếm mùi nghiệp chướng lụy phiền não nhân
Tham sân như cát sông Hằng
Đắm mê bóng sắc quên thân phận mình
Một hôm sực nhớ câu kinh:
"Không phải chỗ trụ mà sinh tâm mình...""

("Sám hối")

Qua thơ Hoài Khanh, chúng ta nhận thấy cuộc đời rất an nhiên:

"Cái gì hễ mất lại còn
Hễ không là có, hễ tròn là lăn
Ngày xưa có một dấu chân
Bước qua bãi cát sông Hằng nhẹ tênh".

("Dấu chân từ phụ")

Từ lục bát "nâu", Hoài Khanh chuyển sang lục bát "thiền". Phải chăng, qua những bão giông, khổ đau, cô đơn tận cùng trong cuộc đời, Hoài Khanh hướng đến. Và, đưa vào thơ của mình những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống.


__________________________________

Tài liệu tham khảo:
- Thơ Hoài Khanh
- Những nhà thơ hôm nay
(Nguyễn Đình Tuyến – 1967)
- Hoài Khanh, người thi sĩ đi tìm lại nguồn cội của một dòng sông (Hiếu Tâm – Tập san Pháp luân – 2008)




© tác giả giữ bản quyền.
. đăng ngày 15.12.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Phan Thiết.