Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


(Kỳ 3)

B. Thơ Trữ Tình

Thơ trữ tình của Trần Nguyên Anh rất đa dạng, bao gồm các đề tài : Tình nhà – cha mẹ, anh chị, vợ chồng, con cái. Tình quê hương – hình ảnh quê hương của tác giả trong thời niên thiếu, với những hương vị của đồng quê, như hoa cau, hoa soan, hoa bưởi, bến đò và mùi quần áo mới trong ngày Tết Nguyên đán…Tình non nước – bằng tâm tình, ông ghi lại những giai đoạn lịch sử từ 1945 đến nay, trong đó ông không thể quên chiến tranh và những vấn đề xã hội, là hai tác nhân chính làm cho con người Việt Nam biến dạng, chai lỳ, ích kỷ và mất dần tính nhân bản.Hai đề tài khác trong thơ trữ tình của Trần Nguyên Anh là :thơ tình và thiên nhiên.

1. Tình Nhà .

Đây là một trong hai chủ đề quan trọng nhất trong thi ca của Trần Nguyên Anh. Tác giả không dành một tác phẩm nào nhất định cho chủ đề này, mà trái lại, nó được nói đến ở hầu hết trong các sáng tác của ông. Cụ thể, đó là các thi tập : Diễn khúc dân tình, Đời vô thường, Ly hương hoài cảm (2 tập), Nước non tâm sự, Dĩ vãng bâng khuâng.
Những cuốn này mới là một nửa gia tài thi ca của Trần Nguyên Anh, tuy nhiên đó là những tập quan trọng. Trong những tập này, tôi thấy tâm tư của ông dành cho gia đình, bao gồm cha mẹ, vợ chồng và con cái được ông hết sức yêu thương và chăm lo cho họ. Đặc biệt trong những giai đoạn sau ngày 30-4-1975.

Sau đây là bài mở đầu cho tập Ly hương hoài cảm 1 :

Suốt đời thương nhớ Mẹ Cha

(Thay lời tựa để kính dâng hương hồn Song Thân, Thúc Bá, Bào Huynh và Bào Đệ của tôi)

Từ khi Mẹ mất đến nay,
Vào Nam ta sống những ngày nhớ thương !
Lại mang cái nghiệp Văn chương,
Câu thơ viết mãi nỗi buồn lê thê !
Đã đành ai cũng phải đi,
Nghĩ công Cha Mẹ chút chi báo đền !
Nên lòng sầu nhớ triền miên,
Khi nghèo sầu ít, làm nên sầu nhiều !
Đi đâu ta cũng mang theo.
Bóng hình Cha Mẹ như diều với dây.
Trời cao biển rộng bao đầy,
Cũng không sánh đặng công Thầy, Mẹ Cha.
Máu xương Cha Mẹ sinh ra,
Thầy cho cái chữ nở hoa cuộc đời !
Cho nên nay đã già rồi,
Đầu hai thứ tóc ta ngồi làm thơ !
Nhớ Cha nhớ Mẹ vô bờ,
Nhớ Thầy dạy chữ u, ơ ban đầu !
Ngọn đèn thao thức đêm thâu,
Vợ con an giấc ngủ sâu êm đềm.
Ta ngồi ôm bóng trăng nghiêng,
Tưởng như Cha Mẹ còn bên cạnh mình.
Mơn man làn gió vô hình,
Thì thầm hiểu hết thâm tình của ta !
Suốt đời thương nhớ Mẹ Cha !

Đêm 19.7 Ất Hợi (1995)

Câu thứ 4 tính từ dưới lên, tác giả dùng chữ “còn” rất khéo và hay, nó biểu lộ được hết tâm tư mà ông đã trải ra trong bài thơ, nó cũng hợp với tựa đề “suốt đời…”.Tôi hơi khựng lại khi đọc đến chữ này. Và tôi thử thay vào chữ “ỡ” : ở bên cạnh mình.
Chữ “ở” là vần trắc, hơi khó đọc. Chữ “còn” mới đích thực là Trần Nguyên Anh trong tình tự của ông với song thân mình. Riêng với mẫu thân của ông, có lẽ ít có nhà thơ nào lại mô tả người mẹ của mình đến từng chi tiết trong cuộc đời của bà như Trần Nguyên Anh. Bà như vẫn còn ở đâu đó chung quanh ông, nhất là trong cõi lòng sâu thẳm của ông. Vì vậy, những gì thuộc về người mẹ, những gì là của mẹ, tác giả đã kể ra với chúng ta, để những ai có mẹ sinh vào cuối thế kỷ XIX hay đầu thế kỷ XX mà bây giờ đã không còn, có dịp mà nhớ mẹ. Đó chẳng phải là điều hay , rất hay sao !
Dưới đây là hình ảnh của người mẹ theo ngòi bút của Trần Nguyên Anh :

Cho người mai sau

Xuân thời con gái Mẹ tôi,
Quai thao nón nhị - áo dài tứ thân !
Bên trong áo cánh đồng lầm,
Cổ xây cái yếm trắng ngần trúc bâu !
Làm ruộng cái váy vải nâu,
Chơi xuân quần lãnh láng màu chéo go !
Thắt lưng bỏ múi thật to,
Cái bao ruột tượng Mẹ cho đựng tiền.
Bên sườn xà-tích làm duyên,
Ống vôi một chút – que têm lá trầu !
Cái khăn mỏ quạ bịt đầu,
Răng đen cắn chỉ - lâu lâu vấn trần !
Tóc dài chảy chấm gót chân,
Như giòng suối nhỏ mỗi lần Mẹ tôi,
Gội đầu xõa tóc hong phơi,
Gió rung nhè nhẹ bên người như tơ.
Mượt mà sợi nắng đong đưa,
Mẹ cầm lược gỡ - khẽ lùa tóc đen !
Khô rồi Mẹ tạm quấn lên,
Đuôi gà để chút làm duyên thật tình !
Má hồng ửng đỏ xinh xinh,
Không son không phấn gái thành đâu thua !
Đến khi đủ tuổi lên chùa,
Mẹ không ăn mặc như xưa nữa rồi !
Cho con tất cả cuộc đời,
Cho chồng tất cả cái thời xuân xanh.
Cho đời tất cả hy sinh,
Nhọc nhằn năm tháng tấm hình héo hon.
Lưng còng, tóc bạc, lòng son,
Một đời chung thủy nước non vững bền !
Mắt mờ, chân chậm đêm đêm,
Mẹ ru cháu ngủ cho quên nỗi buồn !
Chiến tranh mất mát đau thương,
Cha, chồng, con, cháu lên đường đánh Tây.
Năm nhăm con phải vào đây,
Tha hương càng nhớ các ngày ấu thơ.
Nhớ quên biết đến bao giờ,
Nghiêng đầu tóc cũng phơ phơ bạc rồi!
Ngổn ngang man mác việc đời,
Bên đèn ghi lại cái thời Mẹ tôi !
Dở hay cũng được mấy lời,
Gọi là di bút cho người mai sau !

Đầu năm 1996
(Trong : Ly hương hoài cảm 2)

Đấy là hình ảnh người Mẹ của Trần Nguyên Anh, hay là người Mẹ của tôi, của những người Việt Nam khác, có người Mẹ như thế thuộc thế hệ bấy giờ. Những năm cuối của thập niên 50, thế kỷ XX, dưới ngọn đèn dầu leo lét trong căn nhà tranh vách nứa ở Cao nguyên Ban-mê-thuột, tôi cũng đã từng làm thơ nhớ Mẹ rồi khóc âm thầm. Có khi khóc thành lời với bài thơ vừa làm xong. Người ngoài cho là mình điên. Nhưng cái điên ấy giúp cho người ta trở thành Người lương thiện và chân thực.
Người Mẹ của Trần Nguyên Anh lớn lao quá, bao phủ lên tâm tư và cả cuộc đời của ông. Đi đâu, làm gì, ông cũng đều kể lể tâm sự về Mẹ, với Mẹ như thể bà còn sống và đang đọc thơ của ông :

Não lòng con lắm, Mẹ ơi,
Từ khi Mẹ mất cuộc đời của con !
Ruột gan sầu héo ron ron,
Tha hương ngàn dặm mỏi mòn nhớ thương.
Tái tê muôn khúc đoạn trường,
Phong trần gió bụi chán chường xuân sang !

Trích bài : Mây ngàn lãng đãng.
(Trong : Ly hương hoài cảm 1)

Trên đây là 6 câu đầu của bài Mây ngàn lãng đãng. Những câu sau đó, tác giả giãi bày với Mẹ đoạn trường của mình, kể từ khi ông “xuống tàu vào Nam” theo dòng người “di cư” năm 1954-1955.
Người ta tự hỏi, đằng sau những nỗi nhớ thương Mẹ Cha cơ hồ như không bao giờ dứt, không bao giờ phai nhòa trong lòng tác giả, là gì ? Chắc hẳn phải có một nguyên nhân sâu xa hơn, trắc ẩn và đau thương hơn cái lẽ thường tình của kẻ ly hương, xa nhà.
Một con người chân thật như Trần Nguyên Anh, cái chân thật đôi khi trong giao tế, không phải là không có ngộ nhận. Mặc dù thế, ông vẫn bộc lộ nó, một cá tính mạnh mẽ, ngay thẳng ngay trong cuộc sống thường nhật cũng như thể hiện nó trong thi ca của ông. Cho nên đi tìm nguyên nhân sâu xa, trắc ẩn và đau thương của ông qua những bài thơ viết về người mẹ của ông, không có khó khăn gì. Chỉ có điều, xã hội đương thời vẫn không muốn người khác nói đến nó. Đấy là một lẽ cho thấy xã hội Việt Nam hiện giờ còn một nỗi u uẩn, chưa cởi mở, con người vẫn còn phải thu nhỏ mình lại trong giao tế bạn bè, giữ lời ăn tiếng nói, vẫn còn tình trạng nghi kỵ lẫn nhau.
Riêng với tôi, ông Trần Nguyên Anh đã nhiều lần nói cho tôi nghe,về một nỗi đau không chỉ của riêng gia đình ông mà là của cả một dân tộc. Bây giờ ông đã bộc lộ trong thơ và như thế là ông đã trao cho người đọc, hôm nay và mai sau :

Mấy trang dông dài

Bầm ơi ! Con nhớ thương Bầm,
Mỗi năm mỗi độ hè xuân con về.
Thăm Bầm mấy bữa con đi,
Một hình một bóng canh khuya Bầm buồn.
Trong khi đất nước quê hương,
Chiến tranh khói lửa bốn phương ngất trời !

Chín năm kháng chiến tuyệt vời,
Hòa bình lập lại chưa vui đã buồn !
Sục sôi trong cảnh đấu trường,
Mẹ ta ngã gục vì vương tội giàu !
Có dăm mẫu ruộng con trâu,
Nhà ngói cây mít, ao sâu mảnh vườn !
Quanh năm rau muống chấm tương,
Vại cà chĩnh mắm, cơm thường độn khoai.
Khác gì ăn uống trường trai,
Đi tu thờ Phật ở nơi chùa chiền.
Thịt thà, giỗ Tết cưới xin,
Mới hay vài miếng, gan tim gọi là !
Thế mà mắc tội toàn gia,
Cháu con địa chủ, ông cha mấy đời !
Bóc lột, ăn bám, trời ơi !
Khảo tra đầy đọa chết phơi nắng nồng.
Con mất cha, vợ mất chồng,
Anh em ruột thịt thấy không được cười !
Mới hôm nào đó Mẹ tôi,
Là Mẹ liệt sĩ được đời tôn vinh !
Hai trai, một rể hy sinh,
Đánh Tây mất tích đã kinh hoàng liền,
Sân đình đốt đuốc đêm đêm,
Trống khua, mõ đánh, giết tên tử thù !
Tôi từ Hà Nội thủ đô,
Về quê bị bắt giam vô chuồng bò !
Truy khai đủ thứ đủ trò,
Trâu vàng, cóc bạc, mâm to, nồi đồng !
“Tội cao hơn cả núi sông” !
Chất chồng mắc nợ nông dân lút đầu !
Ôi thương đau ! Quá thương đau !

Nhớ Bầm thơ viết miên man,
Dông dài tâm sự vài trang để đời …

Bính Tý 1996
(Trong : Ly hương hoài cảm 2)

Đây là một đề tài được tác giả nói đến nhiều lần trong các tập thơ khác nhau của ông, ngoài tập Ly hương hoài cảm 2 có bài trích dẫn trên đây, còn có Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình, nhất là trong tập Nước non tâm sự, khi đề cập đến cuộc sống của người dân, Trần Nguyên Anh cũng nhân dịp này nhắc lại cái nạn của gia đình mình, trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc.
Mặc dù cùng nói đến một sự kiện ở một số tập khác nhau, song tác giả đều diễn tả một vài ý và các sự việc liên quan khác nhau. Nhưng dù sao vẫn không tránh được sự lặp lại cái tính chất chung của chủ đề là việc giới địa chủ bị đem ra đấu tố. Điều này tuy có làm giảm đi chính sự kiện mà nó là nguyên nhân gây cho tác giả những khắc khoải khôn nguôi về mẫu thân của mình, nhưng có lẽ Trần Nguyên Anh lại không mấy quan tâm đến mặt này, mà chỉ cảm thấy mình vẫn chưa nói hết được nỗi khổ trong cõi lòng mình về cái chết u uất của Mẹ.
Điều này, (tôi mạn phép hương hồn Trần Nguyên Anh) để ví nó giống như hai người nam nữ đang yêu nhau, có nói bao nhiêu lời tỏ tình cho nhau, cũng cảm thấy như chưa nói đủ. Ở một vài đề tài khác cũng vậy, như “nước non”, “dân tình” cuộc sống đau thương và quẫn bách của người dân suốt trong cả hai cuộc chiến trải dài ra khắp Đông Dương, hay khi viết về bạn hữu, Trần Nguyên Anh đều viết không chỉ một bài, nhưng là nhiều bài, mổi bài một dịp, một hoàn cảnh khác nhau.
Dưới đây là một dẫn chứng khác về đề tài “nạn nhà” của Trần Nguyên Anh. Ở đây, tác giả còn cho thấy “nhân tình thế thái” khi “dậu đổ” thì “bìm leo”. Cái lẽ thường tình này không biết có nên buồn hay nên tha thứ, tố cáo hay là một hành động dùng ngôn ngữ để “tải đạo”, cái đạo làm người, người lương thiện, công bình và bác ái.

Nhớ khi tất cả toàn gia,
Tan đàn xẻ nghé người ta giập bằm.
Cha thì chết thảm thương tâm,
Mẹ thì mắc nạn mất gần mấy năm.
Hai anh biệt tích mất tăm,
Cửa nhà bị vét cái tăm chẳng còn.
Chị em, chú bác bà con,
Bìm leo dậu đổ - nước non vô tình.
Đất kia cũng phải quặn mình,
Trời kia cũng phải bất bình xót xa.
Chim kia cũng phải kêu la,
Giun kia cũng phải quặn ra hóa người.
Hoa kia đang nở rã rời,
Cây kia đang đứng chặt đôi cũng buồn.
Gẫy cành héo lá khô xương,
Mà con người ác hơn muông thú rừng.
Mẹ ta hết khóc thương chồng,
Khóc con, thương cháu mất ông từ rày.
Thương con côi cút đọa đày,
Gái trai cháu chắt, đâu đây chín người.
Cả nhà góa bụa, mồ côi,
Cả nhà tan nát ngút trời xót xa.

( Trong :Nước non tâm sự,
từ câu 1822 đến câu 1844)

Đọc đến đây tôi chợt nghĩ đến việc Đảng CSVN “sửa sai” việc đấu tố thành phần địa chủ, và sau đó là việc trả thù giữa những người bị tố và những người theo lời mớm của cán bộ tố sai, tố điêu, tố cả ông tổ của dòng họ người ta, dù ông tổ ấy đã chết từ bao đời. Trong tình hình chung của toàn xã hội miền Bắc thời đó như vậy, không biết mẫu thân của nhà thơ Trần Nguyên Anh đã xử trí như thế nào ? Để biết việc này, tôi đã đọc hết các tập thơ của ông và cuối cùng tôi dừng lại ở trang thứ 7 của tập Nước non tâm sự, từ câu 187 đến câu 203.Nhưng trước hết xin điểm qua nguyên nhân dẫn đến việc sửa sai.

Chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc phạm nhiều lỗi lầm, gây nên bao oan ức trong nhân dân, kéo dài suốt mấy năm liền,có nơi từ 1950 và đợt chót kết thúc vào cuối tháng 7 năm 1956, gọi là đợt Điện biên phủ.

[.......................................................................................................]
[.......................................................................................................]

Đùng một cái, ông Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng, ông Hồ Viết Thắng, Thứ trưởng phụ trách Cải cách ruộng đất đột nhiên bị cất chức; ông Võ nguyên Giáp phải đứng ra thay mặt trung ương Đảng công khai thú nhận sai lầm và hứa hẹn sửa chữa. Tiếp đến là tin cán bộ tập kết phá bóp cảnh sát Bờ Hồ, tin học sinh tập kết khởi loạn ở Ngã tư sở, và cuối cùng là “vụ Quỳnh Lưu”.
Chiến dịch sửa sai bắt đầu bằng việc giải thích bằng báo chí và bằng “học tập” về quyết nghị của Hội nghị lần thứ 20 Đảng CSLX, trong đó có nói đến “bệnh tôn sùng cá nhân” và “chính sách tập thể”. Việc thứ hai là “hạ bệ” ông Trường Chinh và ông Hồ viết Thắng, và thả ra 12 ngàn đảng viên bị cầm tù vì bị quy lầm là địa chủ, trong số đó có nhiều người đã bị lên án tử hình.
Ở nông thôn các đảng viên đi họp phải mang búa theo để “thảo luận” với nhau. Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình “tiểu tư sản” hồi kháng chiến đã trú ngụ tại nhà mình.Các bần cố nông, chót nghe lời Đảng “tố điêu”, nay sợ bị rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp xích lô và đi ở. Vì vậy nên dân số ở Hà Nội, Nam Định đột nhiên tăng gấp bội và không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, lây cho công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức.(hết trích)

Riêng mẫu thân của nhà thơ họ Trần, bà đã thể hiện tinh thần nhà Phật :

Tiếng thơm biển cả Mẹ hiền,
Nhìn lên đã có khuôn thiêng trên đầu !
Nên ai chẻ tóc gieo cầu,
Gây muôn tội ác Mẹ đâu thù hằn !
Mấy lần pháp luật muốn rằng :
Sát nhân đền mạng, từ tâm Mẹ cười !
Tha cho tất cả Đạo trời,
Tôi già tôi muốn con tôi vuông tròn.
Không thù không oán là hơn,
“Ở ăn lấy chữ nghĩa nhơn làm đầu”
Nghe lời Mẹ dạy từng câu,
Dẫu cho tuổi dại nghĩa đâu tận tường !
Dần dần đèn sáng bên gương,
Thấm lời Mẹ dạy coi thường lợi danh !
Sống nghèo giữ vẹn lòng thanh,
Câu thơ nên chép để dành người sau.
Thư nhàn đọc đến hiểu nhau.

(Trong :Nước non tâm sự
từ câu 187 đến câu 203)
Trần Nguyên Anh

Chủ đề trên đây còn được tác giả dùng và khai thác ở một vài khía cạnh khác, như lời Mẹ dạy bảo về cách ăn ở và đạo lý làm người, mô tả vài nét chân dung những người thân trong gia đình, kể cả người chị dâu của ông mà người chồng đã sớm hy sinh trong cách mệnh. Ông còn mô tả tính cách của vị hiền thê và các con của ông. Tất cả, dưới ngòi bút của ông, đều chan chứa tình cảm chân thật, sâu đậm và những hy sinh của họ, trong an vui thành đạt cũng như lúc khó khăn .

Kỳ sau : Tình quê hương
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 19.10.2009 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .