Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


Lời Mở

Năm 1999, để tiễn chân anh Trần Nguyên Anh đi định cư ở Canada, tôi đã viết một tác phẩm ngắn, hơn 200 trang vở học trò, lấy tựa đề trên đây. Bây giờ, sau khi anh mất, tôi mở lại bản photo do chính anh làm rồi trao cho tôi, còn bản viết tay của tôi thì anh mang theo.
Sau khi đọc lại, tôi thấy không hài lòng vì còn thiếu sót . Từ đó đến nay, 2009, cũng đã 10 năm.Tôi nghĩ phải viết lại, nhưng vẫn theo cái nền cũ mà sửa chữa, bổ sung. Vậy, bản này, sau khi có ý kiến của anh Từ Vũ, sáng lập trang NewVietArt – Việt Văn Mới, tôi đã có nơi xứng hợp với Trần Nguyên Anh để gửi gấm tác phẩm này và thơ của anh.

Trong các tập thơ Trần Nguyên Anh trao cho tôi, có hai tập trường thiên, dài đến mấy ngàn câu. Đó là Nước Non Tâm Sự (2195 câu) và Diễn Khúc Dân Tình (1856 câu). Cộng lại là 4051 câu.Cả hai tập đều lấy bối cảnh từ năm 1945 cho đến cuối năm 1990, 45 năm, làm đề tài sáng tác
Đây là một khoảng thời gian có quá nhiều biến cố đau thương xảy đến cho đất nước và cho người dân Việt Nam, vừa do ngoại nhân vừa do người cùng một Dòng Giống Tiên Rồng gây ra. Giờ đây, khi nhân loại đã bước vào năm 2000, mà hận thù và chia rẽ vẫn chưa sao hàn gắn được giữa các thành phần trong xã hội, trái lại tình trạng này càng trở nên trầm trọng , một điều hầu như chưa xảy đến như thế bao giờ. Bi thảm hơn nữa là giữa những người thân thích và người cùng huyết tộc với nhau, cũng như cùng quê hương cố quận với nhau, mà mối cảm thông vẫn chưa thật sự có được, chỉ vì trước đây họ ở hai giới tuyến, đồng thời do sách lược tuyên truyền của những kẻ chủ mưu cuộc chiến.
Đó là một nỗi đau thương quá lớn mà những văn nhân thi sĩ ở thời này không thể không lấy đó làm nỗi đau xót , tủi nhục của chính mình.
Trần Nguyên Anh là một trong những thi sĩ mà tôi biết đã giãi bày một tâm trạng đau thương về một đất nước có quá nhiều đau thương, trong hầu như toàn bộ các tập thơ của ông do chính tay ông trao cho tôi, ngoại trừ những bài ông đăng ở Tạp chí Khởi Hành, do Viên Linh (Hoa kỳ) chủ trương, trong thời gian ông sống ở Canada, từ năm 2000 cho đến trước ngày ông mất, tháng 5/2009.(Trong bài Chữ Tâm trong thơ của một người vừa nằm xuống, ghi sai ngày Trần Nguyên Anh sang Canada là 1999, thật sự là tháng 5-2000).Như vậy là ông ra đi vào tháng 5 và rồi cũng mất vào tháng 5, đúng 9 năm sau.Nhiều lần ông đã tâm sự với tôi về những đêm thức trắng, trải nỗi lòng mình trên trang giấy, mượn vần thơ, mượn ngôn ngữ thi ca, cho dù là mộc mạc, chân phương nhưng là trung thực, về những biến cố xảy đến cho chính gia đình ông, cho thời đại của ông. Trong đó, ông không phải là người sống bên lề, song ông chính là nạn nhân và cũng là chứng nhân.
Là nạn nhân của thời thế : ngay những dòng thơ đầu tiên của tập Nước non tâm sự, Trần Nguyên Anh đã viết :

Mấy lời ta viết cho con,
Bài Thơ Tâm sự nước non một mình.
Bốn Nhăm (1945) cha bị cực hình
Vì theo Cách Mệnh gia đình nát tan.

Là chứng nhân của thời đại : những dòng thơ đầu tiên của tập Diễn khúc dân tình, tác giả viết :

Kể từ Ất Dậu đến nay (1945)
Bốn mươi năm chẵn đổi thay mấy lần.
Trào nào cũng khổ thằng dân,
Sưu cao thuế nặng áo quần tả tơi.
Ta buồn nhiều lúc lệ rơi,
Giở trang sử cũ tiếp lời diễn ca.

Trần Nguyên Anh đã đem tâm tình để viết lịch sử, thì tôi cũng lấy tâm tình mà viết về thơ của ông. Chỉ có điều, Trần Nguyên Anh là chỗ tâm giao với tôi, nên không tránh khỏi điều dị nghị. Tuy nhiên, điều này có cái ưu điểm của nó, là nhờ chỗ tâm giao ấy, tôi có được cái may mắn là ông tâm sự với tôi về quan điểm và lập trường của ông đối với những gì đã xảy ra, gây đau thương cho đất nước và người dân. Một phần nào những điều tâm sự ấy, tôi đã dùng để viết giới thiệu ông qua tập sách nhỏ này.

Tập sách mỏng này, như tôi đã nói với Trần Nguyên Anh, tôi bắt chước Trần Thanh Mại khi viết về Hàn Mạc Tử. Chính tôi cũng đã đọc Hàn Mạc Tử đầu tiên qua Trần Thanh Mại do Tân Việt xuất bản năm 1957.Nhưng tôi lại không có cái tài của Trần Thanh Mại, để viết về ông. Tuy nhiên, tôi hy vọng là có thể giới thiệu một cách trung thực Trần Nguyên Anh cho độc giả văn chương bằng chính ngôn ngữ thi ca của ông.
Vì vậy, tôi có trích dẫn nhiều bài thơ của ông trong tập sách này, cho dù có thể làm cho sách trở nên nặng nề, thay vì lẽ ra phải làm cho rõ nghĩa của tác giả gửi vào ngôn ngữ, vì ngôn ngữ có tính chất hàm hồ.Nhưng với Trần Nguyên Anh, điều này chắc chắn không xảy ra, vì ông sử dụng ngôn ngữ bình dân, chứ không trau chuốt và làm dáng hay tỏ ra bí hiểm.Sau nữa, việc đề cập đến hầu hết các chủ đề trong thơ Trần Nguyên Anh là một cách muốn nói lên tính chất đa dạng của ông, đồng thời tôi cũng muốn nhắc nhở con cháu của ông sau này về di sản tinh thần của cha ông họ. Rất may cho ông là ông có mấy người con biết quan tâm đến việc bảo tồn di sản tinh thần này.Chính người con trai út của ông đã đánh máy được mấy tập và in ra nhiều bản.Còn một điều tôi cũng muốn nói tới là khi viết tập sách này, tôi không nghĩ nó sẽ được đem bày bán như món hàng rẻ tiền, vì như vậy là làm thương tổn đến tác giả của những tập thơ ấy, bởi biết đâu Trần Nguyên Anh đã viết nó với tim óc, với ruột gan và biết đâu nữa, có những trang giấy bản thảo của ông thấm cả lệ sầu mỗi khi nhớ đến mẹ cha, đến cái nạn nhà của ông.

Tất cả những tập thơ được dùng để viết tập sách mỏng này, đều là bản thảo,đánh máy hoặc viết tay của chính nhà thơ Trần Nguyên Anh, ngoại trừ tập Dĩ vãng bâng khuâng, gồm một số những bài thơ trào phúng và trữ tình, được thu thập từ những bài báo cũ, xuất bản tại Sài-Gòn trước ngày 30-4-1975, còn phần lớn đã bị thất lạc hoặc hư hỏng sau ngày này. Tuy nhiên,sau ngày này, đã có lần ông dự định in, song bị từ chối cấp giấy phép. Đơn giản, vì có bài tác giả nói về một ngày 30 Tết, cái tết nghèo của mình.Người ta liên tưởng tác giả muốn ám chỉ đến ngày 30 tháng 4-1975.
Viết tập sách mỏng này, tôi không đặt nặng đến nghệ thuật sáng tác của Trần Nguyên Anh,nếu cần, chỉ xin nói qua, mặt này xin dành cho những nhà nghiên cứu văn học. Còn với tôi, trước hết vẫn là việc cảm thụ cái Chân, Thiện, Mỹ của một tác phẩm văn học.
Sau cùng, tôi xin cám ơn anh Từ Vũ và Ban biên tập NewVietArt – Việt Văn Mới, đã dành đất cho tôi giới thiệu với độc giả một người bạn thơ tâm giao của tôi, Trần Nguyên Anh, qua nửa thế kỷ tri ngộ.

Sài-Gòn, ngày 3/9/2009

Khải Triều

PHẦN MỘT


Giới Thiệu Các Chủ Đề Trong Thơ Trần Nguyên Anh


Có một thời gian, Trần Nguyên Anh lăn lộn trong làng báo tại Sài-Gòn, phụ trách những mục thơ trào phúng và viết phóng sự trên một số nhật báo và tuần báo, khoảng từ năm 1960 và những năm sau đó.
Về thơ, ông sáng tác cả ngàn bài với gần 20 tập, gồm nhiều thể loại, từ Đường luật đến Lục bát, Thất ngôn bát cú và Thất ngôn liên hoàn v.v…Đọc Trần Nguyên Anh, người ta thấy nhà thơ này đượm tính chất đạo lý, theo quan niệm văn dĩ tải đạo.Điều này đôi khi trở nên gay gắt khi ông thấy có một số người mượn báo chí để chửi người khác, lôi cả ông tổ của người đó ra mà bôi tro vào mặt người ta. Ông bảo, như thế còn thể thống gì nữa. Văn chương là cái thú thanh cao và cũng có sứ mạng hướng con người đến cái Chân, Thiện, Mỹ, tẩy trừ cái ô trọc, thực hiện nền Văn-Hóa, một nền văn hóa song hành với Thiên Đạo,mang sứ mạng đẩy cái tiến trình tiến hóa của con người đến mau hơn cái cùng đích của nó.Cái cùng đích của nó là gì, thì đó là một vấn đề của thời gian. Tuy nhiên, theo tôi, đó là lúc con người bước vào tình trạng thoát khỏi tính chất tổ truyền của nó.Con người là con người linh thánh. Lịch sử con người từ mấy ngàn năm nay, ở thời nào cũng có một vài đại biểu của tiến trình tiến hóa này.

P.Lecomte du Nouy trong tác phẩm mà nhà vật lý học Mỹ Robert Andrews Millikan, giải thưởng Nobel năm 1923 đã nói : “Mỗi thế kỷ sản xuất được một hay hai cuốn sách quan trọng và thâm trầm như cuốn này”.Đó là cuốn “L’Homme et sa destinée”, Trần Kim Tuyến dịch là “Định mệnh con người”(1951), Tinh Việt xuất bản, Hà Nội 1953, có một câu nói đến trường hợp trên đây, xin dẫn : “Chúng ta hiện đang ở vào buổi bình minh của cuộc Tiến hóa nhân loại. Nếu trong trăm ngàn triệu, chỉ được lấy một người “có ý thức”, “có lương tâm”, cái đó cũng đủ để xác chứng rằng : một bậc độ tự do mới đã xuất hiện.” (tr.159)

Dưới đây, chúng tôi tạm thời phân loại dòng thơ của Trần Nguyên Anh ra mấy chủ đề chính, như : Trào phúng, trước và sau ngày 30-4-1975, Trữ tình, (tình nhà, tình quê hương, tình non nước), Chiến tranh - Thiên nhiên trong thơ Trần Nguyên Anh.

A- Thơ Trào Phúng

Trước ngày 30-4-1975

Bài thơ trào phúng đầu tiên của Trần Nguyên Anh xuất hiện trên tờ Nhật báo Tự Do, mục Đàn ngang cung,số ra ngày 9-3-1959, có tựa đề: “Đầu năm đi lễ chùa”, ký tên Ngứa Nhĩ, ngay lập tức đã gây xôn xao trong giới Phật giáo.

Đầu năm đi lễ chùa

Mấy đứa đầu năm đi lễ chùa,
Đứa thì niệm Phật, đứa Nam mô.
Đứa cầu cửa Nải đầu nhô nhổm,
Đứa ước chồng con đít gật gù.
Đứa vái sau sư tay ái bẻ,
Đứa ngồi cạnh tiểu mắt tình đưa.
Đứa về đứa lại đông như hội,
Đấy ngọn cờ nheo gió phất phơ.

Sau này, trong tập Nước non tâm sự, khởi viết từ 1986-1989, bản thảo đánh máy tr.25,từ câu 627-634, Trần Nguyên Anh đã đề cập đến chuyện đó :

Bắt đầu năm tám (1958) mùa thu,
Đi vào nghiệp bút làm thơ trữ tình.
Chuyển sang trào phúng phê bình,
Bài thơ Đi Lễ xuất hành đầu xuân.
Gây nên một trận sóng ngầm,
“Bảo ta là gã vô thần thoát ly”
Sự thật sai đúng lời kia,
Hà quân biết rõ viết gì ở đây ?

Hà quân trong câu cuối trên đây tức là Hà Thượng Nhân, phụ trách mục Đàn Ngang Cung trên tờ Nhật báo Tự Do, đã cho đăng bài Đầu năm đi lễ chùa. Ở phần ghi chú, tr.25, Trần Nguyên Anh cho rằng, ông làm bài thơ “Đầu năm đi lễ chùa” là nhằm phê bình những kẻ tu hành giả dạng, những kẻ đi lễ chỉ cầu tài, khấn lợi.Nhưng, thấu lý Đạo Phật là phải diệt hết tham, sân, si, khi diệt hết rồi thì chẳng phải cầu Phật cũng thấy tâm an tự tại.Còn đi tu, đi lễ cầu Đức Phật phải độ cho mạnh khỏe, giàu có thì đó là sai. Bài thơ đó bị hiểu một cách phiến diện, nên Tổng hội Phật giáo lúc bấy giờ, Hội chủ là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, kiến nghị lên Tổng thống Diệm đưa tôi ra tòa về tội phỉ báng Phật giáo và cho tôi (tức Trần Nguyên Anh) là cán bộ Cộng sản.

Bài “Đầu năm đi lễ chùa” đã cho thấy một ngòi bút châm biếm mới trong làng báo ở Sài-Gòn lúc bấy giờ. Tác giả không ngại sử dụng những từ nhằm phê phán một cách gay gắt, những thói tục giả dối của con người trong khi chiêm bái và cầu khẩn Phật tổ. Họ đến chùa hay đến nhà thờ, phần lớn đều vì mình, chứ không vì mục đích đi tìm chân lý để tự mình giải thoát cái vòng cương tỏa do tội lỗi của mình.
Thói thường là thế. Đâu biết ai thực tâm và ai giả tâm. Thực và giả có khi chính kẻ hành hương cũng chẳng biết, vì có mấy ai đến với Phật với Chúa mà có cái tâm hư, trống rỗng. Còn nhu cầu lợi cho mình là còn lụy vào cái dục, nên tâm bất an, vọng động. Cho nên, Phật hay Chúa đối với họ, ở xa lắm. Vậy làm sao có cái tâm tự tại, an bình ?
Bài “Đầu năm đi lễ chùa” đã dẫn tác giả của nó đi vào làng báo một cách vững vàng, khởi sự cho nghiệp văn chương của ông. Năm 1960, Nhật báo Dân Viêt ra đời, do ông Phạm Văn Hiền làm chủ nhiệm, Trần Nguyên Anh được mời cộng tác, phụ trách mục thơ trào phúng “Trật Đường Rầy”, lấy bút hiệu là Ngứa Nhĩ. Ngoài tờ Dân Việt, ông còn viết cho tờ tuần báo Sài Thành, ký tên Muỗi Đói ở mục “Thơ Chua”; mục “Đánh Chó” trên báo Tiền Tuyến, tuần báo Chiến Đấu và ký tên Tú Phang trên tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng.
Rất tiếc những bài thơ trào phúng đã đăng trên các báo này đã thất lạc gần hết sau ngày 30/4/1975. Chỉ còn bài “Thằng lưỡi” viết năm 1961 khi tác giả phụ trách mục Trật Đường Rầy trên tờ Nhật báo Dân Việt, ký tên Ngứa Nhĩ. Mười năm sau, nhờ đăng lại trên mục “Ngược Xuôi” của tờ tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng số 16 ngày 8-10-1971, ký tên Tú Phang, nên còn lại :.

Thằng lưỡi

Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo,
Mồm không vành mồm méo lung tung.
Khôn ngoan nên vị anh hùng,
Đần ngu dại dột khốn cùng vì mi !
Nay đang buổi loạn ly láo nháo,
Lưỡi tha hồ quay đảo đong đưa.
Biết điều gọi dạ bảo thưa,
Vợ con sung sướng say sưa rượu chè !
Lưỡi cứ thẳng chẻ hoe ăn nói,
Thì đời tàn khăn gói lang thang.
Làm anh lãng khách ương gàn,
Chu du thiên hạ đói tràn tả tơi !
Dẫu biết thế nhiều người họ vẫn,
Đem tấm lòng thẳng thắn bàn ngang,
Lưỡi này chẳng thích giàu sang,
Chỉ mong được sống đàng hoàng Tự do (!)
Bạn bè tốt thương cho là đủ,
Chớ vắng nhau hót sỏ hót siên.
Xun xoe bợ đỡ cấp trên,
Lưỡi chơi ngầm vậy, anh em quá tồi !
Đó là hạng lưỡi dơi xỏ lá,
Chuyên giở trò đểu giả lưu manh.
Lòn lưng, gục mặt, nhe nanh,
Hại người trung trực, chân thành, bạn ơi !
Ngán cho cái lưỡi thầy dùi !

Đây là bài trào phúng thứ hai, đã gây cho tác giả nhiều khó khăn về phía chính quyền thời bấy giờ. Sau này, trong tập “Dĩ vãng bâng khuâng”, Trần Nguyên Anh đã viết về lý do ông làm bài “Thằng lưỡi” :”Bài thơ này tôi viết từ năm 1961 để nhắn nhủ một vài người bạn xấu trong tòa soạn, luôn luôn dùng mọi cách đẩy tôi ra khỏi báo Dân Việt. Nhưng khi bài thơ được đăng, chính quyền lúc đó cho là có ý ám chỉ vào các quan to áo dài của chế độ, nên cho lệnh tịch thu số báo đã phát hành và gây cho tôi không ít khó khăn.”
Có lẽ trong làng thơ văn và báo chí ở nước ta, Trần Nguyên Anh là người đầu tiên vừa bắt đầu nghiệp cầm bút, mà đã hai lần,cách nhau hai năm, gặp chuyện phản ứng do hai bài thơ trào phúng của mình. Lần thứ nhất với bài “Đầu năm đi lễ chùa” trên nhật báo Tự Do năm 1959, gây chống đối trong giới Phật giáo, khiến ông Hiếu Chân (Nguyễn Hoạt), một trí thức Phât giáo phải viết bài bênh vực, đăng trong mục “Nói hay Đừng” do ông phụ trách, cũng trên tờ báo này.

Tôi thiết nghĩ cũng cần nói ra một điều, mặc dù tất cả đã qua đi, thời thế đã khác, tác giả bài thơ cũng đã trở về nguồn cội của mình và biết đâu, lúc này sau hơn 100 ngày mất, ông đã được thong dong nơi miền tiên cảnh vĩnh hằng, được hội ngộ Phật tổ, vì ông là một tín đồ Phật giáo hiền lành, có cái tâm thương đau vì một đất nước lâm cảnh cùng quẫn.Vì bài thơ của ông đăng trên tờ nhật báo Tự Do, mục Đàn Ngang Cung, năm 1959, năm khởi sắc của chế độ Đệ nhất Cộng Hòa, do ông Ngô Đình Diệm, một Kitô hữu làm Tổng thống .Còn tờ nhật báo Tự Do lại do ông Phạm Việt Tuyền đứng vai Chủ nhiệm, ông là một tín hữu Công giáo. Cho nên giới Phật giáo có phản ứng cũng là điều dễ hiểu.Còn đối với tác giả bài thơ, lúc đó (năm 1959) mới 25 tuổi, đã cảm nhận được từ cung cách của những người đi lễ chùa thiếu lòng cung kính, chân thành, thì thử hỏi, người phàm trần đã không chấp nhận được cái cách con người biểu lô lòng tôn kính trước Phật tổ như thế thì làm sao Phật tổ chứng giám mà độ trì cho họ được. Điều này không riêng cho bất cứ một tôn giáo nào hiện diện nơi trần gian ô trọc này, còn phải lệ thuộc vào cơ chế của xã hội.Phật tổ hay Chúa Giêsu, là những Đấng cứu nhận độ thế, chỉ dạy con người biết từ bỏ chính mình, đó trước hết là lòng tham, sân, si.Đã dứt bỏ được các điều này thì lòng con người là Niết bàn vậy.Thế nhưng, đã mấy ngàn năm nay rồi, những lời giảng dạy của các môn đồ của Chúa Giêsu và Phật Thích Ca vẫn không ngừng được truyền bá, vậy mà con người trần thế vẫn chỉ nghe mà không thực hành, nên chiến tranh, khủng bố, bạo lực, tham tàn vẫn đang gây thương đau cho con người.Mặc dù thế, tôn giáo vẫn là một thiết yếu cho con người, tôn giáo vẫn là một tiếng nói, một giải đáp cuối cùng của nhân loại trong cõi nhân sinh này.Nhưng vì sự hàm hồ của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thi ca và vì bài thơ đã xuất hiện ở vào một hoàn cảnh phức tạp, đất nước có hai thế lực đối kháng, Quốc-Cộng, nên tác giả cho dù là một Phật tử, cũng bị ngộ nhận. Điều này không phát xuất tự thân tôn giáo, song do bản tính con người nặng về chấp mê.

Bài thơ thứ hai của Trần Nguyên Anh, dưới bút hiệu Ngứa Nhĩ, viết năm 1961, cũng gây ngộ nhận, bất lợi cho tác giả, là bài “Thằng lưỡi”. Như ông đã bày tỏ và chúng tôi đã ghi lại trên đây, viết bài thơ này, ông chỉ nhằm nói đến cái tính xấu của con người đối xử với nhau, cụ thể là nơi một vài ký giả chung quanh ông lúc đó, muốn đẩy ông ra khỏi tờ báo để đưa người của mình vào vị trí của ông, hầu tạo phe cánh cho mình. Nhưng chính quyền thời đó lại ngộ nhận, tưởng tác giả bài thơ chơi ngông, có ý đả kích họ, nên đã tịch thu số báo ấy. Việc này đã gây khó chịu cho ban quản lý tờ Dân Việt về hai mặt : Với chính quyền và vấn đề tài chính. Báo bị tịch thu, có nghĩa tờ báo hôm đó hoàn toàn bị lỗ vốn, tuy rằng có ảnh hưởng tốt trước dư luận. Còn việc phe cánh trong một tờ báo,nhiều ông chủ báo cũng thấy lúng túng trong vấn đề này. Họ có thể tạo áp lực đối với chủ báo trong nhiều trường hợp, như đòi tăng lương v.v…Sự kiện ký giả ở Sài-Gòn rủ nhau xuống đường “ăn mày” trước khi mất vào tay CS, là một điều khôi hài. Họ cầm bút đấu tranh cái gì, chống cái gì, xây dựng cái gì ? Họ kêu gọi đoàn kết, nhưng bên trong lại gây bè phái và chia rẽ !

Cũng như Chủ nhiệm tờ nhật báo Tự Do, một tín hữu Công giáo, thì tờ nhật báo Dân Việt, ông Phạm Văn Hiền kế đến là ông Phương Linh, cả hai đều là công giáo. Thế nhưng, các ký giả viết cho hai tờ nhật báo này, lại là Phật giáo hoặc không tôn giáo. Tờ Dân Việt thì ngay từ số đầu, đã có Chu tử (tức Chu Văn Bình). Ông nổi lên từ tờ Dân Việt, qua mục “Ao Thả Vịt”, tiểu thuyết nhiều kỳ là “Yêu”, sau Yêu đến “Loạn”.Còn có mặt từ đầu là “cô” Lan Hương tức Thanh Tùng, tác giả bộ Văn Học Từ Điển, Nhà sách Khai Trí ấn hành, Sài-Gòn 1974.Bộ sách này có cả mấy trăm văn nghệ sĩ,có cả một số nhà văn và thi sĩ của Trung Quốc và Pháp. Kế đến là Trần Tử, Anh Hợp, Hoàng Ly,(tức Thánh Sống, tức Trương Linh Tử), Ngứa Nhĩ (tức Trần Nguyên Anh.). Sau năm 1963, có Hồ Nam, Trần Dạ Từ, Viên Linh, Phan Ba, Phan Ngọc, Thanh Sanh, cô Xuân Mai, Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Nguyễn Tiến Hanh v.v…
Cho nên, khách quan mà nói, cả chủ nhiệm tờ Tự Do và Dân Việt, tuy là công giáo, nhưng lúc đó không ai có thành kiến hoặc phân biệt đối xử đạo này đạo kia, nhất là không sử dụng người khác cho một ý đồ, một mục đích xấu. Các ký giả trong tờ báo của họ, có được tự do ở một mức độ cần thiết và họ chấp nhận được.

Ngoài hai bài thơ trào phúng trên đây, Đầu năm đi lễ chùa (1959) và Thằng lưỡi (1961), những bài trào phúng viết trước ngày 30-4-1975 trên các nhật báo Tự Do, Dân Việt, Thời Thế, Tiền Tuyến và tuần báo Sài Thành, nay đã thất lạc, chỉ còn lại 10 bài đăng trên tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng,sau này ông Trần Nguyên Anh đã đưa vào tập Dĩ vãng bâng khuâng.
Nhân đây, chúng tôi cũng xin được nói sơ qua về sự ra đời của tờ tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng (DĐCĐ)
Đây là cơ quan ngôn luận của một tập hợp các chính đảng ở miền Nam và theo chúng tôi, đây là lần thứ hai đối với các đảng chính trị. Lần thứ nhất là Mặt trận quốc gia liên hiệp, tập trung và hợp nhất của các đoàn thể Cao Đài, Hòa Hảo, Thanh Niên tiền phong, Tân dân chủ, Việt Nam quốc gia độc lập đảng, Việt Nam duy nhất đảng, Bình Xuyên, Dân xã đảng, Quốc gia đảng v.v..Như lịch sử cho thấy, lần thứ nhất này, sự tập hợp đã thất bại, “Vì thiếu tổ chức, thiếu phối hợp, tuy có khi đã lập được Mặt trận nhưng vẫn không thống nhất nên Mặt trận nào của người quốc gia cũng rời rạc, không đủ sức ứng phó với địch đảng (Việt Minh), như vậy sự bại vong là điều tất nhiên không tránh được.” (xin xem Phạm Văn Sơn, Chế độ Pháp thuộc ở Việt Nam, tập hạ-Quyển Bảy, Sài-Gòn 1967, tr.282tt).Sự tập hợp thứ nhất này, vẫn theo ông Phạm Văn Sơn, là để chống lại Mặt trận Việt Minh, ở miền Nam lúc đó “ do Trần Văn Giàu cầm đầu và ra mặt tiêu diệt các đảng phái quốc gia.”Đến cuộc tập họp lần thứ hai vào lúc đang diễn ra cuộc hội đàm ở Paris để giải quyết chiến tranh Việt Nam, có những dấu hiệu bất lợi cho VNCH. Cho nên các đảng chính trị ở miền Nam VN đã chấp nhận ngồi vào bàn với nhau, tìm kế sách đấu tranh chính trị với thế lực Cộng sản. Kết quả của nhiều ngày tháng thảo luận, họ đi đến một giải pháp với một danh xưng chung là :Ủy ban Phối hợp hành động các Chính đảng. Cụ Trương Vĩnh Lễ được cử giữ chức Chủ tịch Chủ tịch đoàn của Ủy ban này.Tờ tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng là cơ quan ngôn luận của Ủy ban.Anh em chúng tôi thuộc thành phần không đảng phái, được mời cộng tác.Thời gian này cũng đang sửa soạn cho cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội. Cho nên, những bài thơ trào phúng của Trần Nguyên Anh, dưới bút hiệu Tú Phang, đều tập trung vào việc bàu cử và ứng cử, cũng như động cơ của những người ra tranh cử vào quốc hội của miền Nam lúc bấy giờ. Thế nhưng, ông Nguyễn Văn Thiệu trong cương vị tổng thống, đã phá hỏng sự tập họp của các đảng phái cũng như các liên danh ra tranh chức tổng thống, phó tổng thống, để cuối cùng các liên danh đều rút lui, một mình ông “độc diễn”.Bây giờ ông đã mất, không để lại bút tích để biết do đâu ông có hành động như thế.Những năm gần đây ở bên ngoài có dư luận, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đều là nhân viên của tình báo Mỹ (CIA) Tờ Diễn Đàn Chính Đảng buộc phải tự đình bản. vì bị tich thu liên tiếp, bản thân chúng tôi với cương vị Tổng thư ký,thay mặt Chủ nhiệm, đã một lần phải ra tòa vì nội dung một bài báo chống đối chính sách lãnh đạo của ông Thiệu và việc “độc diễn”của ông.
Dưới đây xin trích dẫn một hai đoạn trong các bài thơ về chuyện này.
Trước hết là bài “Gởi các ngài “tân dân biểu”. Bài này có 6 đoạn, xin trích đoạn 1 và 5:

Ông ra tranh cử để chi ông ?
Đắc cử xong rồi có nhớ không ?
Lời hứa hôm nào hay đáo để,
Nghe kêu sang sảng tựa chuông đồng ! (1)

Nay Tú Phang này viết mấy câu,
Nhắc Ngài dân biểu nhớ dùm nhau.
“Việc dân việc nước là quan trọng”,
Chớ có du dư gục cái đầu ! (5)
( DĐCĐ số 13 ngày 17-9-1971)

Bài “ Tớ cũng ra,” bộc lộ chân dung đích thực nhà thơ đất Phủ Vĩnh Tường, sâu sắc và chua cay. Tác giả như thấu suốt lòng người đời, vạch trần nó và tố cáo nó. Xin dẫn đoạn 1 và 3:

Tớ thấy người ra, tớ cũng ra,
May hên trúng cử, sướng hơn cha !
Cần chi đạo đức cần chi giỏi,
Khéo bịp là ăn quỷ hóa ma ! (1)

Cho nên Tú mới quyết phen ni,
Ứng cử nhào vô nhỡ một khi.
Nhờ phước mình to mà đắc cử,
Làm nên dân biểu, chạy nâng bi ! (3)
( DĐCĐ số 8 ngày 13-8-1971)

Tuy nhiên, những bài như thế vẫn chưa biểu hiện đầy đủ cái “ngông”, táo bạo, không sợ hãi trước quyền lực của ngòi bút người họ Trần. Ông hướng ngòi bút của mình về mục tiêu chính, đối tượng số một lúc bấy giờ để phê phán, châm trích. Đó là nguyên thủ của chế độ Đệ II Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ : Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ra tranh chức Tổng thống, nhiệm kỳ hai. Trước thế lực của ông kèm theo những xảo thuật, các liên danh khác đều rút lui, để cuộc bàu cử này trở thành màn độc diễn, gây ra biết bao nhiêu tiếng thị phi ở trong cũng như ngoài nước. Ngòi bút châm biếm của Tú Phang Trần Nguyên Anh đã viết một bài về màn chính trị này : “Vở tuồng độc diễn”. Bài này có 3 đoạn, mỗi đoạn 8 câu. Xin trích 4 câu đầu của đoạn 1 :

Vừa kéo màn lên đã thấy ngay,
Vua hề độc diễn múa khoa tay !
Bôi râu vẽ mặt càng thêm thẹn,
Uốn lưỡi mềm môi nói thật hay !

Và 4 câu đầu của đoạn 2 :

Ngất ngưởng ngồi cao lợi tối mày,
Vở tuồng múa rối cứ lay hoay !
Bất công chất chứa đầy sa đọa,
Tham nhũng tràn lan quá dạn dày !
(DĐCĐ số 14 ngày 14-9-1991)

Bên cạnh cái ngôn ngữ châm biếm chua cay và gần như dữ dằn ấy, nhà thơ Tú Phang Trần Nguyên Anh còn một dòng tâm sự khác mà trong bài trước, chúng tôi gọi đó là chữ “Tâm” trong thơ của ông. Cái này là bản chất, là cái thiên lương của ông..
Bài “Ngẫu buồn thế sự” sau đây, biểu hiện cho điều này :

Ngẫu buồn thế sự

Chiều thứ bảy – lang thang đi phố,
Thấy mọi người hơ hớ rong chơi,
Chẳng hay nước loạn tơi bời,
Lửa bom khói súng ngập trời Việt Nam !
Em váy ngắn phô trương ngực hở,
Cậu tóc dài hô hố cười to,
Xót buồn hai chữ TỰ DO,
Bên tai những tiếng dày vò Quê hương !
Kìa sách vở bên đường ế ẩm,
Kìa cờ bay tượng ngẩn ngơ trông,
Kìa ai mỏi mắt mong chồng,
Kía ai đứng ngóng bên dòng sông xanh !
Ta đứng lặng đếm cành lá rủ,
Bước chân đi, lòng rã rời đau.
Bốn mươi tóc chửa bạc mầu,
Hai mươi năm loạn cây cầu chia đôi !
Ai liêm sỉ nghe lời nói thẳng ?
Ai thương dân gánh nặng hai vai ?
Ai tham danh ?Ai độc tài ?
Ai ngồi ngất ngưởng trên đài máu xương ?
Ngẫm xem thế sự thêm buồn !

Tú Phang ngày 10-9-1971
(DĐCĐ số 12)


(Kỳ sau : Sau ngày 30-4-1975)
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 10.09.2009 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .