Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


(kỳ 2)

Giới thiệu các
chủ đề trong thơ Trần Nguyên Anh

A.Thơ Trào phúng

. Sau ngày 30-4-1975

Sau ngày này, hầu hết giới văn nghệ sĩ thời cũ đều đi đăng ký, một hình thức trình diện với chính quyền mới, trụ sở nghe nói trên đường Nguyễn Du, quận Một, Sài-Gòn. Sau đó dự một khóa học ít ngày. Riêng tôi, những ngày đầu tháng 5/1975, một người bạn cùng đơn vị lính với nhau, tay đeo băng đỏ, súng ngắn nhét trong quần cố ý cho tôi thấy, đến nhà mời tôi đi đăng ký.. Anh ta nói một hồi những người đã đi đăng ký, kể cả người đã chết từ 5,10 năm ! Tôi nói với anh là tôi gác bút. Tôi đợi chính sách của chính quyền mới này về quân đội, vì tôi là lính.
Sau khi người bạn này đi khỏi, vợ tôi hỏi : “ Ông ta làm cái gì mà tay đeo băng đỏ, trông dữ quá vậy ?” Mấy ngày hôm sau, người bạn này lại đến nhà, lần này anh ta đưa cho tôi tờ giấy đăng ký mẫu, để nếu tôi đi thì điền vào những chỗ trống : tên, tuổi, bí danh (nếu có), bút hiệu, các sách báo đã viết, các tác phẩm đã xuất bản (nếu có), các hoạt động văn nghệ khác v.v…Tôi nhớ đại loại như vậy. Anh còn đưa cho tôi một tờ giấy khác, dự một khóa học tập dành cho văn nghệ sĩ tại chỗ, nếu đi thì điền tên vào.
Trước sau tôi vẫn không đi, nhưng đi trình diện tại nơi cư trú theo diện binh lính và dự một khóa học tập 3 ngày. Những người lính thuộc BTL/KQ lại có cuộc trình diện riêng.Chúng tôi tập trung hình như tại một phòng học bên ngoài, gần Tân Sơn Nhất.Từng người được gọi lên, họ vừa hỏi vừa ghi chép vài ba câu rồi cho về.Những câu hỏi cũng chẳng có gì quan trọng, về công việc của đời lính của mình.

Về phần Trần Nguyên Anh thì ông trình diện tại Đài phát thanh Sài-Gòn, vì từ năm 1960 – 1975, ông là Biên tập viên và phóng viên, kiêm phụ trách chương trình Hương Quê của Đài. Ông cũng tham dự một khóa học tập 3 ngày. Sau 3 ngày này, ông đến thăm tôi, kể lại chuyện người ta buộc tội ông cũng như mọi nhân viên khác , kể cả người làm công tác vệ sinh trong các văn phòng.Tội của những người này là nặng nhất, vì họ quét dọn và làm sạch sẽ phòng ốc, tạo sự thoải mái, mát mẻ.Nhờ đó, những người viết bài có thêm hứng khởi để chống phá cách mạng, chửi cách mạng hăng hơn v.v…Sau đó là những năm tháng phải vật lộn với cuộc sống, vì bản thân và gia đình. Sách báo, thơ văn hầu như bị lãng quên, nhưng mỗi khi cái Tết cổ truyền của dân tộc đến, Trần Nguyên Anh lại cầm viết làm thơ, ghi lại cái hoàn cảnh sống và cảm nghĩ của ông về bối cảnh lịch sử của dân tộc lúc đó. Ông đặt tên cho những bài thơ này là Xuân nhớ ngàn năm, trên 400 bài, viết theo thể thất ngôn bát cú và bát cú liên hoàn, kể từ năm Bính Thìn (1976) đến năm Ất Hợi (1995) .Năm 1998, một tập thơ khác được hoàn thành, mang tựa đề Đời vô thường, gồm 59 bài lục bát và thất ngôn bát cú.

Mở đầu cho tập này là 7 bài có cùng đề tựa “Lên chùa đi lễ”. Phải chăng Trần Nguyên Anh muốn sửa chữa lại dư luận đã ngộ nhận về bài “Đầu năm đi lễ chùa” đăng trên tờ Nhật báo Tự Do năm 1959, như đã đề cập ở phần những bài thơ trào phúng của ông viết trước năm 1975, hay năm 1998 là năm ông đã ở vào tuổi 64 và sau những năm mệt mỏi, chán chường trong cõi nhân gian, nên ông đã nhuốm tinh thần nhà Phật. Cũng nên nói thêm, Trần Nguyên Anh có một người chị song sinh, tên là Trần Thị Thân, Pháp danh Như Hải, hiện là Sư Trưởng chùa Từ Nghiêm trên đường Bà Hạt, quận 10, Tp.HCM.Vì vậy, Sư Như Hải chắc hẳn cũng có những ảnh hưởng về tinh thần Phật giáo nơi ông ?
Bình thường, con người khi đã bước vào tuổi gọi được là thọ, người ta có thể rũ bỏ được nhiều điều mà trong thời trẻ trung, người ta khó mà tránh, nên dễ mắc sai lầm. Cho nên, cũng chính ở chỗ bình thường này mà Trần Nguyên Anh đã đặt tên cho tập thơ một cái tên nhuốm tinh thần triết lý nhà Phật : Đời vô thường. Tuy nói là bình thường mà trong thực tế cuộc sống, hồ dễ có mấy người muốn từ bỏ những thứ làm cho tấm thân mình nặng nề, những thứ tuổi trẻ đam mê : tham, sân si.
Kinh thánh Kitô giáo, quyển Tân Ước, có kể một câu chuyện truyền thống (Luật cũ) của nhóm Biệt phái và Luật sĩ, tức là những người giữ đạo Do Thái một cách nghiêm ngặt. Một hôm họ chất vấn Đức Giêsu về việc các môn đệ của Ngài không rửa tay trước khi ăn. Nhân đó, Đức Giêsu mới nói với các môn đệ : “Anh em không hiểu rằng bất cứ cái gì vào miệng thì xuống bụng, rồi bị thải ra ngoài sao ? Còn những cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính những cái ấy mới làm cho con người ra ô uế. Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế; còn ăn mà không rửa tay thì không làm cho con người ra ô uế.” (Theo Thánh sử Matthêô, đoạn 15, từ câu 17-20) Tham, sân, si phát xuất tự lòng con người thì cũng phải tự lòng con người mới chữa được. Đó là con đường diệt của Đạo pháp. Kitô giáo thì dạy từ bỏ, là tự hủy, như Đức Giêsu đã tự hủy chính mình, bằng cách vác thập giá lên Núi Sọ. Rồi trước khi tắt hơi thở cuối cùng tại đó, Ngài xin Đấng Tối Cao là Cha của mình tha tội cho những kẻ đã ra án tử cho mình vì họ không biết việc họ làm(Theo Thánh sử Luca , đoạn 23 câu 34)

Người khôn ngoan là người biết sống lẽ đạo và lẽ đời một cách thái hòa. Nói cách khác, con người ở đời với hai chiều kích : chiều dọc và chiều ngang. Chiều dọc là chiều của tâm linh, chiều ngang là chiều con người với con người và con người với xã hội. Có trời mà cũng có người, thiên nhân tương dữ, không chia lìa, không đối lập để chọn một bỏ một. Các-Mác cho rằng, con người là tập hợp của tất cả các quan hệ xã hội. Nhưng ông đã gạt bỏ yếu tố tôn giáo trong các quan hệ xã hội, điều này cũng có nghĩa ông không xét đến chiều kích tâm linh của con người.
Thật là u tối,khi xã hội chỉ có một loại nhà văn vô thần được công nhận, còn những nhà văn nhà thơ luôn khắc khoải đến thân phận con người, khao khát và chờ mong con người thoát vòng kiềm tỏa của các đam mê trần tục, thì lại bị khước từ, tiếng nói trầm thống, nghẹn ngào của họ không được chấp nhận !

Trần Nguyên Anh là nhà thơ thuộc loại này. Ông rất tha thiết, trìu mến những tình cảm gia đình, cha mẹ, vợ con, bạn hữu và quê hương, tổ quốc. Ông cũng nặng lòng với đạo giáo.

Lên chùa lễ Phật chớ cầu mong,
Sống thọ lâu dài đục lẫn trong.
Khinh rẻ mẹ cha như lọ cổ !
Ở ăn chồng vợ rối bòng bong !
Tiền xem quí trọng hơn tình nghĩa,
Của cậy se sua nặng trĩu lòng !
Tham hận sân si chồng chất khổ,
Trăng tròn rồi khuyết lưỡi liềm cong.

Xuân Mậu Dần 1998
Bài :Lên chùa đi lễ 2
(Trong : Đời Vô Thường)

Ý trong bài thất ngôn bát cú này rất rõ. Bốn câu giữa nói đến cách cư xử của con người với nhau, không đặt trên tình nghĩa, con cái với cha mẹ và vợ chồng với nhau, nhưng là trên đồng tiền. Hai câu cuối, tác giả tuy kết mà lại mở ra, dẫn độc giả đến cái lẽ chân thật ngàn đời cũng không thay đổi. Vì vậy, ngay hai câu mở, tác giả đã cảnh báo.
Còn trong bài “Lên chùa đi lễ 5”, Trần Nguyên Anh vạch rõ cái chủ đích duy lợi, vị kỷ của con người khi đi lễ Phật, chứ không có mục đích tìm sự an bình cho nội tâm, nơi đó có Phật, nhưng họ đã không nhận ra.

Lên chùa đi lễ họ van cầu,
Năm mới làm ăn được chóng giàu.
Vốn một, lời mười, xin Phật độ !
Buôn trăm, bán vạn. Hỏi trời đâu ?
Thế gian lòng dạ tham không đáy !
Địa ngục ma vương phải cúi đầu !
Bái phục người trần tuy mắt thịt,
Hơi tiền ngửi thấy lạy cho sâu.

Xuân Mậu Dần 1998
( Trong : Đời Vô Thường)

Những bài thơ “Lên chùa đi lễ” tác giả viết vào năm 1998, là năm ,có nhiều gia đình tương đối đã ổn định về mặt đời sống cũng như đã thoát ra được sự tù túng và nghiệt ngã nặng nề của thời kỳ hơn mười năm đầu sau biến cố ngày 30-4-1975, tuy rằng người ta vẫn còn phải chứng kiến nhiều con người nhiều gia đình chưa thể thoát ra khỏi tình trạng nghèo khổ. Báo chí còn nói đến cả một vùng gần kề Sài-Gòn là huyện Nhà Bè, người dân và cả trẻ em phải dầm mình dưới nước mò cua bắt ốc để sống, thay cho cơm gạo ! Một số khác, thoát được tình trạng gian nan ban đầu, lại gặp cảnh gian truân khác, về nhà cửa, đất đai, về tình trạng gia đình mâu thuẫn giữa cha mẹ với con cái hay giữa vợ chồng với nhau v.v…
Như hầu hết mọi người dân khác, ông Trần Nguyên Anh cũng đã trải qua cái nghèo :

Cảm Tết Bính Thìn

Thất nghiệp nằm đo ngẫm sự đời !
Tiền không gạo hết, hết người chơi !
Ba mươi Tết đến buồn se mặt !
Mồng Một đầu năm cắn chặt môi !
Vợ mếu chồng nhăn bao tất tưởi ,
Nước nghèo dân khổ mấy đầy vơi !
Gái trai sáu đứa cùng thiên hạ !
Đổi chủ thằng ông cũng đổi ngôi !

Tết Bính Thìn 1976
(Trong: Xuân nhớ ngàn năm)

Từ cái nghèo của gia đình, ông nghĩ đến cái bần cùng của người dân. Câu cuối đề cập đến hậu quả của việc xã hội đổi thay, một lẽ thường tình của nhân thế trong chốn phù du.
Cái Tết năm sau đó (1977), nỗi chua cay còn rất nặng nề , nhưng nhà thơ đất Phủ Vĩnh Tường vẫn tinh thần trào phúng, cười trên cái nghèo của mình.

Cảm Tết Đinh Tỵ

Mới Tết hôm nào lại Tết đây !
Hai năm giải phóng khó khăn đầy.
Vợ con đói khổ mình phiêu bạt,
Bè bạn gần xa tớ giả ngây !
Xuân lại rượu không trà chẳng có,
Tết sang bánh ế - mứt chưa bày !
Đổi đời đổi cả lòng nhân nghĩa
Bố cũng xa con, tớ bỏ thầy !

Tết Đinh Tỵ, 1977
(Trong: Xuân nhớ ngàn năm)

Là một con người nặng tình với gia đình, với nước non, nhà thơ Trần Nguyên Anh cũng có ước mơ, có trông chờ một ngày nào đó gia đình và đất nước thoát cảnh bần cùng, tăm tối.

Cảm Tết Canh Thân

Mỗi năm mỗi Tết lại già thêm,
Nghề đục nghề cưa đã tạm quên.
Kẻ khó xuân vào không đóng cửa,
Thằng nghèo Tết đến hóa thành tiên !
Giao thừa xông đất con còn ngủ,
Trừ tịch trông trời vợ ngó lên…!
Tối mịt tối mù như hũ nút,
Hỏi bao giờ sáng, chết chưa yên !

Tết Canh Thân 1980
(Trong: Xuân nhớ ngàn năm)

Năm 1980 là lúc người dân miền Nam sống trong thời kỳ khó khăn, sau 5 năm sống dưới chế độ mới được gọi là Xã hội Chủ nghĩa.Hầu hết mọi thành phần trong xã hội, kể cả những gia đình có người đi tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genève năm 1954, nay trở về, vẫn chưa thoát ra khỏi cái choáng váng của sự đổi thay. Lương thực lúc bấy giờ là khoai lang, củ sắn và bo bo, những loại rẻ tiền và khó nuốt trôi.
Về phần Trần Nguyên Anh, ông quay qua làm nghề mộc, cầm đục, cưa, bào.Ở đây, ông đã thể hiện trọn vẹn hai con người của ông trong cùng một hoàn cảnh khó khăn : một là con người văn chương và con người kia là trưởng gia đình.
Hai con người trong Trần Nguyên Anh này, phối hợp một cách điều hòa, tinh tế trong bài thơ trên. Vì tinh tế nên ông mới thấy được cái “ngó lên” của người vợ mang niềm khát khao một cuộc sống tốt hơn, bớt cay đắng, bớt cơ cực hơn. Còn ông, nói đến cảnh trời tối đen của Đêm Trừ tịch rồi hỏi lòng “bao giờ sáng”, hạ dấu chấm than ở cuối câu, ta hiểu ngay ông hướng đến tình hình chung của xã hội, của đất nước. Chả lẽ cuộc sống cứ mãi thế này ?! Ba chữ cuối bài nói đến người chết mà cũng không được yên, là ông nói đến một trường hợp, gia đình có người chết bị phạt tiền, gọi là tiền “ngu” do tự tử, hoặc người quản lý nghĩa trang làm khó dễ trong việc mai táng.

Phải đến hơn mười năm sau, tính từ năm 1975, Đảng CSVN mới công bố một thay đổi trong chính sách kinh tế. Xóa bỏ chế độ bao cấp, mở cửa cho nhiều thành phần trong kinh doanh. Nhưng xã hội nảy sinh thành phần cơ hội, làm ăn bất chính, buôn lậu, phá rừng tràn lan không gì có thể ngăn chận.Người dân bình thường và lương thiện bị đẩy ra bên lề cuộc sống. Xã hội như mất kỷ cương, luật pháp bất cập, chồng chéo. Một tình trạng xã hội phi văn hóa tiếp tuc nảy sinh.

Cảm Tết Bính Dần

Trâu mới vừa qua cọp ló đầu !
Nhe nanh trợn mắt lại vênh râu.
Quan liêu vẫn sống lèn ông chủ,
Bao cấp co vào như chú sâu !
Móc ngoặc sinh sôi hơn nấm dại,
Tham ô phát triển quá bèo dâu !
Xuân sang Tết đến càng tê tái !
Biếu xén cầu danh. Họ chúc nhau !

Tết Bính Dần 1986
(Trong: Xuân nhớ ngàn năm)
Trần Nguyên Anh

(Kỳ sau : B. Thơ Trữ Tình)
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 25.09.2009 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .