Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


(Kỳ 5)

Tình Non Nước

Độc giả sẽ tìm thấy ở đây lịch sử đau thương của dân tộc Việt Nam từ 1945 đến nay. Đây cũng chính là giai đoạn mà thế hệ của ông trực tiếp gánh chịu những hệ lụy của nó. Vì thế tác giả đã đưa nó vào thơ với tất cả tâm tình qua hai thi phẩm trường thiên : Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình.
Tập Nước non tâm sự viết từ năm 1986 đến 1989, gồm 4 chương với 2195 câu. Khởi đầu ông đặt bút xuống là đã nói về gia đình của mình. Tôi coi đây là một chủ đề chính trong thi ca Trần Nguyên Anh, trong nhiều biến cố lịch sử của dân tộc cũng như trong nhiều hoàn cảnh của tác giả. Nó như một nguồn cảm hứng lúc nào cũng chỉ trào dâng để kết thành tiếng thơ đau thương.
Còn tập Diễn khúc dân tình, tác giả viết từ năm 1985 đến 1995, gồm 4 chương với 1856 câu. Cả hai tập này, tác giả viết theo thể lục bát.

Mặc dù đây là hai tác phẩm chính tác giả gửi gấm tâm sự của mình về non nước, song chủ đề này cũng thấy tác giả nói đến trong những tập khác, như Dĩ vãng bâng khuâng, Đời vô thường, Ly hương hoài cảm, 2 tập.

Tôi thao thức đêm nay không ngủ,
Nghe mưa rơi thương nhớ vợ con
Lại buồn đến chuyện nước non,
Bắc Nam chia cắt đã tròn tám năm !

(1962)

Bài : Nỗi buồn về đêm
(Trong : Dĩ vãng bâng khuâng)

Khi nói đến lịch sử của Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, người ta đụng chạm đến những thương tích mà đến nay vẫn chưa lành được, ở cả hai phía với hai ý thức hệ mâu thuẫn. Đó là hai cuộc chiến tranh tại Đông Dương, nạn đói năm Ất Dậu (1945), chia cắt Nam-Bắc, hình thành rõ rệt hai lực lược đối kháng Quốc-Cộng, cách mạng ruộng đất ở miền Bắc, cho đến biến cố ngày 30-4-1975, đẩy cả triệu người vượt tuyến ra đi v.v…Tất cả đều được tác giả nói lên với một tâm tình của người yêu nước.
Ông không nghiêng về bên nào và cũng không đứng vào một tổ chức đảng phái chính trị nào. Ngay đến lãnh vực văn chương, ông cũng không theo một khuynh hướng nào. Ở đâu có bè phái, ở đó ông tìm đi. Vì thế người của phía nào đọc ông, hẳn không thể tránh được yêu hay ghét theo chủ quan. Ông thản nhiên. Vì ông chỉ có một mục đích duy nhất, là ghi lại bằng ngôn ngữ thi ca những gì đã xảy ra trong thời đại của mình, để người mai sau có đọc đến tất hiểu được tâm sự của ông. Đó là ý của bài : “Làm sao xóa được vết nhơ !” trong tập Ly hương hoài cảm 2.
Bài thơ này có 31 câu, 8 câu đầu nối cả vần và ý được với 9 câu cuối bài, tạo thành một bài riêng khá hoàn chỉnh, nói lên cái tâm trạng của tác giả khi nhớ lại những biến cố xảy đến cho đất nước và cho gia đình ông. Còn đoạn giữa, tác giả nói đến việc xuống tàu di cư. Trên con tàu vượt đại dương mênh mông ấy, tác giả nhớ về cố hương, chỉ thấy “Sương đông gió bấc lạnh lùng…”
Ở đây xin giới thiệu cả bài 31 câu để thấy nét bút hoài cảm của tác giả, Trần NguyênAnh.

Làm sao xóa được vết nhơ !

Biết bao nhiêu việc phải làm,
Nếu ta nấn ná thời gian qua rồi !
Buông tay nhắm mắt là thôi !
Nào ai hay biết cái thời của ta !
Sống trong bão táp mưa sa,
Sống trong ly loạn cửa nhà nát tan.
Sống trong giết chóc kinh hoàng,
Bắc Nam chia cắt dở dang tình đầu.
Tháng Giêng ta vội xuống tàu
Sau khi mẹ mất đớn đau vô cùng.
Trông về cố quận mịt mùng,
Sương đông gió bấc lạnh lùng chân mây.
Sông xàu núi chết bủa vây,
Biển gào sóng giận con tầu lênh đênh.
Đại dương bát ngát mông mênh,
Trên trời dưới nước quanh mình sao rơi !
Khói trăng ảnh ảo cuộc đời,
Ngổn ngang trăm nỗi rối bời ruột gan.
Tha phương kiếp sống lang thang,
Ruổi rong ngày tháng đi hoang cõi trần.
Cơm hàng cháo chợ không xuân,
Tóc xanh nhuốm bụi gian truân ngút sầu.
Một mình đèn trắng canh thâu,
Ta ngồi viết mãi ngàn câu thơ rồi !
Mà xem tâm sự bời bời,
Dù cho ta được thảnh thơi về già.
Nhưng mà thương nhớ Mẹ Cha,
Vẫn còn khắc khoải sơn hà chia đôi.
Linh Giang, Bến Hải hai thời,
Sử kia ai chép- Ngậm ngùi ngàn thu !
Làm sao xóa sạch vết nhơ ?

(1995)

Tuy nhiên, cái tình cảm của nhà thơ đất Phủ Vĩnh Tường đối với Nước non , không chỉ dừng lại ở cái tâm tư nặng trĩu u hoài về cảnh nhà đau thương, bởi vì ông cũng đặt mình vào hoàn cảnh chung của đất nước chiến tranh, phân rẽ, đói khát và thiên tai v.v…
Dưới đây là một bài thơ nói về vụ lụt năm Ất Dậu, tác giả chạnh lòng trước những bất hạnh của người dân.

Ngổn ngang tâm sự

Hôm nay lại đã vào thu,
Mùa thu Ất Dậu bao giờ ta quên !
Vỡ đê, chạy giặc suốt đêm,
Người người hớt hải réo tìm gọi nhau.
Nồi niêu bát chuyển lên cao,
Chó mèo, heo ngỗng lao đao cùng trời !
Gà bay tứ tán khắp nơi,
Lên cành cây đậu mưa rơi lạnh lùng !
Chỉ trong mươi tiếng là chừng,
Ruộng đồng trắng xóa mênh mông biển trời.
Trâu bò ngoi ngóp lội bơi,
Sóng xô, gió giật chết trôi bập bềnh !
Xanh xanh từng mảng lục bình,
Thiên tai địch họa dân tình xác xơ !
Nhà nhà đói rách láo lơ,
Kiếm ăn bắt ốc mò cua cả làng !
Lại thêm dịch tễ lây lan,
Trăm ngàn đau khổ bỏ làng kéo nhau
Lên rừng phá rẫy trồng rau,
Nhai khoai, nuốt sắn ốm đau gầy mòn !
Vàng da, sốt rét chồng con,
Lại về làng cũ chỉ còn da xương !
Năm mươi năm, ta vẫn buồn,
Bốn nhăm chết đói tai ương chất chồng.
Việt Minh khởi nghĩa thành công,
Sang trang sử mới, núi sông đổi đời !
Nay ta cũng đã già rồi,
Mất còn man mác, đất trời mông mênh !
Văn chương nặng một khối tình !

Thu Ất Hợi 1995
(Trong : Ly hương hoài cảm 1)

Non nước Việt Nam nhìn vào từ ngàn năm xưa đã là một giống nòi đấu tranh. Nhưng cũng thật huyền nhiệm, trong bao nhiêu là tang thương, bao nhiêu là cơ hàn, cùng quẫn, bao nhiêu là máu, nước mắt và xương khô thành sông, thành suối và núi đồi…Vây mà dân tộc dòng Bách Việt này lại trở nên một Văn Hiến chi bang ! Thời nào, giai đoạn lịch sử nào Dòng Giống này cũng xuất hiện những anh hùng kiệt xuất, chính trị có, quân sự có, văn học có v.v…Nhưng ở đây xin nói , chưa bao giờ chính trị trùm lấp sứ mệnh của Văn hiến. Vì chính trị chỉ là giai đoạn.
Nhà thơ Trần Nguyên Anh, trong tâm tư của ông, Nước non Việt còn câu ca giọng hát, còn lục bát, còn Nguyễn Du, còn Tản Đà v.v…

Câu thơ lục bát



(Kính dâng hương hồn hai cụ Nguyễn Du và Tản Đà)
TNA


Quê hương là núi là sông,
Là bài lục bát tuổi hồng thơm tho !
Là tiếng hát là giọng hò,
Là em đi học chữ O đầu đời !
Là anh là chị của tôi,
Là Kiều lận đận dập vùi bài thơ !
Mười lăm năm kiếp giang hồ,
Tiền Đường rửa sạch ai ngờ gặp nhau !
Tình chị trước, duyên em sau,
Ấy câu lục bát đổi sầu làm vui !
Là Nguyễn Du, cụ tuyệt vời,
Là đất, là nước, mẹ tôi, cha già !
Là Khắc Hiếu, cụ Tản Đà,
Là muôn triệu đóa mai hoa nở bừng !
Là xuân là Tết Vua Hùng,
Chẳng đâu có được điệu cùng thơ ta !
Đó là lục bát Tản Đà,
Đó là lục bát đậm đà Nguyễn Du !

Tháng 8 Ất Hợi 1995
(Trong : Ly hương hoài cảm 1)

Mấy bài thơ trích dẫn trên đây chỉ là những nỗi hoài cảm về Non nước của Trần Nguyên Anh, chợt xuất hiện ở đâu đó trong các thi tập bộn bề của ông, nó khởi phát từ một tâm tư đầy những khắc khoải về đất nước, về bối cảnh của một lịch sử mà ông là một nhân chứng. Xuất hiện đó, rồi lại chìm vào, ẩn khuất đi, để hòa nhập với cõi lòng u uẩn, mông lung, diệu dợi của một tình tự về gia đình.
Nếu nhìn một cách khái quát vào tình trạng gia đình Việt Nam từ mấy thập niên nay, nhất là từ sau khi Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy với thế giới bên ngoài, trong xu hướng toàn cầu hóa, người ta thấy gia đình Việt Nam hiện đang có những biến chuyển mạnh mẽ, có những mâu thuẫn giữa các thế hệ trong cùng một gia đình, để từ đó, khách quan trong việc đánh giá quan điểm của Trần Nguyên Anh về gia đình. Có thể khẳng định, con tim và tình cảm của ông dành cho gia đình, là một yếu tố căn bản và rất quan trọng, nó là trụ cột bền vững đưa gia đình vượt qua những giai đoạn gian nan, nó tạo điều kiện để mọi thành phần trong gia đình thuận hòa, đùm bọc nhau và thăng tiến về mặt xã hội và tinh thần gia tộc là phẩm chất sắt son, như đá như non.
Cùng với tình tự gia đình, nỗi hoài cảm về Non nước của Trần Nguyên Anh còn thấy xuất hiện trong nhiều bài khác, nhiều đoạn thơ khác mang những nội dung riêng biệt, truyền cảm, để khẳng định tác giả rất nặng lòng với Nước với Non.

Kỳ sau : Chiến tranh trong Thơ Trần Nguyên Anh.
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 11.11.2009 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .