TÁC GIẢ
TÁC PHẨM







. Tên thật: Nguyễn Văn Vinh
. Quê quán Bình An, Thuỷ Xuân, thành phố Huế
. Sinh ngày 27 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1952)
. Hiên cư ngụ tại Trần Thái Tông, thành phố Huế

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. NGƯỜI ĐI SĂN HOÀNG HÔN - Nhà xuất bản Thuận Hoá 1995 (tập truyện ngắn)

. NỖI BUỒN KHÔNG DÁM GỌI TÊN - Nhà xuất bản Công an nhân dân 1999 (tập truyện ngắn)

. NGỌN ĐÈN VẪN TỎ - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2006 (tập truyện)

. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2007 (truyện dài)

(Đã đoạt giải văn xuôi trong cuộc thi "Những kỷ niệm dưới mái trường" do Kiến Thức Ngày Nay tổ chức (1998) ; tặng thưởng trong cuộc thi truyện ngắn của Hội Văn nghệ Đồng Nai tổ chức (1996) và nhiều truyện ngắn được các Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Thuận Hoá, Thanh Hoá, Công an Nhân dân, Văn Nghệ TP HCM, Văn Nghệ An Giang, Đồng Nai, Giáo Dục, NXB Trẻ.… chọn in thành tập truyện ngắn nhiều tác giả…)





TRUYỆN NGẮN & TIỂU THUYẾT


ĐẤT SAU MƯA
CÁI TÁT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 4
HAI BÀ MẸ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - - Kỳ 8
KHOẢNG CÁCH EM VÀ TÔI LÀ GIÓ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 9
CHỊ EM SINH ĐÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 10
THẦY CŨ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Kỳ 11
QUẢNG TRỊ VÀ TÔI

























QUẢNG TRỊ VÀ TÔI

T ừ Huế, tôi đạp xe ra Quảng Trị, dắt xe vào xóm trưa vắng vẻ. Mặt trời đã ở đỉnh cao, giội sức nóng xuống vùng cây lá lơ thơ. Cây vườn hồi sinh mười mấy năm trở lại đây chưa kịp tròn bóng mát. Tôi xa Quảng Trị năm mười một tuổi, về thăm khi đã gần năm mươi. Thời gian chưa đủ bãi bể hoá nương dâu, nhưng sức tàn phá của chiến tranh, biến cái xóm nhỏ của tôi thành xa lạ, đến đất đai cũng chẳng còn chút thân quen. Tôi trôi vào tâm trạng buồn bã, lạc lõng ngay nơi chốn mình đã sinh ra.

        Dòng hồi tuởng như chảy từ cổ tích, hiện trong tôi chấp chới những người thân quen, có người thành thiên cổ. Bác Đỗ Sung - cha Thạch - bạn tôi. Tính bác khoan hoà, nhân ái. Những lần tôi hoang nghịch, ba tôi bắt nằm xuống đất, trót roi mây vào đít là bác đứng ra xin hộ cho tôi:

        - Anh xin chú, cho cháu mắc nợ lần này, lần sau đánh gấp đôi - Bác nhìn tôi nháy mắt - Đứng lên xin lỗi ba rồi đi rửa mặt, nhanh!

        Tôi khoanh tay xin lỗi ba tôi. Cám ơn bác. Sau đó thút thít đi trong nhuề nhoà nước mắt, xuống bếp. Tai tôi vẫn nghe ba tôi dằn tức bực, phân bua với bác Sung:

        - Anh coi, đêm mô nó cũng trốn ra rạp Đại Chúng coi cọp xi-nê cao bồi, xi-nê thần thoại Ấn Độ, rồi bắt chước cao  bồi quăng dây vào con người ta đang ngồi sau yên xe đạp và chạy theo giựt dây như phi ngựa, bố thằng bé không hay biết vẫn đạp nhanh, dây trặt thằng con ông ta té oạch giữa đường. May tôi thấy chớ không ba thằng bé đánh nó chết rồi. Tôi không đánh nó có ngày người ta đánh nó toi mạng.

        Bác Sung ngồi nghe, ve vuốt ba tôi ít câu rồi về nhà.

        Gần đầu xóm Heo, nơi tiếp giáp đường Quang Trung thuộc phường Đệ Nhị, có ông Tẩu. Ông già lụ khụ rồi mà còn làm cái nghề tôi cho là gớm ghiếc, nhưng luôn gợi tính hiếu ký lũ trẻ chúng tôi. Ông nuôi nhiều đĩa trâu trong ống tre, giam dói hàng tháng. Ai bị nhọt đều đến nhờ ông lấy máu độc ra. Ông chúc đầu ống tre xuống nơi nhọt sưng tấy, con đỉa đói hút căng phồng bụng máu, ông rứt đỉa ra, thả nhúm muối lên các cái thân nhớt lầy đen láng ấy, con đỉa quằn quại phun máu ra, chờ đỉa xép ve, ông lại cho đỉa vào ống tre cất giữ, dùng lần sau. Ông thường đuổi, doạ chúng tôi, chúng tôi tò mò không chịu đi, thỉnh thoảng ông bắt đựơc một đứa, giả vờ cho đỉa hút máu...thằng cu vùng ra được, mặt tái lét chạy te, vừa chạy vừa khóc hu...hu...về nhà.  Lũ chúng tôi đứa nào cũng sợ ông Tẩu, nhưng lại thích lân la đến gần cái thân cọm rọm, hôi hôi của ông vì ông có nhòêu ngón nghề đễ sợ mà lạ đời luôn hấp dẫn đầu óc non trẻ chúng tôi.

        Còn bác Mót cạnh nhà bác Sung dễ nực cười bởi tưóng người phốp pháp, da thịt mát mẻ, béo tròn hin một cục. Nhà bác làm nghề mổ lợn. tính vác xuề xoà, luôn vui tươi; trên khuôn mặt nần nẫn thịt của bác không hề bợn chút phiền toái. Bác Mót vô tư, tự nhiên như cây cỏ, buổi sáng bác chạy xuống hói đi đồng, khi nào bác cũng đợi Tào Tháo đuổi mới chịu lạch bạch chạy...và thả lại trong tai bọn chúng tôi một tràng...chúng tôi đỏ mặt nhìn nhau cười rúc rích.

        Tôi đang lẩn thẩn chìm trong dĩ vảng giữa ngày trưa đầy nắng. Gặp anh trung niên dong dỏng cao đi tới, tôi dón và hỏi thăm nhà bạn bè. Anh nhiệt tình cho biết người còn, nguời mất, người đi xa, nguời ở gần, nhưng không còn ai ở xóm Heo náy cả. Anh mới ở sau chia tỉnh, nhưng anh biết  những người bạn cũ của tôi vì cũng là bạn anh thời học trường Nguyễn Hoàng gần bến xe. Anh nói:

        - Tụi nó ở ngoài Đông Hà ơ. Thạch đóng thùng ô tô, làm nước đá. Quang nhà thơ bán cháo bột, anh ra hỏi anh em trên phường Năm ai cũng biết.

        Từ giả anh tôi ra Đông Hà. Lủi thủi một mình tìm bến sông xưa sang sông Thạch Hãn. Nơi mẹ tôi tắm tắp những ngày hạ, cùng bạn gái trang lứa mười bảy, mưới tám tuổi vẫn tắm truồng, bởi thời ấy thế hệ mẹ ngây thơ trong sáng, không biết tụi tây đóng đồn gần đó, tranh nhau bắt ống nhòm, nhòm...Và cũng là nơi tôi ngụp lặn thoả thích trong lòng nước mát, quên những cơn gió Lào bỏng rộp rôm sảy trên da. Bến tắm nhiều đá cuội và nước trong veo. Dòng sông chảy dịu dàng mát ngọt vào đời tôi. Sau này tôi hụp lặn bất cứ dòng sông nào, tôi cũng nhớ dòng sông Thạch Hãn, một nỗi nhớ như nhớ bà mẹ quê hương, luôn trào dâng niềm nuối tiếc ngậm ngùi...Tôi đứng bần thần trên bến sông xưa, nay cũng mất sạch dấu vết, chỉ còn bến đò ngang, một chiếc đò rời rạc đưa khách sang sông. Sát bến đò là khu chợ Quảng Trị. Khu chợ sang trọng này xây dựng từ đổ nát điêu linh, trổi mình nghiêng bóng lung linh bên dòng Thạch Hãn, phác một nét hoành tráng ven sông, hợp với tính cách ngoan cuờng và cần cù của người Quảng Trị. Dắt xe xuống đò, tôi thả hồn theo từng mái chèo khoan nhặt của bác lái đò, đò chưa cặp bến Nhan Biều mà lòng tôi đã chạm vào kỷ niệm...Dải biền bên kia sông thuở xưa ngun ngút rừng bắp, bây giờ mơn mởn rau, đậu, cải...Dọc biền này hàng năm đuợc những cơn lụt tô bồi phù sa, mảnh đất đa dạng sinh thái phồn tạp, thổ nhưỡng màu mỡ, rất tốt cho các loại hoa màu và cả dựng vườn cây trái lâu niên. Hồi đó tôi và em trai kế tôi cùng lũ bạn xóm bơi qua Nhan Biều bắt dế và bẻ trộm bắp non, bị mấy thằng chăn trâu bên đó rượt đuổi. Khi bơi về, em tôi bị chuột rút chìm nghỉm chỗ sâu, tôi lặn theo cứu em nhưng bị uống nước, ngộp thở đành trồi lên la: "cứu...cứu em tôi với...". Một anh thanh niên đang tắm sông đã cứu em tôi, vác em tôi chúc nguợc đầu xuống đất chạy quanh cho nước ộc ra và sau đó làm hô hấp nhân tạo. Em tôi thoát chết đuối. Tôi bị bầm mông vì trận đòn của ba tôi! Cho tới bây giờ tôi chưa gặp lại anh ấy. Nhưng tôi mang ơn cứu tử của anh, người con Quảng Trị. Anh ơi, bây giờ anh ở đâu? Anh cho tôi gửi đến anh lời cảm tạ chân thành vang vọng từ đáy lòng tôi giữa chốn mênh mông sông nứơc này.

        Trước đây mỗi khi tôi ngang qua Đông Hà, tôi có cảm giác thị xã đầy bụi và nắng; khu chợ lấp thấp vạt tôn gỉ, ngoi lên, tụt xuống không lớp lang thứ tự bên sông Hiếu. Nay, chợ Đông Hà mới xây bề thế tầng cao, người người nhộn nhịp trong cảnh sầm uất. Và, Đông Hà bừng lên trong không khí xây dựng, nhà nhà lộng lẫy. Đông Hà cũng từng tang thương, sập nát dưới mưa bom, bão đạn, hằng năm còn trần thân, với khô khát, bão lụt khắc nghiệt của thiên nhiên. Người Quảng Trị đã và đang chung lưng đấu cật, cung chia gian nan, khổ hạnh dựng lên trên mảnh đất này một thành trì của nhân cách của lòng dũng cãm và sự chịu đựng trường kỳ, dẳng dói một cách đáng nể, để hôm nay có một thị xã trẻ trung với vóc dáng hiện đại, đầy sức sống, phồn thịnh và chan chứa tình người. Cây xanh trên các ngã đường đang ngấp nghé xanh, mai đây sẵn sàng xoè tán mát cho người. Thị xã đầy bụi và nắng sẽ theo chuyến tàu quá khứ chạy chìm vào quên lãng.

        Tôi tìm nhà các bạn tôi không mấy khó. Các bạn ngần này tuổi đầu ai cũng có chút danh thơm loang trong thiên hạ. Thạch cẩn trọng đăm chiêu. Quang dận dày bão tố, khuôn mặt sần sùi của Quang nói lên một quãng đời khổ ải. Ba đứa chúng tôi quây quần chuyện vãn suốt buổi. Nhắc cho nhau biết những nhau biết những đứa đang ở rải rác các tỉnh. Thành phố miền Trung như Nguyễn Thái Sơn bán cà phê ở quán Thiên Đàng Huế. Phạm Đình Quát nhà báo, bác sĩ Nguyễn Thái Viện dịch tễ Buôn Ma thuột... đều sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị. Đến nay đứa nào cũng có sản nghiệp khấm khá, chỉ tôi và Quang còn xất bất chuyện cơm áo. Khi chưa gặp nhau, tôi tưởng chúng tôi sẽ ùa vào nhau nói năng sỗ sã cho thoả lòng bao năm xa cách. Nhưng khoảng cách gần bốn mươi năm gặp lại kìm chúng tôi giữ gìn ý tứ với nhau. Ai cũng lớn cả rồi, đâu dám buông tuồng suồng sã như thuở thiếu thời. Tôi ăn ở nhà bạn nào cũng dược nhưng ở lại với ai thật là khó xử. Ở Quang buồn Thạch. Ở Thạch sợ mang tiếng chê Quang nghèo.Thôi thì rũ Quang ngủ chung với tôi ở nhà Thạch. Đêm ấy, khi chui mùng lên đi văng ngủ, tôi định chiếm chỗ ở sát tường, giành cho tôi một góc tự do, ai dè Quang cũng ngại nằm giữa, đã giành chỗ sát tường. Thuở nhỏ, chúng tôi ôm nhau ngủ qua đêm là thường. Đây có phải thái độ tôn trọng nhau hay không? Tôi nhăn nhó nói với Quang :'' Ông cho tôi nằm trong đi ''.Quang cười hê... hê... ''Mình cũng thích nằm trong vì hay gác lắm, có gì gác vào tường ''. Đêm ấy, tôi không ngủ được. Xoay qua bên nào cũng ngại làm phiền bạn. Quang, Thạch cũng nằm thẳng tắp, im re, hai bạn cũng không ngủ được? Thì ra, con người càng lớn càng dè dặt nhiều điều. Năm tháng chồng chất, dạy người ta thận trọng trong quan hệ, đối đãi với nhau chừng mực và lễ nghĩa hơn.

         Tạm biệt Quảng Trị, quê hương thơ ấu của tôi, nơi đã sinh ra tôi lớn dậy làm người. Tạm biệt bạn bè quấn quýt một thuở, giờ này vẫn còn lưu luyến, thương nhau đến bạc đầu. Tôi đạp xe vào Huế lòng hân hoan...                       

 

                     


© Bản Quyền của Tác Giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC