TÁC GIẢ
TÁC PHẨM







. Tên khai sinh là Triệu Công Tinh Trung.
. Sinh ngày 09 tháng 4 năm 1947 tại Sa Đéc, Đồng Tháp. Sống ,đi học,làm việc tại Sài Gòn từ năm lên bảy đến nay;

. Triệu Từ Truyền in tập thơ đầu vào tuồi 15 (tình phượng 15), tập thơ thứ hai vào tuổi 18 (đêm lên cơn dài ), có nhiều thơ đăng trên các báo văn nghệ của Sài Gòn với bút danh Triệu Cung Tinh vao những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20.

. Tổng thư ký Tổng đoàn học sinh Sài Gòn, (Nguyễn Chơn Trung là chủ tịch ).Niên khóa 1964-1965

. Biên tập bán tuần san Vùng lên của hội đồng chỉ đạo thanh niên học sinh, sinh viên (kiến trúc sư Nguyên Hữu Thái là chủ bút)

. Chủ biên đặc san học sinh (1964-1965), nguyệt san Đất Đứng (1965), chuyên san thơ Bộ Lạc Mới (1966).

. Chủ biên các tạp chí Bông Trang của Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Sông Bé (1991 - 1992); Chuyên san thơ Gieo & Mở (NXB Đồng Nai -1995), Kiến thức phổ thông (1988), Nguyệt san giáo dục (2002- 2003) và Trưởng ban biên tập nguyệt san Dân Trí thuộc hội khuyến học Việt Nam(2004).

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Đêm lên cơn dài-bộ lạc mới - Thơ - (1965), nhà xuất bản do Triệu Cung Tinh, Nguyễn Tôn Nhan, Từ kế Tường…chu trương;

. Bên dòng Măng Thít - Thơ - Hội VHNT Cửu Long(1986)
. Dật dờ trong dương -Thơ - NXB Văn nghệ TP. HCM(1990)
. Mảnh vở hồn nhiên -Thơ - NXB trẻ(1994)
. Va chạm như không -Thơ - NXB Văn học- Hà Nội (1999)
. Tuyển Thơ (song ngữ Việt – Pháp) NXB trẻ(2001)
. Mặt Cắt Cõi Ngoài - Thơ -NXB Thanh Niên Hà Nội (2006)
. Truyện dài ; Tương Tác NXB Văn học –Hà Nội (2005)











THUỞ ĐẦU LÀM THƠ

T ôi có tuổi ấu thơ lênh đênh theo sông rạch ở miền Tây Nam bộ, và Sài Gòn bắt gặp tôi năm lên bảy. Vào những năm đầu học trung học, nhà tôi ở thuộc một quận nghèo, có sông rạch bao quanh. Mỗi chiều tôi hay ra bờ sông nhìn những cây dừa nước, cây bần... mọc hoang dại. Tôi thèm nhìn bên kia bờ sông với vài túp nhà lá nhô lên trong biển mạ xanh. Hình như ở tuổi thiếu niên cũng có những hoài niệm ngậm ngùi. Bài thơ học trò được đăng báo đầu tiên có mấy câu:

Trở về quê cũ bình minh

Mấy năm rã nát thâm tình hay chưa?

Mất rồi chứng tích làng xưa

Yêu thương ngày ấy có vừa lòng nhau...

(Tuần báo Văn nghệ Tiền Phong - 1963)

Đó là những lời chữ được xếp theo thể thơ sáu tám (lục bát) nhuốm một chút tâm trạng. Lần sau cũng viết với tâm trạng ấy, song tôi đã khái quát hơn:

Chiều chinh chiến ngủ trong lòng

màu than nhuộm đỏ mấy dòng nước xưa

mộ con đất lấp chưa vừa

nhà hiu quạnh dọn cơm thừa ẩm thiu

người em mắt rã trong chiều

người du mục dựng vẹo xiêu mái lều.

(Nguyệt san Đất Đứng quê hương - 1964)

đến bài thơ này, tôi cố ý không viết hoa đầu câu thơ, không dùng các dấu chấm, phẩy... vì hiểu rằng thơ không phải là văn xuôi, không phải là lời chữ giao tiếp. Đồng thời, nên để bạn đọc rộng cửa sắp xếp câu thơ theo cảm thụ của mỗi người.

Bên cạnh nỗi nhớ mang mang về miền sông rạch nào đó, tôi cũng thường để ý đến các bạn học khác phái, nên đã viết:

Có buổi sáng nào mà không tiếng gọi

bắt hình hài như tượng đá chờ em...

Và:

Dung nhan ấy thưa em xin gói lại

Tôi lặng thầm hôn dấu cát bàn chân...

(Dòng tóc – Đêm Lên cơn Dài/1963)

hoặc:

năm rồi tay mỏi thương đau

em xa một bước đã bao la buồn.

(Em sang năm ---Đêm lên Cơn Dài/1964)

Những câu thơ trên có thể giải đáp được tại sao phải làm thơ. Hơn một ngàn năm trăm trước (1500), trong tác phẩm Văn Tâm Điêu Long, ông Lưu Hiệp đã phân tích:

" ... cho nên tình cảm là cái cơ bản của văn chương, còn lời văn lại là cái phụ thuộc của tư tưởng. Cái cơ bản có ngay thẳng thì sau đó cái phụ thuộc mới thành công được... Đó là nguyên lý cơ bản của việc sáng tác văn học vậy."

Người xưa còn ví von: "người con trai trồng lan đẹp mà không thơm là vì người con trai không có lòng chân thành".

Đó là bước đầu, tôi còn vỡ lẽ hơn, khi thích viết những câu thơ:

người con gái cắm chiếc hoa đỏ dại trên môi

đi thật chậm đến từng hơi thở

một cánh chim sâu lủi qua lủi lại

mặt đất đẩy quả bom về máy bay

người con gái cắn mặt rời như ăn bánh ngọt

(Miền đồng ruộng –Đêm lên Cơn Dài/ 1965)

hoặc:

em buồn nứt cổ rung môi

lời ca cứa sợi xích đời trói anh.

(Ca dao lửa - 1965)

những câu thơ trên viết ra lúc cảm xúc dâng trào, trước những cô du kích Củ Chi và lại được đăng báo ở Sài Gòn mới thích chứ.

André Breton trong thế kỷ 20 có lần đã nói rất hay, con người mô phỏng cái chân để sáng tạo ra chiếc bánh xe, đó là từ hiện thực chuyển lên siêu thực trong văn chương vậy.

Tại sao phải siêu thực? Vì ai cũng nhận rằng chiếc bánh xe có tốc độ vượt trội hơn hai chân, kể cả bốn chân gấp nhiều lần.

Đó là mượn từ "siêu thực" để diễn đạt sự phát triển hình thức, bút pháp của thơ, chớ không nên tuyệt đối tin và theo siêu thực, vì nó cũng rất nhiều hạn chế, lệch lạc. Không khéo đánh mất đi cái gốc của thơ: tình cảm và tư tưởng.

Tôi rất ái ngại khi có những câu thơ có tốc độ rùa bò mà lại gắn bánh xe của ô tô. Nếu câu thơ chỉ đi không quá 5 km/giờ thì nên dùng hai chân vẫn hơn.

Theo tôi ai biết chữ, có kiến thức phổ thông đều có thể tưởng rằng làm thơ được, tuy nhiên những câu có vần hoặc không vần chưa hẳn là thơ. Hơn nữa thơ không chỉ là lời chữ để thông tin, không chỉ là lời chữ để mô tả, để ca ngợi, để trình bày, để tâm sự... Thơ là lời chữ được thử thách qua nhiều chặng đường gian nan của tâm linh; chữ nào đứng được và gắn vào một câu có biên độ lớn lay động lòng người, làm giật mình người đọc mới thật sự là câu thơ hay. Mỗi chữ phải tích được điện thơ:

Anh nằm dưới gốc cây thơ

rễ thơ nuốt nghẹn dại khờ tươi nguyên.

bươi tìm trái chín hồn nhiên

rơi từ đáy mắt những huyền thoại xa

anh nằm trong trái nhớ hoa

hoa khoe nhụy thắm nhạt nhòa nắng hanh

phấn tình đắng - chát - ngọt - thanh

hoảng hồn (giật mình) thu trái anh đành liều thân.

Đây là câu chuyên dài bàn mãi vẫn chưa vỡ lẽ được,vài ý nghĩ đễ các bạn thích làm thơ ngẫm nghĩ thêm.


Trong tập tản văn

NHỮNG CHỮ QUA CÂU TÂM LINH





TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC