VỀ THĂM ĐỀN THỜ CỤ TRẠNG TRÌNH




Cuối thu 2009, tôi ngược ra Bắc cùng người thân ở Hải Phòng, lần đầu tiên một người Nam đặt chân lên đất Bắc được ghé thăm Khu di tích Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cảm thấy tự hào biết bao. Nơi đây hôm nay đã được xây dựng khang trang, trở thành điểm du lịch văn hóa lớn của khu vực Bắc bộ, là nơi tổ chức các lễ hội lớn kỷ niệm về danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm trưng bày nhiều hiện vật về thân thế và sự nghiệp của ông. Tận mục sở thị được thấy, được nghe kể về Danh nhân văn hoá đất Việt lòng dạ thấy ấm lại khi tiết trời thu miền Bắc đang chuyển mùa.

Học trong sử sách:

Danh hiệu Trạng nguyên không phải dành riêng cho một mình ông, mà có trên 40 danh hiệu thời đó. Trong hơn 4 thế kỷ qua, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thuộc vào lớp người đặc biệt trong lịch sử văn hóa Việt Nam, trong tâm thức của mọi tầng lớp nhân dân: nông dân, học trò, doanh nhân, trí thức. Nhân cách, trí tuệ ông có giá trị văn hóa không phải của một thời, của riêng một tầng lớp nào, mà của muôn đời nước Việt

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà văn hoá lớn. Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22(1491) tại thôn Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương(nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái Bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo. Xuất thân trong một gia đình trí thức, thuở thiếu thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người nổi tiếng thông minh, học giỏi, sớm bộc lộ những đức tính cao quý, ham học, cương trực và dạt dào lòng nhân ái.

Sử sách còn ghi rằng, trí nhớ của ông thật đặc biệt, xếp vào hạng siêu phàm. Năm lên 4 tuổi, ông đã thuộc làu hàng loạt kinh truyện mà mẹ ông đã dạy. Khi còn là cậu học trò, ông theo học thầy bảng nhãn Lương Đắc Bắc, được thầy phả cho "luồng sinh khí" từ trong bộ sách "Thái ất thần kinh" của đời nhà Minh nên đã khơi mạch, mở tầm, thông hiểu được lẽ huyền vi của tạo hóa, sự chuyển vận của vũ trụ về tự nhiên, xã hội, con người. Bạn bè nhất mực kính yêu và khâm phục nên tôn xưng là Tuyết Giang Phu Tử. Nhưng mãi đến năm 1535, lúc khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại chính 6, đời Mạc Đăng Doanh, ông mới đi thi và đỗ Trạng Nguyên.

Năm 1543, trước cảnh bầy tôi lộng quyền, ông mạnh dạn vạch trần sự tha hóa, thối nát rồi dâng trảm sớ lên vua đối với 18 đình thần biến chất, mưu phản; song không được nhà vua chấp thuận. Ông bèn cáo quan về ở ẩn nơi quê nhà, lập am Bạch Vân, mở trường dạy học, viết văn, làm thơ, biên dịch sách, nghiên cứu kinh sử, chắt lọc những tinh hoa của các đạo pháp ngoại lai, bổ sung vào đó tính chất giản dị mà sâu sắc của người Việt để giáo hóa người đời và dạy dỗ học trò thành người có đức có tài - hữu ích cho đất nước

Là một học giả, học rộng biết nhiều, trong thơ ông hay nhắc tới sự thăng trầm "thương hải biến vi tang điền" (biển xanh biến thành nương dâu) của trời đất, tạo vật và cuộc đời trôi nổi như "phù vân". Ông thương xót cho "vận mệnh" quốc gia và cảm thông sâu sắc tình cảnh của "dân đen", "con đỏ". Ông thật sự mong muốn đất nước thịnh vượng, thái bình. Tương truyền, hình như để tránh những cuộc binh đao khói lửa, tương tàn cho chúng dân và nhìn thấy trước thời cuộc, "vận mệnh" của đất nước trong hoàn cảnh ấy chưa thể có những lực lượng đảm đương được việc thống nhất, nên khi các tập đoàn phong kiến đến hỏi kế sách, ông đều bày cho họ những phương sách khác nhau để giữ thế "chân vạc". Năm 1568, Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm sát hại, lo cho "số phận" nên đã ngầm cho người hỏi kế an thân, Nguyễn Bỉnh Khiêm nói: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (ngụ ý nói: Dựa vào một dải Hoành sơn có thể lập nghiệp được lâu dài). Thế là Nguyễn Hoàng tức tốc xin anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa (từ Đèo Ngang trở vào).

Tại Thăng Long, thời ấy chúa Trịnh cũng ra sức ức hiếp vua Lê và muốn phế bỏ, liền cho người hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không trả lời và lẳng lặng dẫn sứ giả ra thăm chùa và nói với nhà sư: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản", ngụ ý muốn khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền hành tất giữ được. Nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến binh đao. Còn đối với nhà Mạc, sau những cuộc chiến tranh liên miên, phải bỏ chạy lên Cao Bằng thế thủ, vua Mạc cho người về hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đã trả lời: "Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể" (Cao Bằng tuy đất hẹp, nhưng có thể giữ được vài đời). Quả nhiên, mãi đến năm 1688, sau ba đời giữ đất Cao Bằng, nhà Mạc mới bị diệt.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài tiên đoán, đo nắm được bí truyền của sách Thái ất thần kinh. Vả lại còn truyền thuyết nữa về Trạng Trình với tập Trình quốc công sấm ký. Tương truyền trong tập sách đó, ông đã tiên tri và biết trước các sự việc nhân tình thế thái, thời cuộc xảy ra "năm trăm năm sau"(?!). Ông thật sự là nhà học giả "thượng thông thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự" (trên trời hiểu thiên văn, dưới đất tường địa lý, ở giữa hiểu con người). Ông đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như: Tập thơ Bạch Vân (gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán còn lưu lại) và hai tập: Trình quốc công Bạch vân thi tập và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm). Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm giàu chất liệu hiện thực, mang tính triết lý sâu xa của thời cuộc. Ông phê phán gay gắt bọn tham quan ô lại hút máu, hút mủ của dân. Thơ của ông là cả một tấm lòng lo cho nước, thương đời, thương dân, và một tâm hồn suốt đời da diết với đạo lý: "Tiên thiên hạ chi ưu phi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Vì thế khi về ở ẩn, ông vẫn mở trường dạy học, mong đào tạo cho đời những tài năng "kinh bang tế thế". Học trò của ông cũng có người trở thành danh tướng, Trạng nguyên như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền...

Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là nhà triết học lớn của Việt Nam. Ông hiểu sâu sắc triết học Tống Nho nhưng không đi vào sự câu nệ vụn vặt, không lý giải quá sâu cái lý, có khi rắc rối, biện giải nhiều thứ mơ hồ rối rắm trong những khái niệm hỗn tạp đó. Nhân loại đã từng viện dẫn đủ mọi lý thuyết, mô hình, cách thức: từ tín ngưỡng, tôn giáo đến khoa học thực chứng để từng bước khắc phục, sửa sai. Ông bất chấp tất cả những đau khổ, nhức nhối, thậm chí dẫn đến cả bi kịch cho cuộc đời mình. Từ Chu Văn An "tấc lòng chưa lạnh như tro đất" (thốn tâm thù vị như khôi thổ), đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm... "tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi" (lão lai vị ngải tiên ưu chí). Dẫu thời đại, hoàn cảnh lịch sử có cách xa nhau, nhưng với các ông đều có chung một nỗi niềm, chung dòng máu đỏ cho những trái tim chân thành và nhiệt tâm yêu nước, thương dân, gắn bó cuộc đời. Chính điều đó là căn bản, đầu tiên, bền vững của nhân cách trí thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Với sự uyên thâm vốn có, ông được triều đình nhà Mạc và sĩ phu đương thời phong là Trình tuyền hầu, tức là một vị Hầu tước khơi nguồn dòng suối triết học của họ Trình, hoặc đời còn gọi ông là cụ Trạng Trình.

Được thấy, được nghe…suy nghĩ!

Từ thành phố Hoa Phượng về phía tây, qua những cánh đồng lúa trĩu bông vàng mùa gặt, nhiều con đường đầy rơm rạ bên những ngôi nhà ngói đặc trưng làng quê Bắc bộ, tôi đến với Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nay thuộc thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo ngoại ô thành phố Hải Phòng, được chính kiến Khu di tích gồm 9 hạng mục: tháp bút Kình Thiên; đền thờ dựng sau khi cụ mất với ba gian tiền đường, hai gian hậu cung, phía trước có hai hồ nước tượng trưng cho trời và đất, bức hoành phi trong đền ghi 4 chữ “An Nam Lý Học”. Tôi được nghe đọc hai câu thơ:“Bao giờ Tiên Lãng chia đôi/Sông Hàu nối lại thì tôi lại về”. Dòng sông Hàu chia đôi Tiên Lãng – Vĩnh Bảo (Hải Phòng) nay đã có chiếc cầu Pháp nối đôi bờ vui để người về quê Trạng thuận tiện hơn.

Giáo sư Trần Đình Hựu có viết “trong lịch sử của ta, người nổi danh về trí chứ không phải về công, về đức như thế là rất hiếm, cái trí, cái tiên tri của Trạng Trình theo truyền thuyết là nhờ lý học, dịch học” . Người Trung Hoa thì khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền". Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình". Những giai thoại đó nằm sâu trong ký ức của tôi không bao giờ phai.

Trong khuông viên Đền rộng trên 5ha gồm có: nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm; phần mộ cụ thân sinh ở phía sau đền; tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá cao 5,7m, nặng 8,5 tấn; hồ bán nguyệt rộng khoảng 1.000m²; chùa Song Mai; Nhà Tổ có tượng thờ bà Minh Nguyệt, vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Quán Trung Tân, nơi lưu giữ quan niệm mới về chữ “Trung” hướng lòng theo “chí trung chí thiện”.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585, ông đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân, gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán và hai tập Trình Quốc công Bạch vân thi tập và Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập (Bạch Vân quốc ngữ thi, với hàng trăm bài thơ chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời

Tôi được biết thêm một điều bổ ích nữa là bản gốc "Sấm Trạng Trình" đã khẳng định được hai tiếng Việt Nam được sử dụng từ thế kỷ 15. Thời Mạc Ðăng Dung là vua một nước, để vừa đối phó với triều đình phương Bắc, vừa an dân, tên nước được gọi là Việt Nam. Lúc ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là học giả đứng đầu cả nước quốc hiệu Việt Nam cũng được Trạng Trình sử dụng đầu tiên. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cho biết, ông và một số đồng nghiệp đã phát hiện tổng số 12 bia niên đại thế kỷ 16, 17 có hai tiếng Việt Nam (Thanh Lâm- Tổng cục Du lịch).

Nhà sử gia Phan Huy Chú có viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Hơn 40 năm mà không một ngày nào quên đời, lòng lo thời thương đời thể hiện ra văn thơ. Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị đều có quan hệ đến việc dạy đời".

Cũng như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cởi bỏ chiếc áo đại triều để trở về làm cư sĩ Bạch Vân. Phải chăng chính điều đó khiến những người như ông trở thành giá trị đương thời. Nhắc lại những chuyện trên để thấy rằng những danh hiệu, những hành động Danh nhân như đã nêu có phải là "chuyện xưa nay hiếm" của lịch sử - văn hóa Việt Nam.!

Tôi sẽ mang những kỷ niệm của một chuyến đi thật bổ ích về Nam mà nghĩ suy: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cả cuộc đời thanh cao, nhân ái gắn bó với dân. Hơn 500 năm đi qua càng làm cho chúng ta suy ngẫm, học tập được những gì của người xưa, giá trị của văn hoá hôm qua và đặt ra cho thế hệ trẻ tôi hôm nay quá nhiều câu hỏi “học làm người tri thức”?!?.


(Trong bài có sử dụng: trích một số tư liệu, bài báo… của các bạn đồng nghiệp. Tác giả xin chân thành cám ơn)

Hải Phòng 10/2009

(Hình ảnh trong bài do tác giả chụp cuối thu 27-8 Kỷ sửu, ngày 15/10/2009)






© Tải đăng ngày 23.10.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Ninh Thuận .
.TÁC PHẨM CỦA VÕ TẤN CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRONG NEWVIETART.COM Ở HẢI NGOẠI.