TÁC GIẢ
TÁC PHẨM






. Tên thật: Nguyễn Văn Vinh
. Quê quán Bình An, Thuỷ Xuân, thành phố Huế
. Sinh ngày 27 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1952)
. Hiên cư ngụ tại Trần Thái Tông, thành phố Huế

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. NGƯỜI ĐI SĂN HOÀNG HÔN - Nhà xuất bản Thuận Hoá 1995 (tập truyện ngắn)

. NỖI BUỒN KHÔNG DÁM GỌI TÊN - Nhà xuất bản Công an nhân dân 1999 (tập truyện ngắn)

. NGỌN ĐÈN VẪN TỎ - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2006 (tập truyện)

. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2007 (truyện dài)

(Đã đoạt giải văn xuôi trong cuộc thi "Những kỷ niệm dưới mái trường" do Kiến Thức Ngày Nay tổ chức (1998) ; tặng thưởng trong cuộc thi truyện ngắn của Hội Văn nghệ Đồng Nai tổ chức (1996) và nhiều truyện ngắn được các Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Thuận Hoá, Thanh Hoá, Công an Nhân dân, Văn Nghệ TP HCM, Văn Nghệ An Giang, Đồng Nai, Giáo Dục, NXB Trẻ.… chọn in thành tập truyện ngắn nhiều tác giả…)





TIỂU THUYẾT & TRUYỆN NGẮN


ĐẤT SAU MƯA
CÁI TÁT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 4
HAI BÀ MẸ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 8
KHOẢNG CÁCH EM VÀ TÔI LÀ GIÓ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 9
CHỊ EM SINH ĐÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 10
THẦY CŨ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 11

























TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI



KỲ THỨ 11

PHỤC THIỆN

Hơn một giờ khuya tôi xuống Ga Huế đi tàu VQ1 vào Đà Nẵng. Ga Huế 100 năm tuổi đang thao thức dưới nhạt nhoà ánh điện dịu xanh. Một vài khách đến sớm, đi lui tới trong sân ga yên ắng và vài thanh niên ngồi uống trà đón tiễn thân nhân dưới những vòm lá bồ đề ngái ngủ trong sương. Nhớ hồi còn nhỏ, mấy chị em tôi được đi tàu vào Đà Nẵng với ba tôi cũng vào giấc này, ba tôi dắt tôi và chị tôi ghé nhà mụ Quy tìm mẹ tôi. Ba tôi nói:

"Ga Huế vào những thập niên bảy, tám mươi thế kỷ trước là nơi tụ hội các tay anh chị trà trộn gây án. Mà khách đi tàu cũng phần đông dân đi tìm trầm, buôn bán, lang thang trộm cắp vặt trên tàu, khách đi lại chỉ là thiểu số. - Ba tôi chỉ tay vào cánh cửa sắt to đùng mà giờ đây tôi đang đẩy xe, dẫn vợ con tôi thong dong vào ga. Ba tôi nói tiếp - Có một bà thu thuế quá hăng chận bắt các con buôn trốn thuế đi qua cửa này, đã bị bọn con buôn đâm cho một cây kim băng vào mông. Bà thu thuế hét đựng lên, nhưng không thể tìm ra kẻ đã đâm bà, vì dòng người đi tàu ùn ùn, xô đẩy nhau tràn vào ga như nước cuốn. Lên tàu, khách đi tàu con phải đứng chen chân, con buôn còn bị một số đầu gấu, chuyên áp tải hàng trên tàu thu thuế, đó là một hình thức chấn lột công khai giữa thanh thiên bạch nhật, lại còn bị nhân viên toa xe phạt tiền cước nữa, ấy vậy người ta vẫn kéo đoàn, kéo lũ rủ nhau đi buôn. Đi tàu đi bè thiệt dễ sợ. Hai con lên tàu, chờ ba kiếm được chỗ ngồi, nhớ không chạy lung tung nhé. Mẹ mìn bắt con nít bán cho người ta làm thịt đó".

Đưa xe lên tàu, tôi thong thả tìm về toa vợ con tôi. Đi qua mấy toa toàn ghế ngồi cứng, nhưng sạch sẽ. Gần một giờ tàu chạy, vợ con tôi đã nằm ngay trên ghế ngủ khò. Tôi ngồi suy nghĩ mãi về việc sau này già mẹ tôi sẽ ở với ai. Với chị Ni tôi, chắc không, vì cảnh nhà anh chị tôi nghèo lắm, còn với tôi, chắc mẹ tôi không muốn, xa thì nhớ, gần lại khắc khẩu. Rồi mẹ sẽ về đâu mẹ ơi!? Tôi rơm rớm nước mắt! Xung quanh tôi mọi người đều ngủ, chỉ có tôi ngồi chong đêm thao thức. Tôi bỗng nhớ cuốn hồi ký Sau Cơn Mưa tôi đem vào trả cho mẹ tôi. Tôi lấy ra đọc tiếp:

"…Chúng tôi yêu nhau, chạy tìm đến nhau. Không cần chi cả. Bỏ, bỏ tất cả để về với nhau. Cho nhau hết thời son trẻ, cho nhau hết máu thịt của mình. Đưa nhau đến những vùng đất xa lạ Chúng tôi có nhiều hạnh phúc và khổ đau.

"Đến hôm nay. Chúng tôi đã lớn hơn, thấy cuộc đời không ảo mà rất thực, nên thống nhất ly hôn, để hai đứa cùng rẽ hướng, làm lại cuộc đời mình, sau lần vấp ngã quá đau, đầy vết tích và hậu quả. Những kỷ niệm một thời sống chết với nhau, yêu nhau và phản bội nhau…"

"Mùa hạ năm một chín bảy sáu. Chuyến tàu Huế đi Đà Nẵng đã đông người. Tiếng còi tàu rúc lên "Toe…toe…" rồi dần dần chuyển bánh. Toa tàu như ô chợ nhỏ bởi người người ngồi chen chúc cả sàn tàu, và đi qua, đi lại liên tục. Tàu nực hơi người thật bức bối! Tôi, Hải và Thuận đến sớm nên dành được chỗ ngồi trên băng ghế. Tàu đến ga Đá Bạc dừng lại nhận thêm một số khách bên kia phá Tam Giang. Bất chợt, chúng tôi cùng chú ý một cô gái mới lên. Cô mặc bộ áo dài trắng, mái tóc thề chấm ngang lưng, da mặt hồng hào, vẻ đôn hậu, cô đang loay hoay tìm chỗ ngồi. Ba đứa chúng tôi cùng lấn nhau, để chừa một chỗ trống cạnh mình, nhường cho cô gái. Tôi khoẻ nhất đã dành một chỗ mời cô gái ngồi. Tàu tiếp tục đi. Cả bốn chúng tôi rôm rã trò chuyện. Câu chuyện của bọn tôi cũng từ những câu thăm hỏi xã giao ban đầu, hỏi tên nhau, rồi bàn tán đủ chyện trên đời, dưới biển. Khi chia tay, chúng tôi hứa sẽ tìm nhau ở địa chỉ đã cho."

"Thời gian đi qua, kỷ niệm đi tàu gặp và quen Yến cũng nhoà trong trí óc bận rộn công việc mưu sinh của tôi. Tôi không có dịp qua Sơn Trà tìm thăm Yến. Hôm tôi đi buôn đường bánh ở Quảng Ngải về. Trên bàn trong phòng riêng của tôi có hai lá thư của hai cô gái đang có mặt tại Huế. Minh Hương và Minh Yến. Minh Hương có vẻ tư duy, cái tư duy làm dáng chẳng hấp dẫn tôi bằng Minh Yến với đôi mắt ướt rượi nỗi buồn. Tôi bỗng nhớ cái dáng bất cần, bướng bĩnh, vóc người mập mạp và đôi môi hồng tự nhiên của Yến. Tôi liền tìm đến thăm Yến ở Bãi Dâu. Thế là, chúng tôi đến với nhau như một cơn lốc. Hai đứa gắn bó nhau, không thể rời xa được nữa. Chúng tôi vội vã làm thủ tục lễ nghi, tổ chức một tiệc cưói nhỏ, nâng chúng tôi đủ tư cách làm chồng, làm vợ. Hồi đó gia đình của tôi rất túng thiếu, tôi chỉ bàn tay trắng. Hai đứa tôi như hai con chim non, chỉ với hai trái tim tràn trề hạnh phúc, chúng tôi rủ nhau bay vào cuộc đời bão táp."

"…Rời phố Huế thân yêu mang ba lô lên đưòng…về miền Tây…" đó là tiếng hát của tiểu đoàn thanh niên xung phong chạy quanh từ giả thành phố để đi Daklak. Mùa đông một chín bảy bảy, Huế chìm trong những cơn mưa triền miên dai dẵng, xe chúng tôi qua đâu cũng thấy những bàn tay vẫy trắng trong mưa và nụ cười, ánh mắt thân thiện, quyến luyến của những người ở lại."…

Tàu đến Ga Đà Nẵng hơn ba giờ sáng. Tôi gấp cuốn hồi ký, thức vợ con chuẩn bị xuống ga. Đọc chỉ một đoạn trong cuốn hồi ký của ba tôi, tôi cũng hình dung ba mẹ tôi khởi đầu với những ngày tháng hạnh phúc. Có khi còn hạnh phúc hơn vợ chồng tôi. Làm tôi tự nhủ, gia đình nhỏ bé tôi sau này có tan tác như cha mẹ tôi không? Tôi lại tự khẳng định, Không! Hạnh phúc trong tay phải giữ lấy bằng sức lao động chân chính của mình. Có tiếng ai đó nói: "Tới ga rồi. Ai xuống Đà Nẵng thì xuống" Tôi nói với Hằng đang ngáp dài ngái ngủ:

- Em bồng con ra ga chờ anh lấy xe. À, đưa cái xác anh lấy chai xăng, khi hồi lên xe, thằng cha nhân viên nhà ga hút sạch rồi.

Tôi chở vợ con vào thẳng Hội An. Để vợ và con gái tôi chơi với mẹ Yến và ngoại, tôi chạy xe lên xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên dự đám cưới Thảo.

Dự tiệc cưới của Thảo xong. Tôi tranh thủ đi tham quan vùng quê nổi tiếng Cánh mạng của Thảo và thánh địa Mỹ Sơn. Đây cũng là nơi lần đầu tôi đặt chân đến. Tôi chạy xe lên tượng đài Vĩnh Trinh cách thánh địa Mỹ Sơn chừng 5km đường chim bay. Một di tích Cách mạng đã được tỉnh Quảng Nam.xếp hạng bảo vệ. Chưa bước lên đập Vĩnh Trinh, tôi đã thấy một tượng đài cao hơn 5m, điêu khắc một người đàn ông ngoài 30 tuổi, mặc quần váy, đứng ưỡn ngực rắn rỏi, hai tay bị trói quặt lui sau hông bằng dây thép gai, đôi mắt nhìn về phía Đông Nam với vẻ bất khuất trước giờ hành quyết! Dưới chân tượng phía trước mặt, có ba mươi tám hoa sen nở, một hoa sen búp, tượng trưng cho ba mươi tám liệt sĩ đã hy sịnh, trong đó có một cán bộ phụ nữ huyện Duy Xuyên đang mang thai sắp sinh. (..........................................................)

Tạ từ quê hương của Thảo, thằng bạn tù của tôi một lần dại dột ra Huế tiêu thụ đồ gian, rồi bị chính chủ tiệm tạp hoá đã mua đồ do trộm cắp mà có từ Thảo, chỉ điểm cho công an bắt Thảo, để thoát tội "oa trữ đồ gian", tôi chạy xe về phố Hội. Tôi ghé dâng hương ở nghĩa trang liệt sĩ xã Duy Châu. Tính tôi có thói quen từ khi ở trại cải tạo về là sùng kính kẻ khuất mặt, khuất mày và anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, bởi hồi ở tù, đêm đêm tôi thường cầu nguyện trời đất, thánh thần linh thiêng cho tôi được tha tù trước thời hạn. Tôi đứng dâng hương trước anh linh sáu trăm liệt sĩ đang yên giấc ngàn thu. Tôi đứng lặng giữa đất trời Duy Châu lòng thầm cầu nguyện các liệt sĩ phù hộ cho vợ chồng tôi mãi mãi hạnh phúc, làm ăn ngày càng phát đạt, tấn tới.

Vợ tôi xin ở lại Hội An vài ngày. Thấy mẹ tôi quyến luyến cháu nội, tôi chìu mẹ, tôi chạy xe vượt đèo Hải Vân ra Huế một mình. Xe bon lên đèo Hải Vân. Đường đèo uốn lượn, quanh quanh giữa non xanh nước biếc, cảnh quan thật bao la hùng tráng tuyệt. Tuy nhiên, từ khi thông xe hầm đèo đường bộ Hải Vân, nên đường đèo vắng teo, lâu lâu mới có vài tốp thanh niên gan dạ chạy xe máy vượt đèo, hưởng thú ngoạn cảnh đèo cao, biển rộng, rừng cổ tích. Chạy một đoạn, tôi lại thấy trên vách đá ghi số điện thoại của các đồn công an dưới hai chân đèo. Tôi biết, công an thông tin số điện thoại, để khi những người chạy xe máy gặp những tay cướp cạn chặn đưòng "xin đểu" ít "xị" xài chơi, thì điện thoại cho những số máy đã ghi trên các vách đá, thông tin cho công an hai tỉnh, có phương án kịp thời truy bắt tội phạm trấn lột. Khi xuống đèo Hải Vân tôi nhớ quán cơm hồi bị hai anh công an dẫn độ về Huế. Tôi dựng xe chững chạc bước vào gọi chai bia và một xuất cơm phần đặc sản của một vùng bãi biển đang rậm rịch cất cánh bay cao trong nền kinh tế mở thuộc hành lang ĐôngTây. Tôi gặp ông chủ quán truớc đây đã có thiện ý cho thằng tù là tôi miếng thịt sườn ngon béo. Ông lật đật đi ra và đứng chờ tôi gọi món… Ông ngạc nhiên hỏi:

- Anh…anh có phải… không…không xin lỗi, tôi thấy anh quen quen.

Tôi mĩm cười trướ sự ấp úng của ông. Tôi nói:

- Tôi là người tù bị công an bắt đưa về Huế, mấy anh công an đã dẫn tôi vào đây, cho tôi ăn cơm trưa đó năm nao. Dạo này chú buôn bán khá không?

- Dạ, cũng được…anh ăn tôm hỉ?

- Cho dĩa mực lai rai trước đã.

Ông chủ quán "dạ" một tiếng rõ to rồi chạy vào nhà. Tôi ngồi nhìn thái độ khúm núm của ông, tôi nghĩ, làm một người lương thiện có cái oai phong mà thằng tội phạm không thể có được. Khi đang ăn, tôi bỗng nhớ chuyện thằng Thảo hứa sẽ kể chuyện trên trại cho tôi nghe. Tôi quên không hỏi nó và có lẽ do Thảo bận việc khách khứa, cưới hỏi nên quên luôn. Tôi lấy máy di động gọi Thảo và hỏi hôm trước hứa kể tôi nghe chuỵện gì trên trại? Thảo nói qua máy:

- Mi nhớ cha Tịnh không?

- Nhớ. Anh Tịnh "Đua xế nổ" ăn chung với tụi mình phải không?

- Đúng.

- Chắc anh Tịnh về quê lâu rồi phải không?

- "Vô hộp" suốt đời thì có.

- Sao? Anh chết rồi hả Thảo?

- Không! Nhưng cũng như chết. Mi biết chi không? Cha Tịnh phạm tội giết người đâu tận ngoài Bắc. Trốn vào đây lang thang, chui rúc mãi, cực quá cha phải liều mạng ăn cắp một chiếc Honda để được vào tù, chờ ngày mãn án, có giấy ra trại trờ thành công dân hợp pháp. Trót lọt thì bán ăn xài cho đã rồi kiếm chiếc khác để được vào tù. Không ngờ cán bộ tàng thư của công an phát hiện được. Ban chỉ huy trại đã điện ra Sở công an ngoài đó cho người vào dẫn độ về quy án.

- Cha Tịnh thấy li lì vậy mà dễ sợ Thảo hí?

- Ừ. Thôi tắt máy cả tốn tiền mi.

- Mi cứ nói thoải mái. Lo chi Thảo!

Tôi ăn xong ngồi uống nốt phần bia còn lại. Ông chủ quán nhân lúc vắng khách, cầm hai lon bia lạnh ra mời tôi:

- Uống với tôi một lon nữa cho vui.

- Cám ơn chú. Tôi còn chạy hai đèo nữa, sợ tay lái không an toàn.

- Tùy anh!- Ông chủ tự mở lon bia uống. Rồi rào đón, hỏi tiếp - Tôi hỏi câu này khí không phải, mong anh thông cảm. Hồi đó anh bị tội chi mà công an bắt rứa?

- Cố ý gây thương tích.

- Mấy năm.

- Mười lăm tháng.

- Rẻ.

- Tù mà rẻ và mắc hở chú? Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Một ngày tù cũng thân bại danh liệt rồi chú ạ.

- Đó là những người biết trọng danh dự.

- Thì ở đời có gì đáng giữ, đang vun đắp hơn danh dự và đức độ hở chú.

- Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng đời tôi đôi khi cũng gặp người càng quấy. Ai cũng nghĩ như anh chắc công an nhà ta thất nghiệp!

Tôi bật cười vì lời nói của ông chủ quán, cầm lon bia ông mời đặt trước mặt, tôi bật lon, cụng với ông, tôi uống một hơi: "khà!" khoái trá!

Một đêm nhà vắng vợ, buồn buồn tôi chạy xe qua Minh chơi. Khi chạy ngang đoạn đường mờ mờ sáng, tôi bất chợt nhận ra Phia. Đúng là Phia, dù Phia có thay đổi thế nào tôi cũng đã nhận ra. Ôi, không ngờ Phia xuống cấp đến vậy. Một cô gái hay cười đùa, ăn nói bổ bả tươi vui vậy mà giờ ốm o, xơ xác. Tôi quay xe lui. Phia tưởng tôi là khách tìm hoa, lơn xơn chạy ra lề đường. Tôi thắng xe trước mặt Phia, dưới bóng ngọn đèn đường. Phia bước đến và bỗng khựng lại, miệng cô khẽ gọi: "Anh Nô" rồi vùng quay ngoắc người lui, chạy băng vào hẻm nhỏ. Tôi nổ xe chạy theo cản Phia lại. Tôi nói:

- Đứng lại cho anh nói chuyện một chút.

- Ứ!

Phia khóc oà!…

Biết Phia thích ăn hủ tiếu, tôi an ủi:

- Nín đi! Ăn chi chưa, lên xe anh chở đi ăn hủ tiếu Nam Vang.

Phia lắc đầu không chịu. Tôi khẽ nạt:

- Lên xe, nói biết nghe!

Phia gượng gạo ghé ngồi lên yên sau. Tôi chở đi và nói:

- Tối nay Phia nghỉ. Mà không, từ nay Phia không được làm nghề này nữa. Nghe chưa!?

Như ấm ức đã lâu, Phia tuôn ra một hồi cho thoả bực:

- Ai cũng mạnh miệng như anh. Nhưng rồi ai cũng chỉ cái miệng nói tốt thôi. Anh kiếm việc đàng hoàng cho em làm đi. Hỏi ai không muốn có công việc đàng hoàng làm ăn sinh sống, để ngẩng mặt lên với đời. Anh đừng có nói trạng!

Tôi cũng tức tức trong bụng. Đây là một câu nói bao hàm một ý giống chú Vang. Tôi thấy bị chạm tự ái, hứa liều:

- Để anh xin việc cho Phia làm. Có điều Phia chịu cực không đã?

- Cực mấy em cũng chịu hết.

Xe đến tiệm hủ tiếu Nam Vang. Tôi bảo Phia vào trước, tìm chỗ tối tối ngoài hiên ngồi. Ý tôi sợ người quen thấy, hơn nữa tôi cũng rất ngại khi phải sánh vai đi với Phia dưới ánh đèn nê-ông, trong bao ánh mắt thực khách dò xét. Tôi vừa ghé ngồi xuống, Phia nói:

- Em nghe, anh Nô lấy con nhỏ đâu trong Hội An mới mười sáu tuổi thôi à? Chừ mấy con rồi?

- Một! Sao Phia biết?

- Sao không? mấy thằng bạn ở trên xóm anh nói.

Hôm ấy tôi đưa Phia về thẳng nhà trọ. Tôi định sẽ xin Hằng cho Phia vào làm ở xưởng tôi. Rồi tôi tự hỏi, nếu Hằng không chịu thì sao? Ngoài miệng tôi mạnh dạn hứa xin việc cho Phia giờ lo lo không biết việc đâu cho Phia làm và Phia không chịu bỏ cái nghề đứng đường tủi nhục này!?

Hai hôm sau tôi đang lúng túng không biết tìm việc gì phù hợp Phia để giúp Phia. Tôi đi sang nhà nội bảo nội chiều nay không để cơm cho tôi, tôi đi dự đầy năm trai của con Minh. Tôi thấy anh Hiệu đang ngồi nói chuyện với bé Ri. Tôi gọi anh ra, kể chuyện tôi và Phia cũng như hoàn cảnh khốn nạn của Phia bây giờ. Anh Hiệu đứng trầm tư một lát. Bất thần vỗ vai tôi.:

- Được rồi Hoàng ơi! Hồi trước mình làm bên phường Hoà Phú. Mình có quen chú Sự. Chú Sự là mạnh thường quân của những mảnh đời khốn khổ. Mốt mình và Hoàng sang gặp chú, xin cho cô Phia bán cà phê, thử chú Sự chịu không?

Tôi và anh Hiệu chở nhau đến quán cà phê dưới tán cây sanh vào lúc sáu giờ sáng để anh Hiệu trở về đồn làm việc. Quán sơ sài mà thân thiện với thiên nhiên bởi một mái hiên tôn viền tròn lưng gốc cây sanh già đang toả bóng lá sum suê mát rượi xuống góc công viên cuối đường Phan Bội Châu. Quán có một không gian lý tưởng rất đáng cho những người sành điệu phung phí chút thời khắc rỗi rảnh đầu ngày, để ngồi tận hưởng chút đậm đắng của vị cà phê cho thêm hưng phấn mà bước vào một ngày mới với bao bận rộn. Và thật bất ngờ khi tôi đối diện với một người đàn ông gần sáu mươi tuổi, có mái tóc bạc trắng. Ở ông không ánh lên nét toan tính vốn có của một chủ quán chuyên buôn bán mưu sinh lời lãi mà lại ánh vẻ nhân hậu của một trí thức từng lăn lộn bôn ba với đời. Chủ quán gặp anh Hiệu tay bắt mặt mừng:

- Sao lâu rồi không ghé chú chơi, Hiệu?

- Bận quá, chú thông cảm.

- Chà, lên thiếu uý hồi nào mà không rửa lon, hỉ?

Anh Hiệu chỉ cười nhưng không nói gì. Cũng do nhân viên của quán đã bưng ra hai ly cà phê nóng và có tiếng gọi tính tiền. Chú Sự đứng lên nói:

- Xin lỗi, hai anh em ngồi chơi.

Tôi và anh Hiệu ngồi nhâm nhi ly cà phê sáng. Anh Hiệu thầm thì kể về chú Sự trong thời gian anh làm công an khu vực ở đây, anh được nghe chú tâm sự.

"Chú Sự có tên là Ngô Cốc, sinh năm 1946. Chú trốn đi lính đổi tên là Ngô Sự, sinh năm 1952. Sự cơm đùm gạo bới dưới Vinh Hiền lên Huế học. Gặp thời nháo nhương tao loạn, Sự phải trần thân vất vả với bao việc nặng nhọc như bán báo, bán bánh mì, đánh giày, dạy kèm...kiếm miếng ăn để đủ sức sôi kinh nấu sử, ngõ hầu sau này kiếm mảnh bằng lập thân. Nhiều hôm, quá đói, anh leo tường vào nhà sau của thằng bạn học cùng lớp xin chị giúp việc miếng cơm. Chị giúp việc thương tình trút tất cả cơm thừa canh cặn cho vào một tô. Sự bưng ăn ngon lành trong nước mắt và nước mưa. Ăn xong, Sự xin chị ngủ trong bếp. Hồi đó, quan niệm "Nam nữ thọ thọ bất thân" còn nặng. Chị người ở không dám cho Sự ở lại. Chị đành để Sự leo tường ra đường lầm lủi đi trong mưa rét. Rồi còn muôn vàn cơ khổ nhọc nhằn khác mà anh thanh niên Sự phải chịu đựng trải qua trong việc vừa học vừa mưu sống cố đoạt cho được tấm bằng Tú tài toàn phần"…

…"Chú Sự mở quán không chỉ bán cà phê với mục đích kinh doanh kiếm lời là chính, mà là nơi chú có nhiều cơ hội gặp gỡ bạn bè một thuở hàn vi, nơi chú lao động để khỏi lâm cảnh "nhàn cư bất thiện" và là nơi chú có điều kiện giúp đỡ những người đang gặp cảnh ngộ, các em lang thang cơ nhỡ dưới quê lên Huế kiếm việc làm. Ở quán Cà Phê Cây Sanh từ khi khai trương (năm 1986) đến nay đã có nhiều thế hệ thanh thiếu niên từ mười một đến mười hai tuổi ở xã Vinh Hiền lên chạy bàn, cơm ăn áo mặc đầy đủ, đến năm cha mẹ các em lên lấy 2.400.000 đồng. Các em làm ở quán cho đến tuổi học nghề mới chia tay. Không chỉ dừng ở những việc giúp đỡ các em thiếu niên nghèo mà chú còn lựa lời khuyên nhủ, động viên các tay từng một thời anh chị có quan điểm sai lạc bởi tàn dư của chế độ cũ: "Chim giang hồ dừng chân khi mỏi cánh/ Chốn lao tù là quán trọ của dân chơi" hoàn lương về với cộng đồng xã hội, biết làm ăn lương thiện, tích cực tham gia gìn giữ an ninh trật tự địa phương. Chú đã tạo công ăn việc làm cho họ. Như chú giúp gia đình anh Địa sau bờ hồ một chiếc xích lô để anh Địa đạp nuôi gia đình. Anh Địa xúc động nói: "Ôn giúp lời nói, cách thức làm người để trở thành người tốt. Rất nhiều người ở tù về đã trở thành người tốt nhờ ôn sự giúp lời nói và tiền bạc...". Và chú còn giúp nhiều người mở quán cà phê bán buổi sáng kiếm đồng lời chính đáng nuôi thân. Như Ngô Ngụ, như Thọ Méo ở bờ hồ. Thọ Méo đã nói một câu không ngoa: "Nếu ông Sự không giúp đỡ cho người nghèo thì giờ đây ông làm thêm ngôi nhà nữa cũng đặng". Chú Sự từng nói với mình: "Muốn có uy phải có ân, mình đường hoàng nói những điều lẽ phải, các em mới nghe", "Làm giàu cho lắm rồi chết cũng hết. Người cho sướng hơn người nhận, đó Hiệu à"…

Chú Sự giao việc pha chế cho một thanh niên rồi ra quán kéo ghé ngồi với chúng tôi. Tôi kể về hoàn cảnh của Phia và ngõ ý xin chú nhận Phia vào bán quán, học nghề. Chú Sự khẳng khái:

- Đưa o đó tới đây, chú nhận. Ai xin chú chối từ được, chứ anh Hiệu bảo lãnh rồi, lo chi hè?

Hơn sáu tháng sau, chú Sự điện bảo tôi:

- Nội nhật ngày mai, cháu về Vinh Hiền với chú mở một quán cà phê cho con Phia ra riêng. Dưới đó cầu xây xong, gần thông xe kỹ thuật rồi. Tương lai buôn bán được lắm.

- Dạ… để cháu thu xếp công việc, mai cháu sang chú.

- Cháu kêu anh Hiệu đi cùng. Về đó có bãi biển đẹp lắm.

- Dạ, chút cháu hỏi anh thử.

Từ khi Phia học pha chế và bưng bê cà phê cho chú Sự. Chú Sự thấy Phia biết chịu khó phục thiện, chú nhận làm con nuôi. Vợ chồng chú chỉ được mụn con trai. Anh con chú mới có gia đình, rất nghe vợ, nhiều khi làm vợ. chồng chú không hài lòng! Từ khi cây cầu quê chú làm lễ hợp long, chú đã có ý định lui về quê cha đất tổ an dưỡng tuổi già mà vì mưu sinh chú đã bôn ba xa nhà gần hết đời người. Cho Phia về mở quán làm ăn, ở với vợ chồng chú trong ngôi nhà từ đuờng bao năm quạnh vắng, vì thiếu người khói hương trong những ngày ba mươi, rằm, mùng một. Chú giao ngôi nhà lầu ở phố này cho con trai chú đứng tên cai quản.

Tôi chở Phia, chú Sự chạy xe một mình và lỉnh kỉnh chở hai giỏ ly, tách, phin cà phê, chai, thẩu… về đến quê nhà chú Sự đã xế trưa.. Nắng thu vừa mới nhạt màu, giờ ngấm thêm hương biển trở vàng sánh, mặn mòi phủ trên cây lá, ngã xanh rêu trên mái đình cong vút cổ tích. Chợ Hiền An đã tan, vẫn lèo tèo đôi ba quán sá bày bán hàng tạp hoá, gia vị, phê pháo giải khát hai bên quốc lộ 49B. Khu dân cư chen chúc hiền hoà, nhịp sống ít sôi động thanh bình, đậm nét đặc trưng dải đất cát bên biển, bên đầm sâu sắc xanh tuơi. Từ phút giây này, Phia chính thức là cô con gái rượu của chú Sự về sống quê nhà.

Thôn Hiền An khi chưa có cầu bắt qua phá, chỉ là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nuớc, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút. Rẻo đất cát bãi ngang Hiền An nằm cuối hệ thống đầm phá nước lợ Thừa Thiên Huế (bao gồm phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Chuồn, đầm Thuỷ Tú, đầm Đá Bạc, đầm Cầu Hai...) liền một mạch từ tỉnh Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế, vốn nhiều tôm rằn, cá mú, cá hồng...thích ăn rong tảo, phù du mọc trong trầm tích đá vôi trôi ngoài cửa Tư Hiền vào, có diện tích mặt nước rộng hơn 22.000ha, vùng đầm phá rộng nhất Châu Á. Chú Sự kể:

"Ông Tổ của chú làm nghề ngư, theo đuôi con cá đến làng Phụ An, phường Phụ Luỵ, tổng Diêm Trường, phủ doãn Thừa Thiên này vào năm 1776, Cảnh Hưng thứ 36 đời vua Lê Hiển Tông. Và các họ: Huỳnh, Phan, Phạm, Lê, Ngô, Đỗ, Nguyễn, Trần, Hồ...đến từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Như vậy, quá trình hình thành, thành lập làng cũng đã trên dưới 300 năm. Cửa Tư Hiền nằm giữa xã Vinh Hiền và Lộc Bình nơi thông phá Tam Giang với biển Đông. Bà con ở đây còn gọi là cửa Tư Dung. Đất này xưa kia thuộc Châu Ô, cửa này tên là Ô Long Hải Khẩu. Sư Tử Dung phái Thiền Tông Trung Quốc sang đây truyền đạo Phật. Sư viên tịch, người sùng đạo gọi cửa Tử Dung. Sau này, Công chúa Huyền Trân con vua Trần Nhân Tông em vua Trần Anh Tông trước khi xuất giá sang Chiêm Thành ghé lên đây bái vọng tổ tiên. Từ đó cửa có tên Tư Dung. Tư Dung do lòng thương nhớ dung nhan kiều diễm của Huyền Trân Công Chúa mà thành. Đây là cửa biển trọng yếu, dãy núi giáp biển thiết lập hệ thống phòng thủ rất mạnh, được gọi: "Bách Nhị Quan Hà", có nghĩa hai người phòng thủ với tên lửa, gỗ, đá lăn chống được một trăm nguời tấn công. Ngày trước, chúa Nguyễn Phúc Ánh trên đường kéo chiến thuyền vào cửa Thuận, ngựơc gió thuyền lên không nổi, mới cho quân thám thính cửa này, quân thám thính thấy ánh sáng lập loè báo lại cho chúa Nguyễn. Chúa cho quân theo ánh sáng lập loè vào cửa, sau mơí biết ánh sáng đó phát ra từ mắt đôi rái cá. Khi lên ngôi, vua Gia Long cho rằng, nhờ cặp rái cá dẫn đuờng quân vào cửa trót lọt, dựng nên cơ đồ nhà Nguyễn, vua phong cặp rái cá: Lang Lại Nhị Đại Tướng Quân và cửa biển là Cửa Biện. Đến đời vua Minh Mạng cửa bị lấp, vua coi đó là điềm lành, kẻ địch không đánh thọc nách kinh thành được, bèn đổi tên cửa Tư Hiền"

Chú Sự kể tiếp:

"Về những hòn núi ở Vinh Hiền dân gian tương truyền rằng, ngày xưa có ông Mực thuỷ Tổ họ Lê có biệt tài biến chiếc nón thành ghe, biến lưỡi mác thành mái chèo vượt phá, có một lần ông gánh hai hòn núi về lấp cửa biển làm đường cho con cháu sau này tiện việc đi lại, ông gánh ngang Vinh Hiền gióng đứt, hai hòn núi rớt xuống; một thành núi Linh Thái, một thành núi Rùa. Trên núi Linh Thái có một cái giếng không đáy, thả một trái dừa khô, trái dừa chạy tuột ra ngoài khơi... Cửa Tư Hiền là nơi giao thoa các dòng hải sản, tôm, cá...và tuyến đường thuỷ huyết mạch cho cư dân đi lại đây đó, thông thuơng thương mại, ra lộng vào khơi nhưng nay như gần bị lấp. Vì vậy cá tôm ít vào phá nên những gia đình chuyên nghề bủa sáo, giăng câu trong đầm làm suốt đêm, suốt con nước cũng chỉ được vài chục ngàn. Nếu cửa sâu hơn vài chục mét, rộng hơn thì bà con sinh sống trên đầm dễ thở hơn..."

Ở chơi với Phia và chú Sự một đêm. Sáng hôm sau tôi và chú Sự chạy xe lên Huế. Trên đường lên Huế, chú Sự đưa tôi lên chùa Thánh Duyên trên núi Tuý Vân. Một vị sư già giảng cho chú cháu tôi nghe sự tích ngôi chùa xanh như huyền thoại:

- Xưa, chùa tên Mỹ Am Sơn Tự. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1644) cho đặt nền móng điện Đại Hùng và đặt tên chùa Thánh Duyên. Chúa Nguyễn Phúc Chu tu sửa và chu cấp hương khói hằng năm. Đến triều Minh Mạng, vua cho xây thêm Đại Tự Cát, tháp Phước Duyên và lầu Nghinh Phong. Chùa thành Quốc tự và có tên là Thuý Hoa. Năm 1841 vua Thiệu Trị lên ngôi đổi tên chùa là Thuý Ba, cũng như chợ Đông Hoa thành Đông Ba và tỉnh Thanh Hoa thành Thanh Hoá, vì tên mẹ vua là bà Hồ Thị Hoa. Vua Tự Đức cho rằng tây Bạch Mã (ngựa trắng) thì đông mây xanh nên đổi tên chùa là Thuý Vân Quốc tự. Sau, nhóm cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... đổi thành Tuý Vân. Đến ngày nay, nhân dân gọi núi Tuý Vân, chùa Thánh Duyên.

Tôi và chú Sự phì phò leo lên các bậc cấp của ngọn núi Tuý Vân có đỉnh cao 60 mét so với mặt nước đầm phá, đã thấy một khu rừng đại ngàn rậm rịt cây lá cổ thụ gần như nguyên sinh, phần lớn cây xoài và mít nài sù sì to lớn bao bọc um xanh, mát mẻ vô cùng. Chú Sự nói:

- Xưa kia các vị vua triều Nguyễn cho trồng xoài và mít nài để lấy bóng mát và lấy quả cúng dường đức Phật trong những ngày lễ, kỵ, muôn rằm tháng quý.

Tôi không hỏi thêm vì đang đứng ở trên đỉnh, trông vời ra xa. Trước mắt tôi nào đầm phá, mây xanh, nước biếc, non, núi hữu tình dễ say lòng lữ khách. Người xưa gọi Tuý Vân quả chính xác! Xa xa phía cửa bể, một cầu Vinh Hiền hoành tráng bắt ngang phá Tam Giang. Tôi nghĩ, mai mốt đây khi cầu thông, bà con đi lại thuận tiện hanh thông, thì những chiếc đò chở khách vượt phá của hôm qua sẽ không còn nữa, nhưng sẽ còn ghi lại trong ký ức mỗi người một dòng kỷ niệm mù mờ xa ngái. Tất cả đều vận hành theo một quy luật. Cánh cửa quá khứ khép lại để mở toang cánh cửa hiện tại và tương lai, để đón bình minh xán lạn của một khu đô thị mới...

Tiếng chú Sự:

- Lên cả trưa cháu. Đứng làm thơ à.

- Dạ, lên thì lên.


    CÒN TIẾP....


 
                     


© Bản Quyền của Tác Giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC