Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

CHỮ "TÂM" TRONG THƠ
CỦA MỘT NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG


Anh Trần Nguyên Anh và tôi có duyên hội ngộ từ đầu thập niên 60, thế kỷ XX, tại tòa soạn nhật báo Dân Việt, đến nay đã chạm đến ngưỡng cửa 50 năm. Thời gian này kể được là dài trong một đời người. Và có lẽ cũng là một đôi bạn trong số những đôi bạn tâm giao ở đời như chúng tôi, thời gian dài nửa thế kỷ ấy, với những biến cố của cuộc đời mỗi người, chảy theo dòng xoáy của thời cuộc, của đất nước, hai chúng tôi hầu như vẫn có những cuộc gặp gỡ thân tình bên tách cà-phê và có khi cả bên ly rượu ngon nữa. Vậy mà, giờ này chỉ còn lại một tôi với ngọn đèn nhỏ trên bàn và hơn mười tập bản thảo thơ anh trao cho tôi, trước ngày vợ chồng anh sang cư trú tại Canada , năm 1999.

Năm 2008, anh và vợ trở về thăm con cháu và quê hương. Chuyến trở về lần này, cậu con trai út của anh đã đưa vợ chồng anh đi rất nhiều nơi, từ Bến Hải, Quảng Trị, Bắc Ninh, Yên Tử, Côn Sơn…Đi đến đâu, anh lại xúc cảm làm thơ. Kết quả, trước khi trở lại Canada, anh trao cho tôi tập bản thảo hơn 60 bài, lấy tên : “Mậu Tý Cảm Tác”2008

Thế rồi một hôm vào đầu tháng 4-2009, tôi nhận được tin của cô con gái lớn của anh mời tôi đến nhà chơi, “ba con mới về”.Tôi ngạc nhiên vì đây là một điều khác thường.Trước đây,lần nào về, anh cũng cho tôi biết trước cả tháng. Người con gái lớn của anh nói thêm, “ba con về chữa bệnh, muốn gặp bác ngay”.Tôi đến nhà , bước vội lên lầu, thấy anh đã yếu lắm ! Tuy vậy, thấy tôi đến và ngồi xuống mép giường, anh cũng cố ngồi dạy, đọc mấy câu thơ cuối cùng mới làm cho tôi nghe.Giọng anh đã có chiều lạc lõng !

Sau đó tôi còn đến với anh mấy lần nữa, lần cuối cùng thì anh không còn ngồi dạy được.
Cũng vẫn người con gái lớn báo tin cho tôi “ba con đã mất”, đó là ngày 09-5-2009 (nhằm 15-4 Kỷ Sửu), đúng một tháng sau khi trở về.
Thứ Bảy vừa qua, 15-8-2009, nhằm ngày 25-6 Kỷ Sửu (nhuận tháng 5) gia đình cúng giỗ anh Trần Nguyên Anh 100 ngày. Dịp này, chị Anh ngỏ lời nhờ tôi đọc lại toàn bộ các tập thơ của anh để thành một tuyển tập.Tôi nhận lời

.

Chữ Tâm Trong Thơ Trần Nguyên Anh

Tựa đề trên đây là một bài viết ngắn khi tôi tiếp nhận tập bản thảo Mậu Tý Cảm Tác 2008, do Trần Nguyên Anh trao tặng trước khi anh trở lại Canada vào đầu tháng 6-2008. Bài này không viết riêng cho tập Mậu Tý Cảm Tác, song là một cái nhìn chung thu nhỏ lại về thơ Trần Nguyên Anh. Một cái nhìn rộng hơn, qua nhiều chủ đề khác nhau thì tôi đã làm từ năm 1999, năm vợ chồng anh bắt đầu sang cư trú tại Canada do người con gái thứ hai bảo lãnh.
Để thực hiện lời chị Trần Nguyên Anh, tôi nhờ NewVietArt của anh Từ Vũ đăng tải phần tôi viết giới thiệu và sau đó là những trang thơ của Trần Nguyên Anh.

Nơi gặp gỡ đầu tiên giữa Trần Nguyên Anh và tôi là tại tòa soạn Nhật báo Dân Việt, Chủ nhiệm là ông Phương Linh. Anh phụ trách mục thơ trào phúng Trật Đường Rầy, ký Ngứa Nhĩ.Sau này, năm 1971, khi tôi nhận làm Tổng thư ký tờ Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng, cụ Trương Vĩnh Lễ làm Chủ nhiệm, ông Nhị Lang giữ Chủ bút, thì Trần Nguyên Anh nhận lời tôi giữ mục Ngược Xuôi Xuôi Ngược, ký tên Tú Phang.
Là bạn văn chương với nhau trong nửa thế kỷ, nhưng chúng tôi không bận lòng đến chủ nghĩa này hay chủ nghĩa kia trong Văn học. Cái mà chúng tôi theo đuổi nhất, quan tâm tới nhất, đó là cách sống và cách thể hiện vai trò của người cầm bút trong thời đại của mình.
Sinh ra, lớn lên rồi già đi như lúc này, trong bối cảnh lịch sử của dân tộc, gói gọn vào con số 70 năm, đầy nước mắt, đau thương, hận thù và chiến tranh…của từng phận người và của cả dân tộc, của cỏ cây nơi thôn làng, bờ giếng, cây đa và lũy tre, đến đình, miếu và phần mộ.
Người Thi sĩ hôm nay và nhà Chí sĩ của một thời nào đó xa xưa, đã hội ngộ với nhau, qua bài Ca-dao tạm gọi là “Đêm Buồn”:

Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?
Đêm đêm tưởng giải Ngân hà,
Chuôi sao Tinh đẩu đã ba năm tròn !
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ !

Tùy theo cảm thức của mỗi người mà bài Ca-dao này được hiểu như đó là nỗi lòng của một nhà chí sĩ, đêm ngày chờ mong minh chủ xuất hiện. Có người hiểu đó là nỗi lòng của một người tình nhớ người tình. Tuy nhiên, khung cảnh mà bài Ca-dao mô tả lại đưa tôi đến mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan :

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.

Sở dĩ tôi nhắc đến bài Ca-dao “Đêm buồn” và 4 câu thơ trong bài Bước tới Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, là vì xét về chữ Tâm trong thơ Trần Nguyên Anh, anh đã bộc lộ nỗi lòng của mình với nước non không chỉ trong một vài bài, mà là trong rất nhiều bài, đặc biệt trong hai tập : Nước non tâm sự, Diễn khúc dân tình. Tôi đã đọc được ở đây lịch sử đau thương của dân tộc Việt Nam từ năm 1945 và bây giờ ông vẫn còn đang tiếp tục.

Nhiều đêm thao thức đến canh ba,
Nhớ nước thương non lại nhớ nhà.
Cha mẹ mất rồi nên thất thổ,
Anh em chia cách phải vong gia.
(Hoài niệm 1998)

Nước và Nhà hầu như không bao giờ thấy Trần Nguyên Anh để riêng ra, như thể đó là hai chủ đề riêng biệt. Trái lại, hai chủ đề này qua ngòi bút của ông, nó là một tương quan biên chứng. Nước loạn thì Nhà cũng không thể an vui.

Gió nào thương vách tranh thưa,
Mưa nào thương luống cải dưa trổ vồng.
Mấy dâu thương nhớ mẹ chồng,
Bao giờ ngoại chủng thương đồng bào ta.
(Diễn khúc dân tình, 1990)

Nhưng một nỗi đau sâu xa hơn nữa lại là từ người đồng chủng, người trong một nước gây ra :

Đau lòng đất nước Văn Lang,
Âu Cơ mẹ hỡi chan chan lệ sầu !
Trăm con của Mẹ giết nhau,
Sứ quân ngày trước – Cờ lau úa vàng !
Công hầu ! Khanh tướng vẻ vang,
Một nhà vinh hiển chất ngàn xương khô !
Sông Gianh Trịnh – Nguyễn vết nhơ,
Lại thêm Bến Hải đôi bờ cách ngăn !
Thoắt đi hơn hai mươi năm,
Bảy Nhăm thống nhất khó khăn chất chồng.
Xác người vỗ sóng biển Đông,
Hồn kêu ơi ới – chết không có mồ !
Ngàn thu theo sóng vật vờ,
Dạt trôi kiếp sống bơ vơ xứ người !
Mất Quê hương ! Mất Đất trời,
Mất cha, mất mẹ suốt đời lang thang !
Làm dân Do Thái bốn phương,
Trông về Đất Tổ Hùng Vương não nùng.
Bầu ơi ! thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Thơ sầu viết mãi ngổn ngang,
Viết bao giờ hết bàng hoàng nước non ?
Tháng 2-1996
(Trong :Ly hương hoài cảm 2)

Thật thế, hai câu thơ cuối trên đây diễn tả rất rõ nỗi lòng của tác giả với đất nước, mà chiến tranh là một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Cho nên, ở Trần Nguyên Anh, đề tài này cơ hồ như một cảm hứng vô tận giãi bày cái Tâm của ông đến từng số phận con người, đến từng ngọn cỏ, lều tranh. Hầu như Trần Nguyên Anh không bỏ qua một vấn đề gì có liên quan đến con người. Ông có những cảm xúc sâu xa và mạnh mẽ khi viết về chiến tranh, vì chiến tranh là sự hủy diệt, đẩy phận người đến nỗi khốn cùng thê thảm nhất, đắng cay nhất.
Tôi chưa đọc được ở một nhà thơ nào cùng thế hệ với chúng tôi, sinh ra trong thập niên 30, 40 của thế kỷ trước, lại quan tâm đến những vấn đề thiết thân đến phận người và nước non như Trần Nguyên Anh.

Trước ngày ông sang Canada sống với con cháu mười năm trước đây, ông đã trao cho tôi hầu như mọi tác phẩm thơ của ông. Xin được đưa ra đây :

1- Dĩ Vãng Bâng Khuâng : gồm 21 bài thơ trữ tình, 11 bài thơ trào phúng và 2 bài tạp bút. Tất cả viết trước năm 1975.
2- Tình Quê I và Tình Quê II : Tập I có 91 bài, tập II có 56 bài, viết năm 1997.
3- Ngẫm Đau Cố Sự : có 128 bài, thể bát cú và bát cú liên hoàn, lục bát.
4- Ly Hương Hoài Cảm (3 tập) : Viết từ năm 1994 – 1996. Tập I : 61 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Tập II : 60 bài. Tập III : 67 bài.
5- Nhớ Thương Hà Nội : có 59 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Theo tác giả, làm tập này để kỷ niệm 1.000 năm thành lập Đông Đô Thăng Long – Hà Nội (1010-2010) và 300 năm thành lập Sài-Gòn, Tp. Hồ Chí Minh (1698-1998), viết năm 1998.
6- Đời Vô Thường : 59 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Viết năm 1998.
7- Văn Chương Giao Cảm (2 tập) :gồm một số bài xướng họa với các nhà thơ thân hữu, từ 1996-1998.
8- Thơ Vịnh Danh Nhân Việt Nam
9- Thơ Đường Luật Gieo Vần Trắc :70 bài.
10- Sau Cơn Đau Mậu Dần (1998)
11- Tập Hồi Ký.

Lần về Việt Nam thăm nhà, 2008, Trần Nguyên Anh lại trao cho tôi tập Mậu Tý Cảm Tác, hơn 60 bài và 2 bài cũ đăng trên Nhật báo Tự Do năm 1959. Trong số hơn 60 bài này, nhiều nhất là ở vị trí “du khách”,tác giả mô tả cảnh trí nước non Việt Nam ngày nay (25 bài), như thăm Yên Tử, Côn Sơn, Tây Thiên Thiền Viện, (Vĩnh Yên), đền thờ Bát Đế, ở Đình Bảng ( Bắc Ninh ), thăm Chùa Lim Kinh Bắc, thăm Đầm Vạc (Vĩnh Yên), Qua Ga Hàng Cỏ (Hà Nội), Qua Đèo Cả (Phú Yên), Qua Đèo Hải Vân (3 bài),Qua Quang Trị,Cầu Hiền Lương, Qua Đèo Ngang, Nhớ Bà Huyện Thanh Quan, Từ giã thành Vinh cảm tác, Trên bãi tắm Cửa Lò, Nghệ An, Ra Kinh Bắc, Thăm Hà Nội. Đề tài thứ hai là Quê Nhà, 9 bài; rồi đến Tâm sự người ra đi; Tâm sự với nước non; Dân tình ngày nay, Tâm tư; Thời sự v.v… Trong các đề tài này, nước non vẫn là một chủ đề trong suốt hơn 60 bài thơ. Bài nào tôi cũng thấy Trần Nguyên Anh trải rộng cái Tâm của mình ra, giãi bày với cảnh trí thiên nhiên, với quê nhà, với bạn hữu.

Trở về thăm lại Đất Quê tôi,
Hồi tưởng xa xưa có một thời.
Hoa gạo đỏ lừng rơi trước ngõ,
Lũy tre xanh biếc lộng nghiêng trời.
Nhà xưa mất dấu – đầm ao lấp
Đường cũ không còn – ruộng cát bồi.
Mậu Tý soi gương đầu đã bạc,
Ngậm ngùi tâm sự mảnh trăng trôi.
(Về quê hồi tưởng)

Trong những bài viết về Sài-Gòn hiện nay, xin giới thiệu bài “Sài-Gòn ơi! Sài-Gòn ơi!” :

Sài-Gòn đẹp lắm ! Sài-Gòn ơi !
Đổi chủ thay tên, Nước ngậm ngùi.
Bắc Mỹ Quê người – trông tuyết đổ,
Việt Nam Đất Mẹ ngắm mây trôi.
Nhớ về miền Bắc buồn hay tủi ?
Bỏ lại Trời Nam khóc lộn cười !
Gói trọn tình Quê vào sách sử,
Mang sang Bắc Mỹ - Sài-Gòn ơi !
(Tháng 4-2008)

Về đời sống của người dân, ông viết bài : “Kiếp sống dân nghèo”( 2), tác giả viết :

Nước Việt Ba phần dẫu đổi thay,
Cầu đường mở rộng – building đầy.
Dân nghèo thành thị không nhà ở,
Dân khó nông thôn chẳng ruộng cày.
Chồng vợ cha con đi khiếu kiện,
Anh em cô bác sống chua cay !
Lang thang lếch thếch đi cùng khắp,
Phố chợ rừng thiêng – Đảng có hay ?!
(Mùa Hè 2008)

Trong tập sơ thảo viết về thi ca của Trần Nguyên Anh năm 1999, tôi chọn đề tài để nói ngay đến phạm trù chính yếu trong các thi phẩm mà tôi đã nêu ra trên đây. Đó là :

Trần Nguyên Anh
Tiếng Kêu Đau Thương Trong Nền Thi Ca Việt Nam
Hậu Bán Thế Kỷ XX.

Càng đọc thơ của anh, tôi càng thấy chất chứa một tâm sự, môt cõi lòng, một cái Tâm đối với Nước Non, với Quê Nhà và với Phận Con Người trong thời đại của mình, nhiều gian lao và đau khổ.


Sài-Gòn – Việt-Nam
(Ngày 22-5-2008)

© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 22.08.2009 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .