TÁC GIẢ
TÁC PHẨM






. Tên thật là Lê Văn Tĩnh .
. Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1947
. Tại Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
. Hiện sống tại Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa,
. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1994).
. Tổng Biên Tập Tạp Chí Xứ Thanh- Hội Văn Nghệ tỉnh Thanh Hoá .

. TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Hàm Rồng ngày ấy (ký sự viết chung, tập 1 in 1984, tập 2 in 1978);
. Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn, 1991);
. Gã nhà quê (tập truyện ngắn, 1992);
. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết, 1993);
. Không thành người lớn (tiểu thuyết, 1995).

. GIẢI THƯỞNG :

- Giải thưởng văn học: Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn)
- Giải thưởng Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang Hội Nhà văn;
- Giải thưởng văn học tỉnh Thanh Hóa - Mẹ (truyện ngắn),
- Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Sông Hương 1993;
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1993; Gã nhà quê (tập truyện)
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1994. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết)





TRUYỆN NGẮN

MẸ

MÙA YÊU ĐƯƠNG

VỢ CHỒNG XE TRÂU

CÁI THỜI KHÓI LỬA

ĐÀN BÀ

HỌ HÀNG NÔNG DÂN - truyện ngắn





TIỂU THUYẾT


CON THUYỀN MỒ CÔI Phần I - Chương 1-6

CON THUYỀN MỒ CÔI Phần 2 - Chương 7-10

CON THUYỀN MỒ CÔI Phần 3 - Chương 11-15

CON THUYỀN MỒ CÔI Phần 4 & 5 - Chương 16 - 20

CON THUYỀN MỒ CÔI Phần Kết - Chương 21 - 23

CÕI NGƯỜI - Chương 1 - 5

CÕI NGƯỜI - Chương 6 - 10

CÕI NGƯỜI - Chương 10 - 15

CÕI NGƯỜI - Chương 16 - 20

CÕI NGƯỜI - Chương 21 - 25

CÕI NGƯỜI - Chương 26 - 40

CÕI NGƯỜI - Chương 41 - 45

NƯỚC MẮT QUÂN VƯƠNG >

CÕI NGƯỜI - Chương 46 - 50

CÕI NGƯỜI - Chương 51 - 55

CÕI NGƯỜI - Chương 56 - 60

CÕI NGƯỜI - Chương 61 - 65

CÕI NGƯỜI - Chương 66 - 70

CÕI NGƯỜI - Chương 71 - 76

CÕI NGƯỜI - Chương 77 - 82

KHÔNG THÀNH NGƯỜI LỚN - Chương 1

KHÔNG THÀNH NGƯỜI LỚN - Chương 2

KHÔNG THÀNH NGƯỜI LỚN - Chương 3-4

KHÔNG THÀNH NGƯỜI LỚN - Chương 5 - 6

KHÔNG THÀNH NGƯỜI LỚN - Chương 7







































Tranh của họa sĩ Phạm Kim Bình






HỌ HÀNG NÔNG DÂN

H ọ này toàn nông dân. Điều đó tỏ ra không có sự gì là thiệt thòi. Bốn đời là nông dân. Thậm chí cả chục đời là nông dân. Điều đó có gì phải băn khoăn. Dân đinh thì đông, có việc họ việc làng ào một cái là tắp lại. Các họ khác phải lắc đầu: "Họ ấy đông thật...mạnh thật"!! Điều đó đáng tự hào lắm. Nhất là ngày giỗ họ, các bậc bô lão ngồi ngắm con cháu ăn như dâu tằm mà không đừng được, đưa tay lên vuốt chòm râu. Thế đấy, cả làng này nhà cửa của họ này mọc lên san sát. Không ai giàu ba họ, nhưng họ này giàu đấy, người họ này thay nhau làm chánh, phó lý; hết cành trên lại rơi xuống cành dưới, hết cha đến con. Người ta kể ông Chánh Cò làm Lý trưởng đến con bà ba làm phó lý, lại con bà hai làm Cửu. Con ông chánh Lung làm Lý trưởng lại đến con ông Ba làm phó lý, con ông phó Đông làm phó lý lại đến con ông Đoàn Triều làm chánh Trương. Mà nói gì thời xa, thời nay cũng con cái họ này làm chức sắc trong làng, trong xã. Đeo chiếc xà cột ra đến ngõ là nghe tiếng chào: - Bác ạ - Chú ạ... Cứ là râm ran, râm ran đến vui tai.

Họ này khối chuyện buồn ra đấy. Ví dụ, ở đời nào cũng có một lão điếc, một ông mù, một ông không con; may nhất là họ này cha có một người câm không thì rách chuyện. Ai ưa gì trong họ có một thằng ú ớ. Nhưng chuyện có cành toàn là con gái hoặc có con nuôi thì tránh sao được. Cái số trời nó vậy, thương thật, không có người mà nối dõi tông đường. Là cha nói ra họ, thằng cha ngồi im như thóc giống nghe người ta bổ báng:

- Tôi thấy mỗi xuất đinh phải góp năm hào là vừa!

- Bảy hào bác ạ!

- Chú ấy à? Nhà một xuất đinh góp mấy chả được! Dại cha đã không được góp nhiều lại bị mắng.

- Chú là chú sướng! Một mống con gái không phải đi lính lại được nỏ miệng ra phán cho cả họ nghe. Lại còn vài thằng con nuôi như tay Cự, Cu Oai sốt sắng công việc nhưng cứng đầu cứng cổ, mới láo làm sao.

Đại loại, rất nhiều chuyện. ở đâu mà chả có chuyện, nhưng đằng này cả họ là nông dân, đời này, đời khác, cành trên cành dưới xa xa, bây giờ toàn là nông dân gốc.

Có nhiều lần họp họ, các bậc nhiều tuổi cố nhớ xem họ này có ai làm quan to không. Nhưng chịu. Tính từ đời Vua Lê Đại Hành thì ai mà lần ra được - Không có lý Ngài là người làng này. Tại sao nhiều họ khác lại có nhà thờ cụ, hẳn hoi. Thôi, cái khó thì chớ có nhận làm gì, lấy ai sưu tầm khảo cứu. Cũng không phải là dòng dõi của Vua Lê Lợi, Vua phát tích cách những hai ba chục cây số kia. Làm sao lại có lý ấy được. Nhưng tại sao đất này lại để những ba lăng Vua kia. Mà Vua cuối cùng của dòng họ lại bốc từ nước ngoài về đặt ở đây? Khó quá, buồn không tìm được gốc họ đã đành lại gặp chuyện cả họ không đào đâu ra ngời có chữ nghĩa để lần. Cái buồn làm nẫu ruột bọn choai choai, cái buồn làm khô héo người già cả. Thật công bằng mà nói các cụ lấy gì mà ăn học. Đã nói họ này đời đời là nông dân mà lại. Thế hệ (đời trước) cũng có cụ làm chức sắc trong làng đấy, nhưng không biết chữ Hán thành phải nhờ người chép gia phả. Mà người ta chép thế nào tùy họ. Có trướng và câu đối đấy nhưng chỉ có mấy người nhớ mặt chữ, còn lại thuộc lòng, vả lại khi hứng có chén vào các cụ ngâm nga, còn bọn trẻ ranh đâu dám mách qué.

Đã nói cả họ này là nông dân mà lại. Mạnh và đông nhưng có nỗi buồn về thất học. Đấy, họ khác người ta toàn đại học, cấp tá, cấp tướng nhưng họ này toàn binh sĩ. Đã có dạo con chú Thầu nghe đâu đánh nhau rất máu me ở Hàm Rồng suýt được phong anh hùng nhưng kết cục lại trật. Cũng tại chú Thầu huyếnh hoáng quá đấy. Tại sao lại hấp tấp như thế không biết. Để cho người ta đọc trên đài, in trên báo rỗi hẵng loan tin. Đằng này mới có anh cán bộ về thẩm tra đã ngã ngay con lợn ra liên hoan, trong lúc máy bay máy bò rầm rầm réo trên đầu. May mà nó không phát hiện ra đám ăn tiệc không tù ráo, chết nữa đằng khác. Lại chính ông Vận trực Đảng, người họ khác nói cho một nhận xét về sự lãng phí lương thực phá hoại sản xuất, chống Mỹ. Nguy nữa là bà vợ chú Thầu bí tiếp khách có con gà lạc vào xó chuồng bèn túm lấy mà làm thịt. Ông cán bộ đang ăn tiệc thì hàng xóm nó réo lên mà chửi mất gà. Cũng có thể quân ấy hại người. Có nghe lời các cụ thì làm gì rách chuyện. Nhưng tại chú ấy lại rời cái chuồng bò đi cho nhà kia đến ở nơi đất vườn. Có gì trong họ cha rõ thì ngoài ngõ đã tường. Chuyện con trai chú Thầu mất anh hùng làm cả họ tiếc ngẩn ngơ hàng năm trời. Hễ gặp lúc đài nhắc đến chữ anh hùng là thím ấy lại chửi vống sang quân ăn điêu nói thừa, bốc lửa bỏ bàn tay. Đời chú Thầu có làm cán bộ gì cho cam bảo tham ô lãng phí. Người ta đi lính đánh Pháp thì sợ quá phải trèo lên chuồng trâu trốn. Đến lúc ông anh họ làm chủ nhiệm mới phong cho chức thủ kho phân đạm thì có làm gì mất mát tài sản. Có đứa bảo chú giàu vì chuyện đưa bì phân đạm ra ngoài tỉnh Nam bán được khối tiền, chú cân điêu cho xã viên để ăn bớt. Nhưng làm gì có chuyện ấy. Nhà ngói sân gạch từ thời ông bà để lại. Lúc nào cũng sạch như lau. Thấy một bãi cứt gà là chú lấy hai ngón tay miết sạch cho ra gốc trầu mà bỏ. Lại lấy nước mà rửa cho kỹ không có mùi mới yên. Quân mất dạy của họ khác còn bịa ra, ông nội chú làm đến phó Lý mà quanh năm chỉ dưa cà. Lúc có giỗ mới dám uống hết cút rượu. Đi chợ tỉnh bán chanh không dám ăn quà, uống nước sợ tốn tiền. Dọc đường đau đái cố nhịn bằng được về đến nhà tiểu kẻo mất của. Còn ba cây cố nhịn không nổi phải chọn một cục đất cày của người ta mà tè, đem về. May mà họ không bắt được kẻo ốm đòn.

Ngủ nghê tiết kiệm từng giọt dầu. Mặt trời chưa tắt đã lên giường, mặt trời chưa mọc đã ra đồng dĩa cỏ. Chả thế mà bác họ là chủ nhiệm nêu gương trên xã. Ông Thầu mà có văn hóa có thể làm đến chủ tịch huyện chứ không chơi. Vì tính cần cù tiết kiệm cho dân. Mấy bà ngồi dưới nhổ nước trầu, nói thầm: "Là lão vơ về cho ông thì có" - May cụ Chủ nhiệm không nghe kẻo phải nghỉ lao động một tuần vì cái tội nói láo.

Ông Thầu, ông bác họ, mà hầu hết cả họ đều buồn một nỗi nhà ngói sân gạch của họ này đâu thiếu, nhưng chỉ thiếu con em ăn học. Thằng em cành dưới của ông Thầu để cho con ăn học nhưng chẳng thằng nào mở mắt ra. Đã thế thằng Cự con nuôi bà Hội lại tốt nghiệp mời. Đáng lý thành ông nọ bà kia, nhưng lại xung phong vào tận sông Gianh chèo phà. Cậy tài có chữ nghĩa viết báo nói xấu cán bộ họ mới đì cho về hưu non. Đồ không biết xấu hổ, nó lại cứ bô bô cái miệng. Họ này động mả, lạc mã nên không phát được đâu. Nó làm như có chức ở họ không bằng. Cái đồ con nuôi, người ta cho nương nhờ vào họ này mà không biết dơ. Bậc già cả của họ bực không nói ra, chỉ trách thời dân chủ, bọn trẻ ranh muốn nói ai thì nói. Mấy đứa choai choai trong họ được cu Cự cho hút thuốc lá cuộn cũng khoái chí phù họa. Để thế này thì nguy quá. Biết rằng họ này là nông dân. Là nông dân giàu nữa là đằng khác nhưng ai cũng thấy buồn phiền. Muốn lập lại trật tự tôn ti của dòng họ.

Ông Thầu buồn đến mức thành căn bệnh đi ngủ sớm, chẳng thiết xem ti vi, ông bỏ cả thói quen uống rượu. Ngày trước ông có thói quen uống rượu. Rót một chén ra, tợp một ngụm là quét dọn xong mấy gian nhà gạch, tợp một ngụm quét sạch như chùi hết cái sân rộng. Làm một hồi là vơ quang cỏ gốc cam. Thật ra ông không để cho cỏ mọc nổi ở gốc cam bao giờ. Ông có mẹo lấn vườn, bằng cách trồng xương rồng và tre, nó len đến đâu bên rào của hàng xóm là chặt hết cành của vườn mình. Nói là hàng xóm nhưng con cháu dòng họ cả, thành ai dám nói động đến. Ông có tài tần tiện đến mức lạ lùng. Lò vôi của xã giao cho thằng cháu họ mỗi lần đi qua ông xin một cục, một năm trời ông đã có một hố vôi tôi làm được chuồng lợn. Người ta nói, gạch làm nhà bếp là do ông đi hót phân rơi ở đường mà nhặt về xây đủ đấy. Cha cái bọn thấy ông giàu mà ngứa miệng; ông vay mượn, mua bán sòng phẳng chi li đến mức độ có ai được ông giúp cũng thấy nể lòng. Người ta bảo, vườn của ông có của, có lẽ của cụ tổ dòng họ để lại. Cụ tổ là người có công khai phá đất này. Chả thế mà chữ lót của họ này lại đệm là Công ? Còn họ khác chữ lót là Đình, Doãn, Nhu, Khả, Văn, Xuân... Mấy cậu sinh viên khoa sử trường Tổng hợp đi điền dã không hiểu moi ở đâu ra đã nói với ông về ý nghĩa rối bươm chữ lót này. Rằng nơi đây vốn là gò đồi. Họ Công là người có công tìm ra đất này. Đất lành chim đậu mà lại. Họ Quốc là họ đến sau lao động cần cù đó là làng ở phía Đông. Còn Doãn là Rẽn (rễ) đấy. Ông nghe mà cứ u u minh minh không sao hiểu nổi. Khoái chí cho tụi cháu vật một con cầy tơ chiêu đãi. Mấy cậu ấy nằng nặc đòi đưa chiếc bình cắm hương ra Hà Nội chụp hình của dòng họ. Ông ưng ngay. Đến lúc mất, vợ ông mới cho một trận. Ông thèm chuyện con cái có danh giá. Thật ra, thằng con trai thứ của ông cũng hàm thụ ở huyện qua được đại học. Ông bực mình một nỗi, cái thằng Cự con nuôi họ, đụng một cái là nói bóng gió: - Xì! Đại học giả cày. Đại học Bia-thịt chó. Ông muốn một ngày nào đó, chi của cành thứ hai này phải nêu danh, là trụ cột của họ này. Điều chân chính ấy, ông không hé ra cho một ai. Từ thằng em thứ có dạo đã làm đến Phó chủ nhiệm phải khai trừ Đảng vì chuyện tham ô. Nó cùng người anh họ con bà cô làm chủ nhiệm đã dám rời làng đang sống yên ổn đến một bãi tha ma với lý "qui hoạch cho làng ra làng, xã ra xã". Người ta bảo âm binh oán, nên đêm đêm có tiếng khóc than ở cổng nhà. Ông đi ngủ từ chập tối nào có nghe được gì. Nhưng phải xây cho được mộ Tổ của dòng họ, nếu không ai mà biết qui tự, châu tuần về.

Ông sang ông bác của cành trên thảo luận, ông này là người được ăn học nhất họ nhưng không chịu được khổ nên không dám rời làng đi hoạt động. Bán mấy dinh cơ của tổ tiên để lại, đến cải cách lại được chia quả thực. Bây giờ con cái lại xây nhà ngói sân gạch nhưng dù sao nó cũng oán giận. Trời lại chọn ông, phú cho tính ba phải. ừ! Sao cũng được ông chỉ việc cúng và uống rượu cười khà.

- Bác dậy rồi à! - Ông Thầu chào.

- Chú Thầu đấy à! Vào uống nước, tôi mới pha đây.

- Dạ! Ông Thầu nhìn quanh quất gian nhà trống trải như tìm thêm quyết tâm của mình. Cháu muốn thưa với bác, chuyện xây mộ cho cụ Tổ nhà ta.

- ừ! Tôi cũng tám chín mươi rồi. Xây xong mộ tổ tôi đi cho yên!

- Cháu đâu dám nghĩ đến chuyện đó. Nhưng nghĩ sau này con cháu không biết được gốc gác của dòng họ.

- Chú đã bàn với các chi dưới chưa?

- Dạ! Cháu đã bàn.

- Được rồi. Thằng Lường con thằng cha Tuân nó là đứa đứng đầu dòng họ này. Cha nó hy sinh rồi. Mẹ nó biết gì. Mọi thủ tục là do các chú xắng vác.

- Cháu chào ông! Cháu sang nhà chú Tứ bàn về góp của họ ạ!

- Được, các chú cứ lo cho gọn. Ông nhìn theo ông Thầu ra đi mà không nén được đưa tay theo thói quen vuốt chòm râu bạc như cước.

Ông Tứ vốn là sĩ quan của quân đội về hưu. Thật ra đời binh nghiệp của ông không trải qua là mấy. Làm ở cơ quan dân chính rồi chuyển vào quân đội. May mắn là khi ra quân ông đã có quân hàm thượng tá. Kể ra về chức tước ông to nhất họ, nhưng bằng cấp ông không có gì, ngoài biết đọc, biết viết lúc ra đi thoát ly. Mới lại ông thuộc cành cuối cùng của dòng họ. ít con cái, ít gia sản thành ra cũng ậm ừ cho qua mọi chuyện. Lúc ông ở huyện, ở tỉnh thật ra ông cũng chẳng giúp gì cho dòng họ. Ngoài những lần tết nhất đánh xe con về chào họ, cũng không còn chuyện gì để nói. Bố ông chết cái dạo mới hòa bình. Ông nội có làm đến Chánh đấy nhưng vì ít học, cờ bạc thành ra cũng phá sản. Ông thành dân nghèo ở đợ cho nhà ông bác đầu cành, đi chăn trâu. Cái vận may đến, thiếu chân đưa công văn ông nhảy vào và hòa bình (1954) thành ngay cán bộ trẻ. Ông cứ học tắt mãi thành ra tự dưng là người có hàm có phẩm. Nghĩ có lúc quá dại, vì mấy bà chị gái muốn ông về cho gần, thành ra ông lại quay về với họ, ông luôn ý thức mình đã cải tạo thành người lính, thành giai cấp công nhân nghèo đói, nhưng trong cái vô thức ngấm vào máu lại mách bảo cho ông và mọi người là nông dân. Là nông dân bởi ông cũng muốn cho họ mình phải có cán bộ chủ chốt ở xã, ông muốn tiếng nói của mình phải vang lên trong dòng họ như nói trước hàng quân. Ông muốn một ngày nào đó, cậu con trai ông ít ra cũng theo nghiệp bố, có được phẩm hàm cao hơn ông. Tại sao họ này lại không có một người làm tướng là chính ông hay con ông chẳng hạn. ý nghĩ ấy làm ông Tứ day dứt muốn lục vấn lại bậc bề trên. Nhưng khốn nỗi họ chẳng có chữ nghĩa, lại nghĩ rằng ông nói kháy về quân hàm cao nhất họ của mình.

Thấy ông Thầu vào đến sân, ông Tứ đã đon đả ra cửa đón:

- Ô! Bác sang!

- Chú, tôi muốn sang bàn cùng chú lo việc Họ.

- Vâng! Hàng năm ta cứ làm đấy thôi.

- Giỗ họ đã đành rồi, nhưng tôi muốn ta phải xây mộ tổ chú ạ!

Như bắt được điều tâm đắc ông Tứ reo lên: "Vâng! Vâng! Chuyện đó còn gì bằng. Chả gì cũng phải giữ lấy họ

- Thế ý ông bác cành trên ra sao rồi ạ!

- Cụ già rồi, lý đúng có gì mà không nhất trí.

- Thế ý bác định tổ chức ra sao?

- Còn ra sao nữa. Bổ vào các suất đinh. Nhưng có dân chủ và mở rộng hơn các nhà có con gái, có chồng đi vắng cũng được tham gia.

- Phải đấy, có thế mới kéo được cô Nhân ở huyện về.

- Nhưng chớ sinh ra cúng bái linh đình phiền toái bác ạ! Nhưng tôi còn nghĩ xa hơn, chả lẽ họ ta thua kém họ khác hay sao? Ông Tứ nghĩ đến cương vị của mình nên nói ra điều ấy.

- Chú bảo, người ta còn dâng hương tượng đài liệt sĩ, còn dâng hương cụ Lê Lợi, cụ Lê Hoàn. Tổ tiên mình không là con người à? Mà biết đâu người đặt chân lên khai phá đất này là quan lớn của các Vua được phong hầu!

- Có được thế thì còn gì vinh dự bằng! Một nỗi xót xa xâm chiếm lấy tâm hồn ông Tứ. Như mới ngày hôm qua thôi ông cũng là trai tráng của làng này chạy hết làng hết tổng, thấy đền Thờ, miếu mạo là đập phá. Ông như bao con người nông nổi khác, tưởng đập xong đình chùa, miếu mạo, nhà thờ họ là phong kiến bóc lột sẽ rời khỏi mình. Ông nhìn ở nơi đâu cũng gặp sự bóc lột. Cả làng đem nghèo ra khoe nhau, tâng bốc nhau về sự nghèo khổ. Nhìn vào dòng họ, người nào có máu mặt là quy ngay lên thành phần bóc lột. Chính ông bác dâu họ này, vì có con trai muộn, lại chết sớm không ai lo chạy đành phải nhận địa chủ. Lúc đấu tố cũng chỉ con cháu trong nhà. Ngoài họ chờ xem trong họ đấu ra sao cứ thế mà nói lại. Khổ nhất là thằng Vân con thứ ba của ông Cửu Khoai cứ túm lấy râu cha mà dứt. Nó bảo ông bóc lột mẹ nó, bắt mẹ nó phải đồng ý đẻ ra nó nhưng không chăm sóc cưu mang. Cũng tại người đời cứ xui nó đấu gắt vào, biết đâu được vài gian nhà ngói mà ở. Đến dạo sửa sai cha con gặp nhau thật ngượng ngùng khổ não. Bây giờ mắt của Vân bị mù, có đứa độc địa nói do ăn điêu nói thừa, do thất đức. Tứ lại khác, ông không nhúng vào việc gì cả nhưng lại có uy tín. Vả lại sau đó đi thoát ly, thành người danh giá của dòng họ. Nhưng dù sao về già hình ảnh ấy cứ ám ảnh ông. Ông muốn làm một việc gì mà cha nghĩ được ra. Bây giờ ông Thầu lại dở việc ra, may cho ông, cho dòng họ này.

- Em nhất trí bác ạ!

- Thế thì tốt rồi, tiền bạc ta lo dần cho kịp.

- Có nên cho đăng lên báo không bác?

- ừ nhỉ! Mấy họ khác nó đánh xe con về oách lắm.

- Nhưng họ mình có ai làm to đâu?

- Thôi chú ạ. Bọn tôi có lỗi dạo đánh Tây không ai dám ra đi cả. Nhưng mấy ông cố nhà ta có ai chịu hoạt động làm lớn đâu. Cứ khư khư làm dân vạn đại. Ngay chú đã ngấp nghé tướng rồi mà không phấn đấu, tiếc thật.

- Vâng! Em biết là dại. Nhưng cái số nó không phát được bác ạ.

Thấy người em họ đã chịu, ông Thầu vỗ về - Đừng buồn, việc họ không phải lỗi của một người. Bây giờ phải nghĩ đến phương trưởng của dòng họ chú ạ!

Việc xây mộ tổ của họ Công đã được ấn định. Các họ khác giật mình. Họ ấy đông lắm, không khéo phải mổ trâu bò mới đủ thức ăn. Chắc họ ấy sẽ thuê tiền cho quảng cáo trên ti vi, trên báo. Nhưng có người lại cười khẩy, họ ấy toàn nông dân cả, trừ vài xuất liệt sĩ ra, có ai rời làng ra đi đâu mà quảng cáo.

Nhưng lại có một vài họ khác người ít hơn nhưng lại có quan chức ở hàng tỉnh, hàng huyện mới làm cố vấn cho họ này. Ta có mấy đứa đi lính lấy vợ Sài Gòn, thằng ở tù ra làm giàu tậu nhà ở Hà Nội, thằng là lái xe khách. Họ mình phải quảng cáo trên đài mà nhắn tin cho tụi nó về: góp tiền cho một vài ông đi thăm quan.

Ông Thầu nghe mà sốt ruột, ông tiếc ngẩn ngơ, có phải thằng cháu của họ này làm Chủ tịch xã trị bọn nó một trận cho trắng mắt ra, quân ngụ cư hỗn láo. Được! họ Công này sẽ có cách.

Thế là chuyện xây mộ tổ đã được loan tin cho các cành trong dòng Công, ông bác đầu họ đã giở sổ ra xem ngày thật kỹ lưỡng. Các bà vợ trong dòng họ chuẩn bị cho việc nấu ăn cúng tế. Còn bọn con trai từ biết đi đến già khụ chuẩn bị cho việc vui của họ. Họ cũng hy vọng, sau khi chọn chỗ đất cao xây xong mộ tổ là yên ổn làm ăn. Họ khác mặc kệ họ, chỉ biết họ mình lo làm ăn cho giàu có. Đừng để cho một nhà nào túng bấn ngày ba tháng tám vác rá đi vay. Còn đất chọn xây mộ là nơi cồn lăng Vua, nơi vừa rời ngôi mộ của Vua đi, do mấy tay đào mộ trộm.

Canh ba cả họ tề tựu đến khu nghĩa địa của làng để hành sự. Bọn trẻ được chỉ cho ngôi mộ to nhất vội vàng tra cuốc vào: Mấy ông lão, trung niên ngồi rít thuốc lào vặt. Vì ai cũng tin vào trí nhớ của ông Thầu. Nhưng thằng Cự vẫn ngồi như thằng trời đánh mới nói lè nhè (vì nó đã nốc vài ba chén).

- Thưa với họ, cháu nhớ không sai mộ tổ có một cây sim đã thành cụ chứ không phải mộ này!

- Đồ nói láo, mày nốc cho lắm rượu vào mà nói càn.

- Thưa các bác, các ông, cháu đâu có nói điêu?

- Tại sao mày lại dám phịa chuyện ra nhầm mộ?

- Dạo tập trung mộ tránh máy bay đánh Cầu Quan do tay cháu trồng cây sim mà!

- Ông Thầu khẽ rỉ vào tai ông Tứ rồi dõng dạc nói:

- Thôi, trí nhớ của chú Cự chính xác đấy. Tôi cấm ai nói ra về cái sự nhầm lẫn vừa rồi. Nhưng mà đào lên không thấy bia chôn dưới đó, chú sẽ bị đuổi ra khỏi họ.

Mọi người cười ồ lên sung sướng. Còn Cự lạnh toát cả chân tay. Vì cả đời của Cự chỉ mong họ Công nay coi mình như một xuất đinh nhưng không ai chịu. Lúc việc họ bao giờ Cự cũng vất vả mệt nhọc, nhưng khi bàn việc của họ ai cũng át đi lời của Cự. Mà nào Cự cố mong gì được ngồi mâm trên, được quyết định những việc chính sự. Cự chỉ mong ngồi ở mâm bét với con cái cành dưới. Nhưng có kẻ độc miệng lại hỏi.

- Ông Cự ngồi ở mâm nào nhỉ?

- Mâm nào chẳng được? - Đó là lúc các cụ chưa ngấm rượu. Còn khi mà ngấm say thì chả ai lường được.

- Thằng con nuôi mất dạy!

- Thằng chống lại họ này. Nó cho bọn này là dân ngu khu đen hả? Cút!

Ai cũng to tiếng làm như Cự là địch không bằng.

Cự lao đến cuốc như điên. Bọn trẻ choai choai được Cự tiếp sức cuốc như điên. Bỗng tiếng cuốc đập vào đá tóe lửa. Tấm bia lộ ra. Cự lao xuống ôm lấy khóc nấc lên:

- ối họ ơi là họ ơi! Bia cụ tổ đây rồi!

Không hiểu sao mọi người cũng đều khóc. Nỗi buồn vì sự lãng quên quá lâu. Nỗi đau vì thân phận nghèo hèn... dâng lên nghèn nghẹn. Sự vui sướng vì tìm được đúng ngôi mộ tổ. Ai biết được sẽ xảy ra chuyện gì nếu xây nhầm phải ngôi mộ của một người khác, nó phát, còn họ này cứ lụi dần.

Ông Tứ định thần lại, như một vị tướng quát:

- Để đó tôi bê cho!

Mọi người tránh xa cho ông Tứ bê lên. Vì ai cũng nhìn thấy cụ tổ đang được kéo dậy đi về vị trí oai phong của dòng họ. Xong việc cả họ như đoàn quân thắng trận trở về.

Các mâm cỗ đã được bày biện la liệt, từ giường đến bàn, ra ngoài sân vẫn không đủ chỗ ngồi. Bậc cao tuổi và cành trên đã được sắp đặt đâu vào đó. Cự và mấy đứa con nuôi được xếp cho ngồi cùng trẻ con. Anh ta đi đến từng mâm chắp hai tay mời với giọng từ tốn.

- Cháu vô phép các bác xơi rượu.

Dù khó chịu với giọng điệu ra vẻ thành thị của Cự nhưng ông Thầu cũng phải ngoảnh đi nơi khác nuốt khan tức giận. Đến chỗ anh cu con ông Trưởng họ, Cự mới phân bua. Thế là hôm nay có việc họ mà bác lại bỏ em để ngồi cùng các cụ.

- Mày láo, nó là con ông đầu họ nghe cha!

Chỉ thiếu chút nữa là các bậc bề trên văng vào mặt thằng con nuôi của dòng họ. Ông Thầu, mặc dù rất muốn cho đứa con có học đi thoát ly nên danh nên giá nhưng vẫn nói giọng răn dạy:

- Họ ta toàn là nông dân. Từ đời này sang đời khác là nông dân. Bộ ai cũng ra thành thị mà sống lấy đâu ra thóc gạo mà nuôi con người. Đấy như chú bao năm lăn lộn vào Nam ra Bắc nhưng "Cáo chết ba năm quay đầu về núi". Đằng nào cũng phải thành nông dân. Tôi hỗn phép các cố nói cùng họ - Họ này là nông dân, điều đó chỉ tự hào mà thôi.

Trong hơi men lâng lâng, ai cũng thấy mộ tổ xây cao to hơn những họ khác. Một niềm hy vọng cháy khát trong tâm can, dòng họ này là phải là lưực lượng chi phối làng xã.

Ông bác già nhất họ đưa tay vuốt chòm râu bạc cười khà khà nói cùng mọi người:

- Chú Thầu có lý, không mất gì phải ra đi nơi đất khách quê người tha phơng cầu thực, cứ ở ngay đất của tổ tiên mình. Được ngày hai bữa là sướng rồi. Làm tướng tá gì rồi cũng phải về làng mà sống các cháu ạ!

Cự do vạ miệng cãi lại:

- Thật cháu dại, nếu không có vợ con thì ở ngay thành phố cho sướng, có béo bở gì làm anh nông dân.

- Này chú Cự, chú có biết chú được dòng họ này cưu mang không? Người ta quên nỗi vất vả khó nhọc của Cự, đứa con nuôi của họ. Người ta chỉ thấy sự lếu láo của chú. Quả thật, ông Tứ làm mọi người tỉnh táo hẳn.

- Tôi cấm ai có ý nghĩ bỏ làng, bỏ họ mà ra đi. Bắt chước những thằng bỏ làng hay sao? Tôi là cấm. Họ này cấm đấy.

Họ này toàn nông dân. Mấy mươi đời này là nông dân gộc. Tính chất ấy có trong máu của mỗi người. Lúc vui say vì công việc đại nghĩa ai cũng quên đi sự nhọc nhằn. Quên đi sự bon chen. Rồi ngày mai lại theo con trâu ra đồng, sự thanh thản ấy thành bản tính, dẫu có người bảo rằng ích kỷ, nhưng thử hỏi có nhiều nhặn gì mà họ bảo tham lam.

Ông Thầu nói một câu như lời phán truyền của cụ Tổ.

- Nào cứ thử đi xem? Tướng tá gì ở đâu không biết, hãy cứ về đây, họ này sẽ nhuộm thành nông dân cho mà xem!






© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC