Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


(Kỳ 6)

Chiến Tranh Trong Thơ Trần Nguyên Anh



Thế hệ của Trần Nguyên Anh là thế hệ của chiến tranh, cho nên ông đã là người lính, đã chứng kiến và trải qua những thời kỳ lửa đạn và chết chóc:

Loạn ly khói lửa lưng trời,
Tản cư chạy giặc rã rời quê hương !
Khắp nơi chết chóc đau thương,
Ruông đồng hoang dại, xóm phường xác xơ !
...
Ruổi rong đi khắp sơn hà,
Sài-Gòn đã chán đi xa lại về !
Cao nguyên mưa gió lê thê,
Đồng bằng sông nước trăng khuya Bãi Xàu.
Bóng chiều đổ xuống sông sâu,
Con phà Vàm Cống qua cầu Nha Mân.
Vĩnh Long bến bắc dừng chân,
Tâm tình viễn khách mùa xuân bẽ bàng.
Buồn buồn ra biển Nha Trang,
Để nghe sóng vỗ trông sang Rù Rì.
Mồ hôi đẫm áo chia ly,
Làm thân lính chiến nghĩ gì tương lai ?
Trở lên Darlak lần hai,
Đêm nghe đại pháo rên dài từ xa.
Đường vào Gia Nghĩa phong ba,
Khói bom mù mịt thịt da tơi bời !
Đồi nào chồng chất xương phơi,
Suối nào nhuộm đỏ máu người Viêt Nam ?

Trích từ bài Bàng hoàng nước non
(Trong: Ly hương hoài cảm 2)

Và sau một trận càn quét:

Còn bao nhiêu chuyện đêm đêm,
Sống thời ly loạn thắt tim giật mình.
Mở mắt ra lại còn kinh,
Trước cảnh chết chóc sinh linh ngập đồng.
Kẻ mất vợ người mất chồng,
Mất cha mất mẹ, mất ông mất bà.
Có làng chết sạch cả nhà,
Không ai chôn cất – giặc rà hung hăng.
Trên máy bay, dưới xe tăng,
Bộ binh đại pháo chúng giăng lưới cào.
Tiến ngang càn dọc thi nhau,
Đốt nhà đốt cửa ào ào lửa binh.
Lũy tre trơ gốc đau mình,
Thương măng nhớ lá khóc cành gẫy đôi.
Cây cam, cây ổi, đâu rồi ?
Cây chanh, cây quít giữa trời cháy da !
Cây bàng ,cây mít hôm qua,
Giặc đà đốn ngã – mưa sa đất vùi !
Cây sung khô mủ trắng tươi,
Vì bom đạn chém gẫy đôi giữa vườn.

... Đau thương nối tiếp đau thương,
Vắng hiu phố chợ, nát đường cái quan.

Trích trong: Diễn khúc dân tình
( từ câu 345-366 )

Nhưng cuộc chiến tranh gọi là kháng chiến chống thực dân Pháp ấy, không hoàn toàn là một cuộc khởi nghĩa, như bao cuộc khởi nghĩa khác trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt. Thí dụ, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), của Lê Lợi (thế kỷ 15), của Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thái Học v.v.... ở Bắc và của Trương Định v.v... ở trong Nam. Mục đích của những cuộc khởi nghĩa này là giành lại chủ quyền cho đất nước, đem lại cho dân chúng tự do,no ấm, hạnh phúc, là những quyền căn bản và cao quý nhất cho bất cứ một dân một nước nào.Tư tưởng chủ đạo của những cuộc khởi nghĩa này là lòng yêu nước thương dân của những nhà ái quốc. Họ thấy người dân chịu muôn vàn đắng cay, cơ khổ dưới quyền cai trị của ngoại bang, nên một lòng đứng lên chiêu mộ nghĩa quân, tiến hành kháng chiến, hoàn toàn do sức của mình. Mặc dù đã thất bại trước kẻ thù cuồng bạo xâm lược, song cái gương yêu nước thì ngàn năm vẫn sáng ngời, không bị bụi thời gian làm mờ đi
Trái lại, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào thời kỳ 1945-1954 mặc dù đã thành công, song cuộc kháng chiến này không phải chỉ có một mục đích và một lực lượng tham gia trực diện chiến đấu. Cho nên, nhà thơ Trần Nguyên Anh đã nói và nói nhiều đến những thống khổ của người dân Việt Nam do bất cứ phía nào gây ra. Tuy nhiên, ở vị trí người trong cả hai thời kỳ chiến tranh, Trần Nguyên Anh đã thấy những tang tóc và đau thương của bên này hay bên kia gây ra, nó xuất hiện nhãn tiền trước mặt trời và trước con mắt của người dân, nên ông không thể nói chung chung được.Chẳng hạn, bên phía quốc gia, tác giả đề cập đến ông vua Bảo Đại, những người trong vị trí Thủ tướng chính phủ, như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, hay ở vị trí quyền cao như Phan Văn Giáo, Nguyễn Văn Xuân (Thiếu tướng), Bảy Viễn v.v…Còn bên phía Việt Minh, tác giả đề cập đến những cái chết oan uổng và tức tưởi vì nghi cho là Việt gian, gián điệp hay vô tình bỏ nón lá trên đầu xuống vừa lúc có tầu bay bà già bay qua. Cử chỉ này được cho là một ám hiệu chung quanh đấy có du kích, để quân Pháp ném bom, và nhảy dù..Trần Nguyên Anh cũng không bỏ qua cảnh Sài-Gòn ăn chơi về đêm, mở sòng bài Kim Chung Đại Thế Giới, trong tay Bảy Viễn.

Ngòi bút của ông có lúc tàn nhẫn, không do dự khi đề cập đến những thảm trạng do bên này hay bên kia gây ra cho dân chúng đã khốn cùng lại khốn cùng hơn. Chiến tranh dù là với mục đích cao cả, nhằm mưu ích cho dân cho nước, song với thực tiễn chết chóc, bần cùng thì chiến tranh vẫn là tai họa, bất nhân đối với con người.Đó là mặt trái của nó. Vì thế, những phê phán của Trần Nguyên Anh trong khi mô tả những hậu quả của chiến tranh về tai ương giáng xuống trên con người và môi trường sinh sống của con người, nó trong sáng và mang những giá trị nhân văn.

Sau những năm 50, tức là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), báo chí có đăng một bản tin về Virgil Gheorghiu, tác giả quyển sách La Vingt-cinquième Heure - Giờ thứ 25. Tôi nhớ man mác rằng, khi tác giả người Lỗ-mã-ni này sang cư ngụ ở Pháp, ông chứng kiến những chuyện đau lòng xé ruột do con người gây ra cho con người trong lòng xã hội tư bản, nên ông đã phê phán nó gắt gao, nhưng ông đã bị phản đối. Ông bày tỏ nỗi chán chường, đại ý rằng, chẳng lẽ nhà văn chỉ được tố cáo tội ác một phía ! Sau đó, ông đi tu.

Kỳ sau : Những vấn đề xã hội trong thơ Trần Nguyên Anh
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 03.12.2009 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .