TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




. Sinh năm 1939
. Tại Tuy Hòa
. Nghề nghiệp: dạy học, cầm súng, cầm cuốc...
. Hiện tại : Hưu trí tại Pháp .

* TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Đường Ta Đi , giải văn học 2004 do hội Quốc Tế Y Si VN Tự Do tặng





ĐOẢN VĂN & TRUYỆN

HỎA HOẠN
NHỮNG VẬT DỤNG BỊ BỎ QUÊN
TAM THẬP DƯ NIÊN HẬU




NHẬN ĐỊNH

VÀI Ý NGHĨ VỀ LỐI VIẾT TRUYỆN NGẮN CỦA NGÔ PHAN LƯU




ĐƯỜNG TA ĐI
Truyện Dài của Đặng Đình Túy - 2006












 





Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ







TAM THẬP DƯ NIÊN HẬU

đất Tề, đời Thiệu đế có gã nhạc sĩ hát không hay và đàn không giỏi. Bọn hạ nhân lúc đầu nghe đến tên chàng đều bỉu môi chê bai : "Lũ chúng ta chưa bao giờ biết một nhạc sĩ mà giọng hát như nước lỗ cống chảy và tiếng đàn thì như cát vãi vào bãi sậy. Ở đời sao lại có những anh bất tài đến vậy mà dám lớn lối tự cho mình là bậc tài tử ?". Lời dèm xiểm có khi đến tai, nhạc sĩ chỉ quay mặt giả vờ không nghe thấy. Nhưng có lần một kẻ kia, áo khǎn coi ra điều chững chạc tìm đến vái chào và xin nhạc sĩ tấu cho nghe vài bản mà người cho là đǎ́c ý nhất. Thấy kẻ lạ, lại nhận thấy dáng vóc cũng ra chiều nho nhã, nhạc sĩ bất đǎ́c dĩ mời vào, dạy tiểu đồng pha trà ngon, dâng mỹ tửu, đốt trầm thơm, đoạn mở hòm lấy cây hồ cầm bǎ̀ng gỗ quí đã mấy đời truyền lại tự nhiều tay danh cầm nghìn nǎm trước. Đã từng soạn hàng trǎm khúc bi ca, hàng vạn lời xưng tụng tùy theo tâm cảm từng lúc, thương yêu đǎ́m đuối lǎ́m lǎ́m mà sầu đau ê chề cũng dǎ̀ng dặc không nguôi, cho nên khi có kẻ xin thưởng thức, nhạc sĩ chỉ việc gãy lên tiếng tơ tùy theo cảm hứng lúc bấy giờ. Kẻ đối diện cung kính cúi đầu lǎ́ng nghe nhạc sĩ càng cảm thấy nguồn hứng khởi tuôn tràn đến tận mỗi đầu ngón tay và tâm hồn như rộng mở, tấu hết khúc này đến khúc khác ; trong cơn cao hứng lại cất tiếng ca hòa theo điệu nhạc. Đêm dài cơ hồ đã vơi, bầu rượu cũng cạn, tiếng gà eo óc đâu đó báo hiệu sang canh. Người đối diện ngẩng đầu, lễ phép xin nhạc sĩ ngưng đàn đi nghỉ vì trời sǎ́p sáng đến nơi. Vốn là một kẻ khiêm cung, chưa bao giờ nhạc sĩ đặt câu hỏi với kẻ thưởng thức sự đánh giá về những sáng tạo của mình nhưng hôm nay, đứng trước trang thiếu niên anh tuấn nho nhã, lại thấy y chịu khó ngồi suốt đêm thâu để nghe mình, nhạc sĩ tưởng chừng đã nǎ́m chǎ́c quá nửa tâm tình người đối diện, nghĩ rǎ̀ng y phải hâm mộ mình lǎ́m mới quên lửng đi mệt nhọc của đêm dài. Biết đâu chǎ̉ng là duyên Tử Kÿ gặp được Bá Nha ? Chàng e dè cất tiếng: "Kẻ hèn này muốn xin hỏi quí nhân, không biết có nhận ra được đôi điều khả dĩ làm đẹp dạ chǎng ? " Kẻ nọ ngần ngừ : "Tiên sinh đã cho phép thì cũng xin tỏ bày ngu ý, thú thật, có lẽ bản thân chưa được thướng thức điều hay điều lạ nên nghe ra dường như có chỗ khó thâm cảm. Vả chǎng, nơi kinh đô - chốn mà kẻ hèn này trú ngụ - cũng có vô số bậc tài hoa tiếng đàn như nước đổ xuống lòng thác, như vó ngựa xé gió giữa chiến trường mà lời ca khi bi tráng tưởng tiếng khóc của sương phụ tiếc chồng, con chim non mất tổ cũng không ai oán bǎ̀ng ; ngược lại khi vui tươi lảnh lót thì giọng loài họa mi liếng láu, hơi gió vi vu trên ngọn trúc buổi chớm sang xuân dù đầy ǎ́p ưu ái hoan lạc tưởng cũng không thể nào tày được. Tiểu sinh đến đây lòng hâm mộ có thừa, đã cùng tiên sinh thức trǎ́ng một đêm dài những tưởng nǎ́m được đôi điều thâm sâu của nghệ thuật, nào ngờ mình có lỗ tai vô duyên, trái tim lãnh cảm thật đã phụ lòng đại nhân nhiều quá !"  Nói xong chǎ̉ng đợi cho kẻ nọ đáp lời, đã vội vã vái chào rồi quày quả bỏ đi không chờ cho ánh sáng ngày kịp đến, sương mù kịp tan. Còn lại một mình nhạc sĩ ngẩn ngơ không biết là đang phẫn hận hay đang thất vọng. Chàng rùng mình vì cơn gió heo may buổi sớm, lặng lẽ quay về thư phòng, nhìn sững ngọn nến lay lǎ́t sǎ́p tàn, chợt nhận ra trên chiếc sập gụ bên cạnh chồng gối ngũ sǎ́c dùng để khách tựa mình, chiếc tín thiệp có hàng chữ rồng bay phượng múa kèm dấu triện son tướng như còn óng ánh nét mực chưa khô. Thì ra đấy là tay biện thuyết khét tiếng chốn Tràng an mà một lời phán xét có thể giúp cho nghệ nhân trong bước đầu chỉ phút chốc đã chễm chệ thót lên ngôi cao của giới tài tử hoặc cũng chỉ phút chốc thôi, bị dìm sâu xuống đáy vực của lãng quên dù tài nǎng đã từng được người đời biết tới. Cái lịch lãm quán chúng cùng miệng lưỡi đanh thép của y khiến bất cứ kẻ nào trong làng nghệ thuật đều nhất nhất, nếu không xun xoe phỉnh nịnh thì cũng dè dặt lời ǎn tiếng nói, bǎ̀ng không e rǎ̀ng có lúc phải phơi xác dưới ngọn bút lông mềm mại mà tưởng như có ngàn mũi thép nhọn đó.

Sau hôm người khách đến viếng, nhạc sĩ buồn rầu ngã bệnh. Không phải chàng e ngại dư luận quần chúng (điều ấy chàng chǎ̉ng xem là quan trọng vì người làm công việc sáng tạo trước nhất là cho chính mình) nhưng điều nguy hiểm là từ trước đến nay, ít ra chàng cũng đã tự lấy làm bǎ̀ng lòng, thường là đối với tác phẩm vừa mới chào đời (tựa niềm vui người mẹ khi cho chào đời đứa trẻ bà cưu mang từ chín tháng qua) bây giờ chàng bổng nghi ngờ chính tài nǎng mình (như bà mẹ không bǎ̀ng lòng về đứa con mới sinh ra : đã có bà mẹ nào cảm thấy như vậy không, dù là đối với một trẻ sơ sinh tật nguyền ? ) Điều lạ là ngày trước nếu bị chê bai, nhạc sĩ không hề hoang mang nghi hoặc, đôi khi nếu nhận thấy kẻ phê phán có chút ít hiểu biết, chàng cũng gượng dừng lại lên tiếng thanh minh : "Ta là nhạc sĩ, ta có phải là nghệ nhân trình diễn đâu. Ta chỉ là kẻ sáng tạo. Các ngươi mong cầu kỹ xảo ư ? Kỹ xảo nhiều khi là kẻ thù của nghệ thuật ; quá trau chuốt, quá thôi xao e lại đánh mất cái hồn nhiên của tâm thành. Nhưng nếu muốn kỹ xảo thì đấy : ca nhân là kỹ xảo của tiếng hát ; nhạc công là kỹ xảo của tiếng đàn. Nhưng ta đây ta chỉ vụ ở tấm lòng. Cái rung động trong lòng có lúc thô vụng nhưng vẫn cuốn hút được kẻ thu nhận, nếu ngươi không thu nhận được là bởi ngươi không có một tấm lòng !" Nǎ̀m rủ liệt trên giường, chàng ôn lại những lý luận của mình và tự hỏi : phải chǎng kẻ ấy cũng thiếu một tấm lòng ? Khó mà tin như thế. Nhưng nếu không tin như thế thì chàng sẽ phải phủ nhận toàn bộ sự nghiệp mình, mọi sáng tạo của chàng tất phải ném hết vào sọt rác ư ? Và bǎ́t đầu lại. Nhưng với cảm hứng nào ? Với đường hướng nào ? Niềm hứng khởi, những rung động vang vọng trong mỗi tâm hồn chúng ta chúng không hề được chọn lựa bởi lý trí. Ta chưa hề biết tại sao ta buồn ; ta không hiểu vì lẽ gì ta vui. Nhưng chính cái hồn nhiên tự phát trong ta chúng lặng lẽ đón nhận (như những cánh hoa mở cánh đón nhận giọt sương sớm) những hồi vui, khúc buồn mà chǎ̉ng cần lý trí ta điều động. Và khúc ca ta sáng tạo, đường tơ ta nỉ non, chúng từ đâu tới ta chǎ̉ng hề biết, ta chỉ nương theo sự rung động của tâm hồn như người họa sĩ nương theo đà của bàn tay đưa đẩy ngọn bút lông... Nhạc sĩ rủ rượi không thiết ǎn uống, không buồn rớ tới những cây đàn mà người từng nâng niu trân trọng, mối thất vọng đã lột trọn sức sống của chàng như ngày xưa đã một lần, khi người con gái duy nhất mà chàng yêu (và chàng tin rǎ̀ng kẻ ấy cũng yêu chàng) bỏ ra đi. Tên tiểu đồng nín lặng dưới nhà nhưng vẫn lǎ́ng tai nghe ngóng dò chừng từng hơi thở của chủ nhân. Vùi mình trong đống chǎn gối từ ngày nọ sang ngày kia, rồi một hôm sực tĩnh, chàng thét gọi bọn người làm : "Rượu ! Rượu ! Hãy mang rượu lại cho ta" Mềm môi chàng uống hết nậm rượu này đến nậm rượu khác cho đến khi không còn ý thức được gì nữa. Rồi chếnh choáng ra đi.

Con đường nhỏ mầu thổ hoàng dẫn về hướng núi, chạy giữa những cánh rừng, xa là xám nhạt rồi xanh chàm, gần là lục thǎ̉m, uốn lượn ven bờ con sông nhờ nhờ đục, lau sậy run rẩy lǎ́t lay. Bên kia bờ con sông ấy nơi có chiếc cầu gỗ cong sơn son bǎ́c qua, bọn thương nữ vẫn đêm đêm vui chơi ca hát, tiếng sên phách vang vọng lúc xa lúc gần khiến ngôi làng nhỏ bé tĩnh mịch thỉnh thoảng chau mày vì nghe động ý thức đạo đức cúa nghìn nǎm vǎn hiến. Mặc kệ ! Những nàng kỹ nữ vẫn cong cớn trêu chọc khách qua đường :

Hãy dừng đây chàng say ơi

Mà điên cuồng lơi lã

Đón muôn đời thanh sǎ́c ngã trong vòng tay

Liễu xinh xinh thon dáng

Liễu cong đôi nét mày

Rồi mai đây

Thuyền buộc sông sâu

Ngựa dừng trǎng khuyết…

...Xin bẻ thuyền quay lái

xin giục ngựa quay đầu

Về cùng chúng em

buồng xuân chờ cửa sổ

khóm trúc đợi thay màu..

Khách đã đi xa rồi vẫn còn nghe kèo nài:

Đêm hoa đǎng vǎ́ng chàng thoi thóp lửa

tiếng đàn tiên rời rạc khúc thiên thai

Dừng nơi đây

mưa gió lạnh bên ngoài

(Vũ Hoàng Chương)

Nhạc sĩ ngất ngưởng ném cho tên lái đò mấy quan tiền, không chờ cho hǎ́n kèm sát vào bờ đã bước đại lên cỏ khiến thuyền chòng chành kéo cả hai rơi tòm xuống nước. Khi hai người, quần áo ướt sủng, lóp ngóp bò lên bờ đã thấy một nữ lang đứng đấy từ lâu, che miệng cười. Thoáng chốc nàng lấy lại vẻ nghiêm trang mời chàng ghé qua nhà sưởi ấm, tiện thể hong khô quần áo. Đồ chừng nàng cũng chỉ là một trong những người con gái chiêu khách, nhạc sĩ bǎ̀ng lòng theo nàng về, định bụng bày cuộc mây mưa để quên nổi bực bội từ mấy ngày qua. Loanh quanh qua mấy lối nhỏ thấy nhà nhà đều quay tơ ươm tǎ̀m, thì ra đây chǎ̉ng phải là xóm chị em như chàng tưởng. Cuối cùng họ rẻ vào một ngõ vǎ́ng hai bên dậu được trồng toàn cây dâu nuôi tǎ̀m. Hoa cúc nở vàng suốt mái hiên ngoài và một gốc liễu ủ rủ nghiêng mình che gần kín ngôi thảo trang. Vừa bước vào nhà chưa kịp phân chủ khách, chàng đã run lên bần bật, nữ nhân cuống quít cởi phǎng quần áo ướt của nhạc sĩ lấy chǎn màn trùm kín thân thể chàng và đốt lò than hồng đặt vào dưới chỗ giường nǎ̀̀m. Nhạc sĩ thiếp đi trong cơn mê...

*

Nǎm mười bảy tuổi, nhân một buổi đi lễ chùa, nhan sǎ́c nàng Lục Chân lọt vào mǎ́t một hạ quan chuyên việc sǎn tìm gái đẹp dâng vua. Những tưởng ít nữa nhờ ơn mưa móc hǎ̉n được sống đời gấm vóc lụa là; và biết đâu nếu gặp duyên có được mụn con trai (nghe đâu nhà vua đã có đến hai vợ nhưng chǎ̉ng bà nào mang lại được cho đức vua một hoàng nam) thì rất hy vọng trở thành hoàng hậu ; nhưng tháng đợi ngày mong, xe dê chỉ đôi lần ghé bến mà chǎ̉ng thấy kết nụ đơm hoa. Thấm thoǎ́t nàng đã xấp xỉ ba mươi. Những cô gái cùng thời đã dần dần hoặc xin về khoác áo nâu sồng tìm quên với tiếng mõ câu kinh, hoặc do chính nhà vua ban cho các cận thần gọi là để tưởng thưởng công lao. Lục Chân không thuộc vào hai thành phần vừa kể. Nàng vẫn còn sống trong khu của những nàng cung nữ trông chờ ; nhưng tất cả họ còn là những đóa hoa hàm tiếu thuộc đợt tiến dâng cách hàng chục nǎm sau. Họ còn tươi mơn mởn, còn lanh lẹ như sáo, ngây thơ như nai, riêng nàng thì đã mỏi mòn, cơ hồ không còn trông đợi gì ngoài cuộc sống nhà tu. May thay, một võ quan hiếu sǎ́c mê nàng đǎ́m đuối đã mua chuộc tên thái giám cai quản đội cung nữ tìm cách cho nàng trốn thoát khỏi hoàng cung. Viên võ quan vừa rước nàng về chưa kịp hưởng hương vị ái ân đã nhận được lệnh phải cầm binh đi dẹp giặc ở miền biên thùy và tử nạn ngay trận giao đấu đầu tiên. Nàng Lục Chân bơ vơ đành tìm về bản quán nhưng bố mẹ nàng quá buồn phiền vì mất đứạa con gái duy nhất đã theo nhau qua đời, để lại cho nàng ngôi nhà cổ ba gian giữa phường dệt lụa ươm tǎ̀m. Nàng đành học nghề này để tự nuôi thân. Tuy là gái nhưng là cô con gái duy nhất nên nàng được ông đồ, thủơ sinh thời, cưng chiều hết mực. Bà đồ quanh nǎm cực nhọc nhưng cũng như ông, bà quí cô con gái vô cùng. Nhiều khi ngǎ́m cô con ngây thơ nũng nịu bà thầm tiếc : ²Ước gì nó là con trai..² Ông đồ lại nghĩ khác. Dù trai hay gái, con ông vẫn là con ông. Ông dạy dỗ Lục Chân chǎ̉ng khác gì dạy dỗ một đứa con trai, chỉ thiếu có phần binh sách kiếm cung là ông không nghĩ tới thôi. Lên tám, Lục Chân đã làm bài thơ tứ tuyệt đầu tiên. Nǎm mười ba tuổi những bài phú của nàng lời vǎn trau chuốt, lý luận thông tuệ khiến ông đồ mỗi lần có bạn bè đến thǎm đều hãnh diện mang ra khoe. Dù với tình thương sâu đậm của bậc cha mẹ nhưng hai người vẫn chưa khám phá hết được giá trị của đứa con yêu duy nhất. Ngoài cái thông minh lý trí, Lục Chân còn một thứ thông minh khác mà ông bà đồ vì quá thật thà chơn chất nên không nhận ra, đó là tính mẫn cảm. Một thi bá thời nay gọi nó là cái nghiêng tai kỳ diệu . Phải có được khả nǎng nghiêng tai kỳ diệu thì người ta mới biết được ngọn thu phong châm chích ra sao trong trái tim keạ cô quạnh. Phải có được khả nǎng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới nhận ra những run rẩy của lá cành non, cái rì rào hớn hở của tia nǎ́ng sớm. Phải có được khả nǎng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới nghe được hơi thở của loài côn trùng, nỗi bồi hồi trên mỗi ngọn gai ốc nǎ̀m dưới làn da xuân thì. Phải có được khả nǎng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới thấu được điệu buồn trong lời vui, giọt nước mǎ́t dấu đàng sau nụ cười. Cho nên ông đồ hãnh diện vì sự thông minh thuần khiết của đứa con gái mà không ngờ rǎ̀ng xa hơn nữa, sâu hơn nữa là những cảm nhận tinh diệu chỉ khiến đời con ông hiu hǎ́t u buồn.

Đã gần hết tuần trǎng, người thanh niên đa tài nǎ̀m thiêm thiếp trên chiếc giường duy nhất của nàng. Để sǎ̃n sàng cho mọi bất trǎ́c, nàng phải kéo chiếc trường kỷ đến kề bên giường, gục xuống đấy trong giấc ngủ chập chờn. Đêm này qua đêm khác, đến lúc quá mỏi mệt nàng thiếp đi. Cũng chính vào lúc ấy, nhạc sĩ tỉnh lại, sau cơn toát mồ hôi đầm đìa. Chàng nghe như thân xác nhẹ nhỏm, sảng khoái, nếu không cảm thấy bụng dạ trống rỗng chàng tưởng có thể vùng dậy chạy nhảy hát ca. Muốn ngồi lên nhưng không nhấc đầu nổi, chàng ngạc nhiên nhận ra mình mất hết sức lực dù tinh thần sáng suốt. Nhìn sang bên cạnh, nữ lang xinh đẹp mà dường như chàng đã trông thấy trong một giấc chiêm bao nào đó đang ngã mình mê mệt, mớ tóc mây bết mồ hôi nhưng làn môi hé mở nụ cười vu vơ và xa một chút trên chiếc lò than, một siêu thuốc còn rập rình sôi. Chàng chợt hiểu, say đǎ́m ngǎ́m nàng. Mỹ nhân dường như có linh cảm gây bởi dòng nhân điện, mở bừng mǎ́t vừa vui mừng vừa hốt hoảng :

- Quân tử đã tỉnh ! Thiếp lo quá, mặc dù đổ rất nhiều nhân sâm nhưng quân tử vẫn mê mệt ..chỉ mong thấy chàng hồi tỉnh, lấy lại được chân khí...

- Xin nàng đừng quá bận lòng. Bỉ nhân vô tình đã làm phiền nàng quá nhiều.

Họ làm quen nhau và nàng khám phá ra chàng chính là người nhạc sï tài hoa mà nàng từng hâm mộ dù chưa gặp mặt. Trong cung cấm, những khúc điệu có khả nǎng vỗ về tâm hồn nàng mạnh mẽ nhất, sâu thǎ̉m nhất luôn luôn là những sáng tạo do chàng, nên dù có lệnh cấm của nhà vua, bọn cung nữ vẫn chuyền tay nhau thưởng thức. Từ đó họ sống với nhau như đôi uyên ương, không rời nhau nửa bước. Chàng cảm động thấy nàng kính trọng và hâm mộ tài nǎng mình, đối lại với lối chê trách nặng nề của tay phê bình gia lỗi lạc một lần tìm đến. Nghe chàng kể, nàng cười rộ, khinh bỉ : hǎ́n chỉ là tên tay sai của nhà vua, hưởng bổng lộc tràn đầy nên dù phải nói ra những điều trái lòng hǎ́n vẫn không từ. Với khả nǎng nhận định sǎ́c sảo, hǎ́n không thể nào không nhận ra tài nǎng lỗi lạc của chàng, nhưng vì những điều chàng ca tụng là những điều cấm kỵ nên hǎ́n không có quyền nâng đỡ chàng. Để chứng minh tầm phổ biến của âm nhạc chàng sáng tạo, nàng đã hát cho chàng nghe mọi khúc ca do chàng soạn ra và đã được phổ biến trong quần chúng. Nhờ vậy chàng dần dần lấy lại được sự tự tin.

Thời trǎng mật tưởng như vô cùng tận. Tấm thân thể nõn nà của nàng đã cho phép chàng trầm mình vào đấy không hề chán chê. Làn tóc mây như giòng sông đêm đen êm ái chảy qua hồn chàng, ru chàng vào giấc miên du. Chàng thú nhận rǎ̀ng lần đầu trong đời chàng biết hưởng vị ngọt ngào thân xác, nàng giải thích : niềm hoan lạc chỉ có thể tìm thấyy khi có sự đồng cảm ; không đồng cảm làm sao có hoan lạc được ? Có điều lạ là từ khi họ sống bên nhau, chàng không nhận thấy cần đến nhạc đến thơ nữa. Nguồn cảm hứng bị cǎ́t đứt. Vì chỉ sống bf̀ng tình cảm và với bản nǎng hồn nhiên đón nhận những gì cuộc sống đưa đến cho mình, chàng không cần phân tích, không tự hỏi tại sao. Nhiều lần nàng có ý định nhǎ́n bảo người nhà của chàng mang đàn đến, nghĩ rf̀ng biết đâu nhờ tiếng đàn câu hát mà niềm hứng khởi có thể được nhen nhóm trở lại, nhưng chàng gạt đi : "Chính nàng là âm nhạc là thi ca của ta, tại sao ta phải nhờ đến cây đàn, tiếng phách ? Ta cần tìm đâu nữa ?" Tuy nhiên, cái khả nǎng "nghiêng tai kỳ diệu" của Lục Chân đã giúp nàng bǎ́t mạch chỗ lung lay của chiếc cầu tình ái. Nàng hồi hộp chờ đợi giây phút mà nàng không còn là hiện thân của câu ca tiếng nhạc trong hồn chàng nữa. Nàng tự biết tình yêu gái trai đối với chàng chưa đủ ; chàng còn cần một thứ tình khác, đó là tình yêu nghệ thuật. Cùng là nòi tình, nàng hiểu hơn ai hết thứ nhu cầu của sự sáng tạo ấy. Một khi đã hưởng được cái lạc thú mãnh liệt, gǎ́t gao, cǎng thǎ̉ng, no đầy của cảm giác thỏa mãn trong nghệ thuật, con người có thể đổi bǎ̀ng cái chết như những con tǎ̀m nuốt đầy lá dâu và sǎ̃n sàng chờ đợi giờ phút nhả tơ, chín đỏ xác thân, quǎ̀n quại đau đớn trả hết cho đời những gì đã thu nhận. Lạc thú đầy đau đớn ấy là thứ lạc thú to lớn hơn cả lạc thú của yêu đương nhục thể. Họ vẫn yêu nhau đǎ́m đuối ; chàng vẫn ân cần dịu nhẹ nâng niu trong khi nàng đã nghe rạn nứt, cái chuyển mình lách tách của chiếc cốc pha lê chỉ chờ một va chạm vô tình là òa ra vỡ vụn. Hàng ngày nàng quay tơ dệt lụa, còn chàng thì mơ mộng ; có những buổi trời thanh gió dịu, họ dìu nhau bách bộ dọc con sông lặng lờ, tìm vào sâu trong cánh rừng thưa, giữa những cội tùng già phô vết sẹo của những cành gẫy như thầm kể lễ niềm đau không tiếng của loài thực vật có tuổi đời trǎm nǎm. Bổng từ trong cửa rừng u tối ấy, họ nghe vọng ra tiếng hát của một người con gái, giọng khàn đặc, kể lể về những giọt mưa không dứt bên hiên nhà : khúc nhạc của chính tay chàng viết tự những ngày đầu khi cuộc tình thứ nhất ra đi. Hai người rảo bước tìm theo hướng tiếng ca. Bên gốc tùng, một gã thiếu niên ngồi thổi sáo; cạnh đó, người con gái chân đất đang uốn thân mình theo điệu sáo rồi bổng nhiên nàng tần ngần dừng lại, thẫn thờ cất tiếng hát hòa theo giọng tiêu. Nàng không múa nữa bởi sự chuyển động của thân mình là dấu hiệu của lạc quan, của hǎm hở nồng nàn, của quyến rủ mời gọi trong khi lời hát, ngược lại chỉ gợi nơi lòng ta cái rũ rượi của mất mát, của cây dài bóng xế, của trễ tràng hụt hẩng, tiếc nuối cái bóng dáng vụt đi không cầm giữ được. Nhạc sĩ sững sờ. Chưa bao giờ chàng có một xúc động cao độ đến thế. Chàng nghe như thể chàng nghe một tác phẩm nào đó, của một người nào đó, xa lạ, lần thứ nhất, nhưng với tất cả bồi hồi xao động nói lên từ mỗi nốt nhạc. Và ngay tức khǎ́c, chàng yêu người con gái, dường như để tạ ơn nàng đã cho chàng một cảm xúc cao độ. Và nhất là đã trả lại cho chàng tâm tình của chính chàng, nhưng đẹp hơn trước bội phần. Như thể chính tay chàng vẽ ra bức tranh và nàng có công làm bóng làm đẹp, rồi đóng khung treo lên tường để thiên hạ thưởng ngoạn và trầm trồ.

Trước mặt hai thính giả bất ngờ, người con gái không hát nữa. Cũng không múa nữa. Nàng toan rủ chàng thiếu niên thổi sáo bỏ đi. Lục Chân biết rǎ̀ng phải giữ ngay lại cánh chim muốn bay bổng dù rǎ̀ng một khi giữ lại được thì nàng sẽ mất chàng. Cánh chim kia sẽ cho phép chàng nương sức gió vút đi. Nàng thử đặt câu hỏi với người con gái xem nàng có biết kẻ nào là tác giả của khúc ca vừa rồi. Người con gái lǎ́c đầu : "Tiện thiếp chỉ là kẻ hát dạo, nghe người ta hát thì bǎ́t chước hát theo đấy thôi, nào có biết tác giả là ai. Mà nếu có biết cũng chǎ̉ng để làm gì. Hạt cát này đâu biết rồi ra sẽ bị cuốn đi bởi con sóng nào..."

Suốt đêm nhạc sĩ trǎ̀n trọc bên cạnh Lục Chân mềm mại, vô tư trong giấc ngủ. Chàng nhầm. Nàng còn trǎ̀n trọc nhiều hơn chàng nữa. Chỉ cần cái trở mình của một trong hai thì kẻ còn lại đã đáp ứng bǎ̀ng một giọng ráo hoảnh : "Như thế là chàng đã tìm được phương tiện chuyên chở nhạc chàng rồi. Xin chàng đừng bỏ qua. Hãy cầm giữ lấy như đã cầm giữ những cây đàn quý của chàng", nàng cất lời. Nhạc sĩ phản đối : "Nhưng ta nõ cầu ai chuyên chở nhạc ta ; ta chỉ cầu đôi ba lỗ tai sành điệu hơn là nghìn triệu cái tai trâu ! " Nàng ôn tồn : "Chàng nhầm đấy. Quần chúng có người cao kẻ thấp. Kẻ thấp thì lǎ́m thật nhưng cũng không hiếm bậc cao siêu. Vả lại, kẻ sáng tạo không thể bảo là chỉ viết cho mình ; y vẫn ước mong tác phẩm đến tay quần chúng thưởng ngoạn. Những khúc ca của chàng phải được phô diễn qua những giọng ca và những tiếng đàn khác nhauđể‹ được tiếp nhận sâu xa rộng rãi trong quần chúng.Thiếp yêu chàng nhưng thiếp còn quan tâm nhiều hơn nữa về tài nǎng của chàng. Thiếp không muốn tên tuổi chàng bị mai một." Nhạc sĩ ôm nàng vào lòng tỏ dấu cảm ơn. Và ngay sáng hôm sau chàng từ biệt nàng ra đi. Cùng với nàng Ly Tao, tên chàng đặt cho cô bé hát dạo chân trần.

Kinh thành đang cơn loạn lạc. Thù trong và giặc ngoài. Thời đại nhiễu nhương, chính tà khó biết. Hai người coi thường lửa khói, thản nhiên dǎ́t nhau đi từ nơi này đến nơi khác như hai kẻ giang hồ lãng tử. Họ hát cho triệu triệu nỗi niềm sinh ly tử biệt. Chàng thấy dạt dào trong lòng niềm hứng khởi của sáng tạo, nhưng nguồn cảm hứng chỉ có thể lấy từ chết chóc đau thương, do đó, khơi dậy từ tâm và thui chột cǎm hờn. Dù vậy, giữa cuộc chém giết những kẻ cầm gươm đao chǎ̉ng bao giờ muốn nghe lời rên rỉ nên chǎ̉ng bên nào chấp nhận sự có mặt của chàng. Lẫn trong đám đông dân chúng hâm mộ cùng nhỏ với chàng những giọt nước mǎ́t mỗi lần nghe những tấu khúc ai oán, có một tráng sĩ áo đen dáng điệu trầm ngâm. Rồi một hôm chờ mãn cuộc hòa nhạc, tráng sĩ đến bên chàng vái chào, kính cẩn mời chàng vào tửu quán cùng chia chung chén rượu gọi là để tỏ lòng ái mộ. Khi cuộc rượu hầu tàn, hai người đều đã ngà ngà say, tráng sĩ vỗ vai chàng thân mật: "Chǎ̉ng dấu gì đại huynh, tiểu nhân đến từ ải bǎ́c, vượt qua không biết bao gian truân nguy hiểm, chỉ mong rước ngài về gánh vác đại sự cùng chủ tướng tôi". Nhạc sĩ hoảng hốt đứng lên vái liền mấy cái thối thác: "Quân tử dạy quá lời. Chúng tôi chỉ là hàng thứ dân trong xã hội, may có chút tài mọn cũng chỉ để trước là mua vui cho lũ bách tính, sau là tìm lối sinh nhai đǎ́p đổi qua ngày, làm sao dám nghĩ đến chuyện chung vai gánh vác việc nước, việc đời." Kẻ đối diện điềm nhiên tiếp lời : "Chủ tướng là kẻ chính nhân, biết trọng hiền đãi sĩ, lại có sức hiểu biết siêu việt, nên chỉ một cái liếc mǎ́t đã biết ai là kẻ tài ba, đã giao cho tôi trọng trách mời ngài về, ǎ́t chủ tướng không thể nhầm lẫn được. Chỉ mong ngài nhậm lời là thǎ̀ng tôi mãn nguyện vì đã hoàn thành được trọng trách. Nếu không tôi e khó lòng dám nhìn lại chủ tướng." Thấy y quá khẩn khoản, nhạc sĩ đành phải nhận lời. Và một ngày nọ trên đường về ải bǎ́c, hai con ngựa đen trǎ́ng thả vó song song, trên mình ngựa hai kỵ sĩ chúi đầu ra roi cho chúng phi về hướng trước mặt, bỏ lại đàng sau dấu bụi mịt mờ.

*

Sáng hôm ấy dù khí trời đã đổi, sương mù che kín cả vùng núi, hiền giả vẫn dậy sớm tự pha lấy trà, chuyên ra chiếc bình độc ẩm tráng men mầu nâu sậm rồi rót vào tách nhỏ. Mùi trà thơm dịu bốc lên khiến ông cảm thấy ấm áp lạ. Hai tay nâng tách, dù chiếc tách nhỏ xíu lọt thỏm trong lòng bàn tay, hiền giả hớp từng ngụm nhỏ, mǎ́t nheo nheo nhìn qua tấm mành thưa kết bǎ̀ng thân những cộng lau gầy. Đợt heo may vi vu theo về từ phương bǎ́c báo hiệu tiết bạch lộ đang sǎ́p sửa ghé qua. Giòng suối cạnh nhà lòng đã thẫm dần màu đồng kéo theo trong nó cơ man là xác lá khô. Một thế hệ lá rừng rẩy chết buông xuôi theo cơn trở mình của thiên nhiên. Phải chịu khó lǎ́ng nghe cái vô thanh của vạn vật để nhận biết thế nào là lẽ biến dịch.

Đàng sau nhà, có tiếng lạch cạch của then cửa vừa được đẩy ra, tên tiểu đồng thò cái đầu có ba chỏm trái đào lên tiếng chào ông chủ. Chỉ cần cái nhìn của ông nó đã hiểu ông muốn nói gì nên vội lên tiếng đáp : ²Bẩm, hành lý đã gọn rồi chỉ chờ thầy cạn xong tuần trà sớm...² Cứ mỗi lần thời gian đổi mầu, hiền giả lại động lòng non cao núi thǎ̉m nên ông có lệ là phải dứt áo ra đi, bất kể chốn nào, miễn là khước từ chốn cũ, viễn du vào cõi hư ảo mông lung nơi chân trời xanh chưa kịp hòa nhập với mầu thẫm của đất bǎ̀ng. Vả lại như niềm tin dân gian đã từ xưa truyền lại, đi một ngày đàng học được cả sàn khôn ; sách vở vốn dĩ là kho tàng hiểu biết vô tận, nhưng đôi khi sách vở cũng không nói hết được điều khôn điều dại, những ngang trái trớ trêu, những lọc lừa phản trǎ́c. Kẻ trí giả vì sống bên trên cuộc sống, đã không nhận ra được những rác rưởi tanh hôi ; hìền giả, trái lại, muốn hiểu hết mọi ngọn ngành không phải để ganh đua giành giật mà là để hoàn toàn xa lánh. Một khi người ta nhìn rõ được đâu là chốn bùn lầy thì mới đành lòng thoát khỏi bùn lầy.

Xuống đến chân núi, hai người theo con đường mòn xuôi nam. Thấy thǎ̀ng bé có dáng mỏi mệt, hiền giả xuống ngựa nhường yên cho nó. Thày trò đi thêm được mươi dặm nữa thì bǎ́t đầu thấy có dấu hiệu đã gần kề nơi đô hội, kẻ ngược người xuôi đông đúc. Nhận ra trời đã ngã chiều, ngại rǎ̀ng nếu gǎ́ng đi thêm sẽ không còn gặp được quán trọ, hiền giả đưa mǎ́t tìm kiếm một nơi khả dĩ có bữa cơm chiều và chỗ nghỉ qua đêm. Tên tiểu đồng chưa hề biết phố xá, lần đầu lạc vào nơi đô hội, nó vừa kinh ngạc lại vừa phấn khích. Xảy thấy đám đông bu quanh bọn sơn đông mãi võ, tiếng kèn tiếng thanh la gióng lên inh ỏi, nó xin ông chủ được phép chen vào xem. Chủ nhân đành chìu ý tên đồ đệ nhưng sợ thǎ̀ng bé có thể bị lạc lối nên phải tấp vào một phạn điếm gần đấy nhâm nhi ly rượu nhỏ trong lúc đợi chờ. Chỉ hơn một tuần rượu là thǎ̀ng nhỏ trở về, vẫn không mất dáng điệu phấn khích. Nó kể cho ông nghe rǎ̀ng những trò mãi võ chǎ̉ng làm nó để tâm nhưng có một mụ xẩm già tuy giọng đã khản nhưng những câu ca của mụ đã làm nó xúc động. Hiền giả lǎ́ng nghe, mǎ́t nheo nheo thích thú nhìn thǎ̀ng bé, có lẽ vì lần đầu thấy nó cố gǎ́ng diễn đạt niềm hứng khởi lĩnh hội được qua sự đánh thức cảm quan từ một tác nhân ngoại lai, nhưng có lẽ cũng nhờ hơi rượu, một loại mỹ tửu cất lâu nǎm khiến ông mềm môi và cõi lòng ông tở mở. Ông cười cười : "Thế ngươi cho rǎ̀ng giọng hát của mụ xẩm hay, hoặc giả lời ca đã gợi nơi ngươi một điều gì khiến ngươi lấy làm đẹp ý ? Hãy biết rǎ̀ng khúc nhạc hay có thể do âm điệu du dương mà cũng có thể do lời ca gởi gǎ́m được nhiều ý tình ; nói ta nghe thử nào ". Tên tiểu đồng còn đực mặt trước câu hỏi hǎ́c búa của chủ nhân thì đã có giọng nhừa nhựa của một đại hán bàn bên rước dùm : "Cha chả là rǎ́c rối. Câu hỏi đặt ra cho dù với kẻ hèn đầu hai thứ tóc này mà cũng còn thấy chua cay huống hồ với thǎ̀ng bé. Đại nhân thật quá khǎ́t khe đấy." Vừa nói y vừa tiến đến bên hiền giả cung kính vái chào, tự giới thiệu và quay sang bàn bên ra dấu cho bọn bốn người cùng ngồi với y kéo sang xin được mời hiền giả cùng cụng ly với họ. Cực chǎ̉ng đã, hiền giả phải nhận lời. Người lạ giải thích, mụ xẩm già, cựu cung nữ, từ lâu vẫn quanh quẩn trong vùng lấy việc ca hát làm lẽ sống (chứ không làm kế sinh nhai) vì nghe đâu ngày trước mụ thất tình một nhạc sĩ đã bỏ mụ ra đi nhưng vì lòng chung thủy và nhất là vì hâm mộ tài nǎng của chàng nhạc sĩ đó mà mụ nhất quyết mang chút hơi tàn phổ biến những tác phẩm mà chàng đã sáng tạo. Câu chuyện vì vậy chỉ xoay quanh hành động của mụ xẩm già cùng với cuộc đời người nhạc sĩ đã chết. Nhìn đại hán, người ta biết ngay đó là một cựu chiến binh, vóc dáng y hãy còn vặm vỡ mặc dù tuổi đời đã xế bóng. Y nâng ly tợp gọn sau tiếng khà rồi tự tay rót đầy ly nữa, bần thần : "Dạo ấy, tuổi còn trẻ máu còn hǎng, tôi đang trấn giữ địa đầu. Phía bên kia đối phương rình rập. Nơi tiền đồn xa xôi nếu không có những phút đối mặt với đao kiếm thì phải đối mặt cùng lẻ loi, cô quạnh. Những khúc ca của chàng nhạc sï nọ chỉ giết dần mòn hào khí chúng tôi. Nghĩ cũng phải khi triều đình ra lệnh cấm chỉ lưu hành chúng, nhưng nào có cấm được đâu." -"Ấy đấy, ấy đấy !" lão già gù từ nãy đến giờ im tiếng, bổng góp ý : "Hạng Võ ngày xưa bách chiến bách thǎ́ng, nhưng khi bị vây ở Cai Hạ, chỉ vì tiếng sáo bi thảm của Trương Lương đã khiến đại quân mất hết tinh thần chiến đấu mà phải tự vận. Không phải chỉ ngọn dáo ngọn mát mới giết được con người". Đại hán không để ý đến lão già gù, miên man với ý nghĩ riêng tư : "Nhưng sau đó anh ta về đầu thú bên kia. Bọn họ bèn nhốt con chim vào lồng son khiến nó phải chịu đến hai lần khuất phục : khuất phục vì chiếc lồng son, lại khuất phục vì thức ǎn miếng nước hàng ngày. Đổi một nửa tự do, anh ta ngờ đâu còn mất nhiều hơn thế nữa". Người ngồi cuối bàn, dáng dấp như thương nhân giàu có, lǎ́c đầu quầy quậy : "Quý vị có thể sẽ cho rǎ̀ng thǎ̀ng tôi là đứa hồ đồ, nhưng tôi thiết nghĩ người nghệ sĩ trước nhất phải sống thành thật với chính mình. Xét kỹ những điều nhạc sĩ nói lên thật ra chỉ để tỏ bày nỗi đau thương của những tử biệt sinh ly. Chàng không chống chiến tranh ; chàng chỉ chống sự bạo tàn. Còn việc chàng chọn lựa bên này bên kia là quyền của chàng. Bảo rǎ̀ng sai hay đúng chỉ tùy thuộc vào góc nhìn ; vả chǎng câu chuyện đã qua lâu rồi hà tất.." Đại hán cười khẩy, chua chát : "Phải rồi, cái gì đã qua thì hãy cho nó qua, một cánh tay gãy, một bàn chân què, những cái chết xuân xanh tưc tưởi, và một nửa đất nước tang thương. Hãy cho qua, cho qua hết. Nào, mời đại nhân nâng chén, ta nuốt trôi nỗi phẫn hận xưa !" Mọi người bổng nhao nhao đồng ý, dường như ai cũng muốn khỏa lấp cảm giác chua cay vì mẩu đối thoại vừa rồi. Họ nâng ly cùng uống cạn khi người trẻ tuổi nhất trong bọn với dáng mơ mộng bảo rǎ̀ng loại nhạc chống chiến tranh hay oán chiến tranh ấy chỉ chiếm một giai đoạn nhỏ trong đời sống người nhạc ; phần còn lại là nhạc tình : tình người, tình đời, tình buồn thân phận. Y ca tụng không tiếc lời tài ba của nhạc sĩ. Bọn trai trẻ như y không hề biết đến nhạc sĩ lúc sinh thời nhưng vẫn tìm thấy niềm cảm thông gần gũi trong những điều chàng nói lên, con người của muôn thuở và của muôn nơi...

Không phải cuộc rượu nào cũng vui. Có những chầu rượu buồn, những chầu rượu bǎn khoǎn, những chầu rượu hụt hẩng nửa chừng. Người ta dần dần nói ít đi và suy tư nhiều thêm. Từ đầu cuộc đến giờ, hiền giả không hề lên tiếng, tuy vậy ông lǎ́ng nghe không bỏ sót lời nào. Rượu đã ngấm vào cơ thể, con người quên cả lễ nghi chỉ còn nghĩ đến nhu cầu, họ lần lượt ra đi, kẻ theo tiếng gọi của dục tình, người mỏi mệt vì tuổi tác gục ngã ngay trước bàn, chỉ còn ngồi lại một đại hán tuy đã sức mỏn hơi tàn nhưng lòng còn đầy phẫn hận, và hiền giả cùng với cậu đồ đệ, mǎ́t còn nguyên nét thơ ngây, lòng vẫn ǎm ǎ́p nhân nghĩa. Đại hán lại đứng lên khoanh tay hướng về phía hiền giả :

- Cuộc rượu vừa qua sẽ chǎ̉ng cóịý nghĩa gì nếu không được nghe lời bàn của đại nhân. Xin cho nghe những lời dạy bảo quý báu ấy.

- Lão đây tuy không tu hành nhưng đã tự coi là hoàn toàn xa lánh việc đời - hiền giả đáp lời đại hán - những vụ việc vừa rồi chỉ muốn nghe chứ không dám lạm bàn. Vả, suy cho cùng, ai cũng có lý và ai cũng muốn kéo lẽ phải về phần mình. Còn nói về người nghệ sĩ thì sinh ra y đã có cái cǎn cơ của y. Cái cǎn cơ ấy hướng về chí thiện, tuy nhiên bẩm chất y ham hố như đứa tiện nhân, hiểu theo nghĩa vật dục ; may thay nhờ cái tham, sân, si “hơn đời” ấy giúp y đủ khả nǎng cảm nhận sâu sǎ́c đời sống. Có khi y lạc bước, nhưng làm sao ta trách được y ? Hãy trả y về với vị trí của y. Chúng ta, trong xã hội Á đông, đôi khi sǎ́p nhầm kẻ trí giả vào lớp nhân giả, đòi nghệ sĩ đóng vai nhà luân lý, muốn ông chính trị gia phải có phong thái của một hiệp sĩ đạo. Làm gì có sự tuyệt hảo ấy ? Mỗi người mỗi việc, mỗi cá nhân một phần hành, quí hồ hǎ́n làm tròn phần hành của hǎ́n là đã đủ lǎ́m rồi... Giọng ông nhỏ lại tưởng như chỉ nói với chính mình : "Chỉ hiềm một điều: những bất công của lịch sử không bao giờ được sửa sai. Kẻ chiến bại không có khả nǎng áp đặt còn kẻ thǎ́ng cuộc thì lấp liếm. Biết sao?"

Ông đứng lên cáo từ, giục thǎ̀ng bé tìm về nơi trọ nghỉ ngơi để sáng mai đủ sức quay về. Tên tiểu đồng ngạc nhiên : "Bẩm, ta không tiếp tục xuôi nam ?" Hiền giả mỉm cười nhìn nó : "Ngươi còn muốn dong ruỗi ư ? Một ngày hôm nay đã có bao nhiêu điều phải học và phải suy ngẫm, ta không chǎ́c ngươi cần thu nhận thêm điều gì nữa. Hãy chờ đến dịp khác vậy"...

Lời Ghi Cuối Truyện : Hàn Phi tử, nhà biện thuyết bên Tàu thuở xưa khi có người hỏi vẽ gì dễ nhất, đáp rằng vẽ ma quỉ dễ nhất ; hỏi tại sao, đáp là bởi không ai nhìn thấy nên dù vẽ thế nào cũng chẳng ai dám khen chê. Tôi nay nghe lời họ Hàn, chọn điều bịa đặt vẽ ma quỉ ; nếu có ai nhận thấy nhân vật trong truyện có hao hao giống một người thật nào đó thì chắc chắn là không phải rồi, hay nói cách khác, tôi không chịu trách nhiệm về tính chất hao hao giống ấy được.





© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ.



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC