Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


(Kỳ 4)

Tình Quê Hương

Quê hương trong thơ Trần Nguyên Anh là quê hương của tuổi thơ hồn nhiên trong trắng, man mác mùi hoa soan, hoa bưởi và đầy màu sắc của hoa mai, hoa đào cùng những quần áo mới ngày Tết, những dòng sông và bến đò. Nhưng chẳng phải chỉ có thế, quê hương dấu yêu của nhà thơ họ Trần còn lưu dấu mãi đến ngày nay cảnh đau thương của chiến tranh trong lòng người dân nơi xóm làng, cảnh hò hét của thời cách mạng ruộng đất, mà nhà văn Nguyễn Văn Bổng mô tả là “long trời lở đất”.Cho nên, với Trần Nguyên Anh, quê hương dẫu có đẹp, song nó vẫn còn đó những trắc ẩn, những ngậm ngùi. Nó khác với Bàng Bá Lân trong cùng một chủ đề Quê hương.

Tôi cũng có một tuổi thơ, một quê hương dấu yêu với những hoa gạo đỏ rực, hoa cà tím và những hàng dậu buông lơi những sợi tơ hồng. Và, quê hương tôi cũng có một thời lửa đạn, người chết nằm bên bờ giếng...
Đã đành người ta phải quên đi để mà sống, mà ăn năn, và trở về với chính mình, nghĩa là từ một con người có nhân vị, có phẩm giá. Tuy nhiên, lịch sử vẫn là lịch sử.
Một trăm năm, hay một ngàn năm nữa, cũng chỉ là một điểm của thời gian, nó vẫn còn đó những đại biểu của một thời, như Tần Thủy Hoàng, Néron, Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Pol Pot, v.v...

Hôm nay, ngồi đọc từng câu thơ, từng bài thơ của Trần Nguyên Anh, viết về quê hương của ông trong an vui thái hòa, của tuổi thơ cũng như trong đau thương và chia lìa, tôi thấy ông quả nhiên là một con người đa tình, đa cảm, biểu hiện tính nhân bản mà người ta thấy nơi những tài hoa trong văn học Việt Nam xưa nay. Và nếu lại đọc những trang thơ trong Nước non tâm sự cũng như trong Diễn khúc dân tình, viết về cuộc sống của người dân Việt Nam trải qua hai cuộc chiến trong thế kỷ XX, thì người ta sẽ thấy được một Trần Nguyên Anh đích thực, trọn vẹn, đầy đủ cả hai mặt tình và lý.

Dưới đây là mấy bài thơ tiêu biểu cho chủ đề quê hương của Trần Nguyên Anh. Phần còn lại sẽ đăng tải trên trang thơ mà NewVietArt dành cho ông.
Trước hết là một đoạn trích trong tập Nước non tâm sự, từ câu 261-273, sau khi tác giả lên Hà Nội học, ở nội trú tại trường Phan Đình Phùng, (đường NTH), do ông Bùi Quang Tời (người Sài-Gòn) làm Hiệu trưởng :

Một thân tâm sự não nùng,
Nhớ Cha, thương Mẹ vô cùng xót xa !
Nhớ anh, nhớ chị, nhớ nhà,
Nhớ con đường nhỏ, khóm cà, vườn rau !
Nhớ đàn vịt, nhớ con trâu,
Nhớ cây quít, nhớ cây cau, dây trầu !
Nhớ ao rau muống nước sâu,
Nhớ đồng ruộng nẻ, nhớ cầu quán Vuông !
Nhớ đầm sen thơm ngát hương,
Nhớ ngôi mộ tổ bên đường cỏ xanh.
Nhớ cây bưởi nhớ cây chanh,
Nhớ cây hoa gạo, đầy cành bông bay.
Nhớ ngôi miếu cổ tường xây,
Mái rêu xanh mốc vơi đầy tang thương.
Nhớ Tam Đảo, nhớ Vĩnh Tường,
Nhớ thành Phủ cũ còn tường ngày xưa.
Nhớ bên ngoại những buổi trưa,
Võng đưa kẽo kẹt như ru giấc nồng.
Nhớ cây mận, nhớ cây hồng,
Nhớ cây soan, bố đã trồng để lo...
Làm cho nhà út thật to,
Năm gian dài rộng có kho để đồ.
Cầy bừa gàu cuốc thô sơ,
Lớn lên lấy vợ ước mơ chưa tròn !
Thì bố đã vội về non,
Ra đi vĩnh viễn vợ con chia lìa.
Mẹ thì mắc nạn phân ly
Cả nhà tan tác còn gì, lệ rơi !

Bốn câu thơ cuối trên đây cho thấy, tình cảm gia đình và quê hương nơi Trần Nguyên Anh luôn luôn gắn bó với nhau. Nhớ đến quê là nhớ đến hình bóng của cha mẹ hay ngược lại, như một đoạn thơ nữa dưới đây, trích trong Nước non tâm sự, từ câu 219-232.

Chiều hôm đứng tựa bên cầu,
Ngó về quê cũ kín mầu mây mưa.
Khi đi sớm, lúc về trưa,
Bãi xàu quê lạ mà như quê mình.
Cũng sông nước, cũng chùa, đình,
Cũng con đò nhỏ bập bềnh sóng đưa.
Gái quê đôi mắt dễ ưa,
Hây hây má ửng hồng trưa nắng hè.
Nước da bánh mật săn se,
Không son, không phấn chẳng khoe lụa là.
Ôi ! hiền dịu, ôi ! mặn mà,
Lời ru vọng cổ ngâm nga bổng trầm.
Xoáy vào tiềm thức xa xăm,
Nhớ quê hương quá, nhớ Bầm làm sao !

Theo ghi chú của tác giả, Bãi Xàu trong bài này thuộc Ba Xuyên. Ở đây có một đài phát thanh được thiết lập từ thời Ngô Đình Diệm. Đài này nằm trên một bãi đất trống gần ngã ba đường rẽ vào chợ Bãi Xàu, huyện Mỹ Xuyên, có môt cây cầu bằng gỗ từ hướng lộ vào đài. Ngay bên chợ là một con sông khá rộng. Người ở hai bên sông muốn đi chợ phải qua đò. Năm 1962, tác giả công tác tại đài Ba Xuyên gần trọn năm.
Thấy cảnh vật ở quê người lại trạnh lòng nhớ về quê cũ, vẫn là một sinh hoạt nội tâm không thuộc riêng một giới nào, một thành phần nào trong xã hội.
Ngày xưa, các cô gái lấy chồng phương xa, cũng tỏ nỗi lòng mình :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Tuy nhiên, phải công nhận rằng, những kẻ đa tình lại lao đao và chán chường trong cuộc sống tình cảm ở phương xa, thì đời sống nội tâm của họ rất phong phú, cơ hồ như đó là cõi riêng, nơi trú ẩn của họ, là “mái nhà xưa”, là nơi họ đã sống một quãng đời đầm ấm thân thương nhất.Chẳng một ai phá hủy được nó.
Trần Nguyên Anh đã gắn bó, đã gìn giữ quê hương của ông, sống với quê hương yêu dấu ấy qua rất nhiều tình huống trong cuộc đời lưu lạc nơi “đất khách” miền Nam, rày đây mai đó, liên tục di chuyển trong công ăn việc làm. Có bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ nhất của tuổi thơ nơi quê nhà yêu dấu, từ cảnh trí thiên nhiên Xuân, Hạ, Thu, Đông với hoa mai, hoa đào, hoa soan, hoa gạo …, cho tới những vật dụng của nhà nông như cái bừa, con trâu, cái gàu sòng tát nước đêm trăng …, hết thảy đều được ông trìu mến đưa vào trong thơ.
Dưới đây là một đoạn thơ nữa : tác giả đang sống với sông nước của miền xa mà tưởng như đang sống với sông nước và bến đò của quê nhà mình (từ câu 1524 – 1530) :

Trông trời lại nhớ ngày xưa quê mình.
Cũng thuyền cũng bến chạy quanh,
Cũng làng mạc với lều tranh nghèo nàn.
Với dòng sông Nhị hè sang,
Tháng Sáu nước lũ sông càng rộng thêm.
Đến khi nước lớn đã lên,
Cao bằng đê, phải ngày đêm canh phòng.

Mấy câu tiếp theo, tác giả nhớ lại cảnh đê vỡ, rồi cuộc sống của người dân nghèo. Ông viết :

Chung qui khổ nhất anh nghèo,
Đói lòng con cái, reo neo vợ chồng.
Lên non, lên núi gieo trồng
Khóm khoai, luống sắn, nắng đông, mưa phùn.
Sống qua ngày tháng thê lương,
Nặng tình non nước nỗi buồn quê hương.
Nặng niềm lo, nặng nỗi thương.

Nhưng có lẽ không có dịp nào cho bằng mỗi độ Xuân về Tết đến, tâm hồn của những kẻ ly hương có nỗi buồn ly biệt, đắng cay, những con người nặng lòng với mẹ cha, thường lui về với cõi lòng mình, để sống lại với những hình ảnh mến thương nhất của quê nhà yêu dấu ấy, nhất là khi họ đã về già, bước chân lưu lạc, phong trần đã mỏi. Bởi vì, Xuân về Tết đến là dịp gợi nhớ cho người ta biết bao hình ảnh về ông bà, cha mẹ và cả những trò chơi dân gian không bao giờ thiếu được trong những ngày Tết.
Nhà thơ Trần Nguyên Anh đã sống lại với quê hương ông rất nhiều trong thơ. Từ hình ảnh và màu sắc các loài hoa nơi thôn dã, những đêm trăng, cho đến mùa Đông và cái Tết ở quê…, ông đã dành biết bao nhiêu tâm tình cho nó, chỉ vì ông yêu quê hương mình,
một quê hương của tuổi thơ :

Thoắt đi, ta đã về già,
Mẹ cha mất cả quê xa chốc mòng :
Bốn mươi năm lẻ ruổi rong,
Miền Nam quê mới nặng lòng quê xưa !
Nhớ thương lệ nhỏ thành thơ,
Câu thơ lục bát ngẩn ngơ tết vào !
Xuân sang nở rộ hoa đào,
Hoa mai vàng rực mà sao nhạt nhòa.
Tết giờ khác tết xưa xa,
Tết xưa hương vị đậm đà tết quê !
Nội ngoại đông đủ cô dì,
Ông bà chú bác, Bố đi với Bầm.
Sang bên quê ngoại lễ xuân,
Đốt nhang khấn vái thì thầm nghiêm trang.
Lon ton ta chạy trên đàng,
Ra đình đánh đáo miên man quên về.
Bây giờ xuân tết buồn ghê,
Ta sầu nuối tiếc xuân quê năm nào.

Đầu Xuân Bính Tý 1996
Trích từ bài : Ta sầu tiếc Xuân
(Trong : Ly hương hoài cảm 2)

Hai chủ đề Tình nhà và Tinh quê hương, không bao giờ tách biệt trong thơ Trần Nguyên Anh. Chúng tôi phân loại ra làm hai là theo cách cổ điển hay chân phương, chứ còn tâm tư của tác giả thì làm gì có phân loại. Ở Trần Nguyên Anh thì chỉ có một. Ông nhớ nhà, nhớ quê hương và tất cả những gì gần gũi nhất, thân yêu nhất ở đó, và ông đã sống với nó môt cách trọn vẹn với tuổi thơ, chính là vì ông đã sống dưới một mái nhà trong thân phận con người với những ràng buộc máu mủ, có truyền thống yêu thương, đầm ấm, và niềm tin.
Cho nên, người ta sẽ không bao giờ được bình an thật trong nội tâm một khi xa lìa nó hoặc phủ nhận nó để đi tìm một khuôn mẫu khác. Cho dù người ta có thể đạt tới một mẫu thức sống cộng đồng hoàn chỉnh, bao gồm những tiện nghi vật chất của một xã hội văn minh cơ khí, song không bao giờ lại có thể thay thế vị trí của làng xã với đời sống nông nghiệp, với những cách đổi công cho nhau và với những gần gũi thân thiết nhân bản và một không gian thân tình. Đó là một nguyên mẫu.

Có lẽ Trần Nguyên Anh là một trong số ít nhà thơ tiêu biểu trong thi ca Việt Nam thuộc thế hệ 30, 40 của thế kỷ XX, có khuynh hướng về một tình tự gia tộc và quê hương rõ nét nhất.Phát khởi từ tình tự này, Trần Nguyên Anh còn thể hiện nó trên bình diện Non nước mà tôi đặt vào chủ đề thứ ba trong thi ca của ông.


Kỳ sau : Tình Non Nước
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 28.10.2009 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .