TÁC DỤNG
CỦA VIỆC ĐƯA VĂN HỌC
VÀO GIẢNG DẠY  

(Bài tham gia Hội nghị khoa học giảng viên Khoa Ngoại ngữ năm học 2003-2004 Trường Đại học Ngoại ngữ và Tin học thành phố Hồ Chí Minh ngày 3 tháng 6 năm 2004 )


Học tiếng Đức ở Trường Đại học Ngoại ngữ và Tin học thành phố Hồ Chí Minh thì 2 năm đầu là giai đoạn trình độ cơ bản. (tương đương với bằng B tiếng Đức-Zertificat). Sau hai nămhọc sinh viên có vốn từ dao động từ 3.500 tới 5.000 từ-vốn từ thông dụng nhất trong cuộc sống. Sinh viên được trang bị kiến thức chuyên ngànhtừ học kỳ V,VI,VII,VIII. Trong các môn học chuyên ngành có môn văn học (Literatur). Môn văn học giúp sinh viêncủng cố vốn từ đã học ở hai năm đầu, giúp sinh viên biết sử dụng từ theo nghĩa đen và nghĩa bóng (chữ klar có nghĩa là (nước) trong, (hành văn) trong sáng, dễ hiểu, (đầu óc) sáng suốt. Phải trả giá đắt cho một kinh nghiệm sống, người ta nói:“Es ist mir ganz klar.“ (Tôi thấu hiểu điều đó), sử dụng từ trong những văn cảnh khác nhau (chữ Hahn trong nông nghiệp là con gà trống, nhưng trong ngành cấp thoát nước Hahn là cái vòi nước, nếu trong quân dụng thì Hahn là cái cò súng). Cùng với những điều nêu trên, văn học làm cho trí tưởng tượng của sinh viên phong phú hơn, giúp sinh viên nhận thức, định hướng ý nghĩa của cuộc sống.

Văn học nghệ thuật là bộ phận cao nhất của văn hóa, là bộ phận để lại dấu ấn mạnh trong nhận thức của con người. Tôi xin lấy hai ví dụ cho điều nói trên qua tác phẩm Nathan-người hiền của Lessing (1729-1781) và tác phầm Người không có cá tính của Musil (1880-1942).

Sự cần thiết của lòng khoan dung tôn giáo với kịch Nathan-người hiền của Gotthold Ephraim Lessing

Lessing viết kịch thơ Nathan – người hiền năm 1779. Bối cảnh lịch sử trong kịch là những cuộc Thập tự chinh từ 1189 tới 1192 (mà thực chất là chiến tranh giữa các tôn giáo dưới chiêu bài Giải phóng thánh địa Palestine khỏi tay người ngoại đạo Ả Rập ). Lịch sử và các chi tiết khác trong kịch chỉ là tiểu tiết, vấn đề Lessing nêu ra là sự đối chất trực tiếp giữa ba tôn giáo lớn là Hồi giáo, Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo (islamische, juedische, christliche Religion).

Nathan là một thương gia giàu có, cả gia đình bị giết bởi các hiệp sĩ Thiên Chúa giáo trong các cuộc Thập Tự cinh của họ, nhưng Nathan lại nhận Recha – một đứa trẻ mồ côi của một gia đình Thiên Chúa giáo làm con nuôi và yêu quý như con đẻ. Nathan dậy dỗ Recha theo tinh thần độ lượng, bác ái.

Có lần, quốc vương Saladin (Sultan Saladin) muốn thử cách xử trí của Nathan (người được dân chúng kính nể bởi cách ứng xử và chi tiêu tiền khôn khéo, hợp cảnh, hợp tình và hợp lý. Vì vậy dân chúng gọi ông là Nathan – người hiền ) nên sai thủ kho của hoàng cung Al-Hafi đến hỏi Nathan, theo Nathan thì tôn giáo nào là tôn giáo chính thống trong ba tôn giáo : Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo. Nathan không trả lời trực tiếp trực tiếp vào câu hỏi, mà trả lời bằng cách kể lại câu chuyện cổ tích về 3 chiếc nhẫn thần:

. Hồi thượng cổ, có một người đàn ông có một chiếc nhẫn thần, theo lệ thường thì ông sẽ trao chiếc nhẫn cho đứa con ông cưng nhất. Người đàn ông này có ba ngu7oi2 con trai, ông lại quý cả ba con như nhau. Để không người con nào sầu muộn về việc thừa kế, người đàn ông kia thuê thợ kim hoàn làm 2 chiếc nhẫn khác giống hệt chiếc nhẫn kia. Khi người cha qua đời, mỗi người con trai được chia một chiếc nhẫn là của thừa kế do người cha để lại. Việc ba chiếc nhẫn kia chẳng khác gì ba tôn giáo: Ai cũng cho tôn giáo của mình là tôn giáo chính thống. Chừng nào chưa có một nhà thông thái đứng ra giải quyết việc tranh chấp này thì "chỉ có thể đánh giá tôn giáo của người ta thông qua suy nghĩ và hành động của họ“ .

Cách trả lời của Nathan làm cho quốc vương mến phục, họ trở thành bạn của nhau.

Phải mất hơn năm trăm năm sau thời Thập Tự chinh (587 năm), qua vở kịch Nathan-người hiền của Lessing, con người mới nhận thức được sự cần thiết của lòng khoan dung tôn giáo , không thể gây chiến tranh nhằm tiêu diệt các tôn giáo khác, không thể dùng bạo lực áp đặt tín ngưỡng, rồi chứng minh tôn giáo mình là tôn giáo chính thống. Người ta không thể nói tôn giáo nào có giá trị hơn tôn giáo nào. Không phải giáo lý tôn giáo, không phải vì sự khác biệt về nòi giống, về đẳng cấp, về dân tộc, mà chỉ có việc làm đích thực tốt mới có thể tạo nên một tôn giáo chân chính. Vì vậy không thể so sánh, đánh giá tôn giáo này hơn tôn giáo kia trong ba tôn giáo: đạo Hồi, đạo Do Thái, đạo Thiên Chúa.

Qua vở kịch mang tính giáo dục Nathan-người hiền , Lessing muốn chứng minh tinh thần bác ái tư sản của Văn học Khai sáng Đức. Việc cảnh báo và nhắc nhở nhân loại về sự cần thiết của lòng khoan dung tôn giáo là đóng góp của văn học Đức cho văn học thế giới.

Cảnh báo sự vô cảm, không có cá tính ở xã hội công nghiệp cao với tiểu thuyết Người không có cá tính của Robert Musil

Người không có cá tính (Der Mann ohne Eigenschaft) là tác phẩm viết chưa xong, mới xuất bản 3 tập vào những năm 1930,1933,1943). Musil có ý tưởng viết tiểu thuyết này vào những năm 1902-1903, nhưng mãi tới năm 1925 ông mới bắt tay vào viết tiểu thuyết. Những hoảng loạn của học viên Toeless năm 1906 là bước sơ khởi cho bộ tiểu thuyết 3 tập Người không cá tính. Nhân vật Ulrich trong tiểu thuyết chính là chân dung Musil, những bước trưởng thành của Ulrich cũng chính là những giai đoạn phát triển trong đường đời của Musil. Vì tiểu thuyết viết chưa xong (khi Musil sống ở Lausanne – thủ phủ bang Waadt, Thụy Sĩ) nên hướng tiến triển và kết thúc của tiểu thuyết còn bỏ ngỏ. Ở tuổi ba mươi, Ulrich tìm cách tạo dựng cho mình một hướng đi trong đường đời, nhưng Ulrich thất bại và phải từ bỏ nghề mình chọn. Rồi Ulrich cũng không thành công trong việc tiòm cách có một chỗ đứng trong đời sống tinh thần-chính trị ở thủ đô Wien nước Áo vào năm 1913. Ulrich tìm lối thoát trong đời sống riêng tư: yêu em gái mình là Agathe. Ulrich từng là sĩ quan, kỹ sư, nhà toán học. Loại ngưởi (Menschentyp) như Ulrich „bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước“ biết được hai mặt của một vấn đề (Moeglichkeitsmenschen), chính vì vậy nên không dứt khoát, quyết đoán đi theo hướng nào. Tâm trạng của Ulrich – tâm trãng nghi ngại của kẻ ngoài cuộc – cũng là tâm trạng của nhiều người sống cùng thời với Ulrich. Trí thức tư sản nhận thức được rằng, người vô cảm, không cá tính sẽ là đặc trưng rõ nét ở con người trong xã hội công nghiệp có sự phân công lao động và được tổ chức rất cao.

Bộ tiểu thuyết lớn này là bức tranh toàn cảnh về xã hội thượng lưu Áo (ở vương quốc Áo-Hung) những năm trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914-1918, nó xuất hiện như lịch sử tinh thần của chế độ quân chủ thời kỳ kết thúc: sự phân rã của thế giới, nhưng nó cũng là lời phán về sự sắp chuyển biến của thời đại.

Mỗi thời đại có cách thức riêng của mình trong việc tiếp nhận văn học. Ngày xưa, văn học có chức năng giáo huấn. Ngày nay, văn học mang tính gợi mở, nó là một cơ chế cảnh báo, nhắc nhở con người kiềm chế, điều tiết suy nghĩ và hành động. Điều đó có nghĩa: văn học luôn có ảnh hưởng sâu sắc tới con người, xã hội.






© Tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 11.11.2009 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.