TÁC GIẢ
TÁC PHẨM






. Tên thật: Nguyễn Văn Vinh
. Quê quán Bình An, Thuỷ Xuân, thành phố Huế
. Sinh ngày 27 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1952)
. Hiên cư ngụ tại Trần Thái Tông, thành phố Huế

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. NGƯỜI ĐI SĂN HOÀNG HÔN - Nhà xuất bản Thuận Hoá 1995 (tập truyện ngắn)

. NỖI BUỒN KHÔNG DÁM GỌI TÊN - Nhà xuất bản Công an nhân dân 1999 (tập truyện ngắn)

. NGỌN ĐÈN VẪN TỎ - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2006 (tập truyện)

. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2007 (truyện dài)

(Đã đoạt giải văn xuôi trong cuộc thi "Những kỷ niệm dưới mái trường" do Kiến Thức Ngày Nay tổ chức (1998) ; tặng thưởng trong cuộc thi truyện ngắn của Hội Văn nghệ Đồng Nai tổ chức (1996) và nhiều truyện ngắn được các Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Thuận Hoá, Thanh Hoá, Công an Nhân dân, Văn Nghệ TP HCM, Văn Nghệ An Giang, Đồng Nai, Giáo Dục, NXB Trẻ.… chọn in thành tập truyện ngắn nhiều tác giả…)





TIỂU THUYẾT & TRUYỆN NGẮN


ĐẤT SAU MƯA
CÁI TÁT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 4
HAI BÀ MẸ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 8
KHOẢNG CÁCH EM VÀ TÔI LÀ GIÓ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 9
CHỊ EM SINH ĐÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 10

























TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI



KỲ THỨ 10

PHỤC THIỆN

Ba tôi thấy tôi và vợ con tôi vẫn một cảnh hai quê, chia cho tôi gian trên căn nhà và hiên sau giáp đường mấy lâu nay tôi mở gò hàn sinh sống. Ông phụ cho tôi mấy chỉ vàng, để tôi sửa nhà, xây phòng và làm nhà vòm. xây dựng xưởng cơ khí Gia Nghi. Sau khi nhà xưởng hoàn chỉnh, tôi vào Hội An đưa vợ con ra ở. Có vợ lo cơm nước, việc nhà cho tôi, tôi thêm thời gian chú tâm vào công việc, bởi trước đây tôi vẫn ăn cơm với ông bà nội. Có vợ con tôi mới thật sự ra riêng, nên sắm một lần nào tủ, giường, xoong, chão, bếp ga, công tơ điện… Về phần xưởng cơ khí, tôi sắm thêm máy khoan, sơn điện để sản xuất xe rùa. Hiện nay, người lao động thích dùng xe rùa làm phương tiện đẩy vật dụng xây dựng, tập kết cát đá vào các ngõ hẻm nội ô, tiện lợi hơn những chiếc ki ở trên trại cải tạo tôi từng gò để giảm bớt sức lao động tay chân của phạm nhân và tăng năng xuất lên nhiều lần. Sản xuất xe rùa, tất nhiên tôi cần nhân công gò hàn, sơn quét làm đẹp. Tôi nhớ đến chú Vang. Nhớ đến chú tôi không phải tôi nghĩ chú là tay gò hàn giỏi mà là hoàn cảnh đáng thương của gia đình chú rất đấng đề tôi chiếu cố, giúp đỡ. Tôi chạy xe tìm chú Vang. Găp chú tôi nói:

- Bán cho tôi hai tấm vé số. Tối nay tôi trúng số, tôi tặng chú mười phần trăm.

Trả tiền cho chú Vang xong. Tôi hỏi đùa:

- Chú đi lang thang cả ngày rài rạc một chân rưởi lời được hai chục không?

Chú Vang thành thực:

- Mươi, mười lăm ngàn thôi. Khi được khi không Nô nợ.

- Sao chú không kiếm việc ổn định mà làm.

- Chân cẳng như tui ai nhận? Thói đời, ai cũng tốt cái miệng thôi, chớ không thật lòng cho công việc làm ăn mô Nô ơi.

Chớp lấy lời nói ấy. Tôi vỗ ngực:

- Tôi! Tôi nhận chú vào làm xưởng của tôi, chú làm không?

- Được rứa tui vái cả tơi lẫn nón.

- Chú làm được chi nào?

- Tui là thợ sơn. Sơn các loại, các kiểu đảm bảo không ai chê.

- Chắc không?

- Chắc!

- Tối nay chú không nhận vé số nữa nhé. Mai tới xưởng tôi sơn thử mấy chiếc xe rùa mới gò, để tôi coi chú sơn xe tốt hay "sơn tiền" (sơn tiền là kẹp một tờ giấy bạc trong xấp bạc thành hai gia trị và cũng còn một nghĩa nữa là móc túi) tốt nhé.

Chú Vang đưa hai tay bắt tay tôi thật chặt như muốn giao kèo với tôi giữ lời hứa. Chú nói:

- Ô kê!

Có chú Vang chuyên sơn xe rùa cùng cô Vân em kế thằng Vĩnh con chú Vang vừa ở trại 05, 06 về. Vân theo "Băng Nây" bên chợ Đông, ban ngày che nón, giả vờ chen lấn móc túi các bà dưới quê lên phố, đi chợ mua sắm, ban đêm cùng một cô bạn thuê xe Dream chạy loanh quanh trong thành phố dụ khi mấy cha già máu gái, hám của lạ, làm gái kiếm tiền và người anh của Ti Em mới đi tù về do tội "Đấm xế " (Đấm xế là dùng kềm, tuốt-lơ-vít cạy cửa kính ca-bin xe tải đường dài ngang thành phố nghỉ lại hoặc bỏ hàng, ngủ qua đêm, để lấy tiền bạc và tài sản của tài xế), cũng đầu quân vào xưởng tôi phụ gò hàn, làm cửa sắt, vị chi xưởng cơ khí của tôi tròn nửa tiểu đội. Thường ngày tôi đi giao hàng và chạy hợp đồng các công trình lớn. Có khi khách nghe tiếng xưởng Gai Nghi tìm đến đặt hàng. Anh em trong xưởng kể cả tôi, ai cũng phải lao động bù tóc tai, thâm cả đêm đôi khi vẫn bị khách lẫy do trễ việc của họ. Ba và mẹ Hạnh tôi thấy anh em tôi làm việc luôn tay, mặc dù ồn ào nhưng ai cũng mừng. Bà nội tôi đi đâu cũng khoe thằng cháu đích tôn làm xe rùa, của sắt đẹp nhất thành phố. Anh Hiệu sang chơi, thấy xưởng tôi bề bộn nào sắt, nào thép, nào cửa, nào xe, ạnh em gò, hàn xì xèo… náo loạn một góc nhà, anh cũng mừng. Một hôm anh dẫn đến xưởng tôi một cô gái nhỏ thó, trên chiếc mũi dọc dừa của cô ta có một chiếc gương cận dày đi-ốp, trông cô già gặn như bà cụ non. Cô lấy sổ ra hỏi tôi đủ chuyện rồi ghi ghi, chép chép. Cô hỏi tôi ở trên trại phấn đấu như thế nào mà được đặc xá. Rồi chuyện thu nhập của xưởng tôi cho đến tiền lương tôi trả cho thợ gò hàn của tôi, các em học việc. Cuối cùng cô hỏi:

- Anh cho tôi hỏi câu này. Cũng xin anh thông cảm cho nếu anh thấy câu hỏi không làm anh vui lòng.

- Không có chi. Cô cứ tự nhiên.

- Tại sao anh tuyển người làm toàn những người từng ở trại ra, những người từng có tiền án, tiền sự? Có phải họ là bạn, là bà con của anh không?

- Thưa cô đúng một nửa, họ là bạn rất thân của tôi. Còn một ý khác giục tôi thích mời họ đi cùng tôi trên con đường làm ăn, bởi tôi tin ở họ đã tốt nghiệp Đại học trường đời, mà trường đời không đâu gian khổ bằng trại cải tạo. Chính nhờ môi trường gian khổ đó, đã rèn cho chúng tôi tính chịu khó, biết yêu quý đồng tiền xương máu, tôn trọng pháp luật mà không dám phạm pháp. Những người như vậy trở về với đời sống, nếu được gặp người tốt như anh Hiệu đây và có công việc làm ăn ổn định, tôi tin họ sẽ không dại gì "ngựa theo đường cũ".

- Tôi nghĩ, cũng có thể anh muốn ra tay nghĩa hiệp, giúp người nghèo khó như chú Vang chẳng hạn.

- Tôi không dám làm anh chàng hảo hán rỗng tuếch. Tôi là người có tuổi niên thiếu không vẹn toàn, từng bị gãy cả chân, cả tay, thậm chí tôi đang là một người bị què tay, cô không thấy tay bị gãy của tôi cong cán vá đây này và tôi đã thấm mùi khổ ải, nên rất dễ đồng cảm với những cảnh đời oái ăm, cơ nhỡ khác. Hơn nữa những người thợ làm ở đây là những người giúp tôi và tôi cũng giúp họ. Đúng ra chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau đấy thôi. Tôi cũng xin cô miễn thứ cho, nếu tôi nói gì đó cô cho quá xa vời.

Cô gái im lặng ghi những lời tôi nói vào sổ. Anh Hiệu lắng nghe cuộc trò chuyện của tôi với cô gái, rồi nói:

- Hoàng nói cũng đúng. Nhưng nếu không có Hoàng mấy anh em ở đây chắc gì có công ăn việc làm ổn định và thu nhập cao như vậy. Ngược lại, mấy anh em cũng giúp Hoàng và xưởng cơ khí ngày càng phát triển. Theo cá nhân mình, Hoàng là là thanh niên điển hình tiến tiến của phường mình đó - Anh Hiệu nheo mắt với tôi - Hoàng biết ai đấy không? Nhà báo đó.

Đến lúc này anh Hiệu mới giới thiệu với tôi cũng hơi muộn. Dù anh không nói, qua cách cô phỏng vấn tác nghiệp tôi đã biết cô ta là phóng viên. Tôi trả lời anh Hiệu:

- Nghe cô hỏi, tôi cũng biết rồi anh Hiệu ạ.

Rồi một hôm Minh cầm tờ báo Công an đến xưởng khoe với anh em tôi. Và cũng do Minh cất giọng ầm ồ, đọc: "Vượt lên và toả sáng…". Bài viết nói về sự phấn đấu và trưởng thành của anh em thợ gò hàn xưởng cơ khí Gia Nghi, những người từng lẫm lỡ, đã dũng cảm đứng dậy vươn lên và toả sáng. Tôi bùi ngùi bởi một đoạn trong bài viết: "Những người một lần vấp ngã biết đứng dậy đi về ánh sáng chính nghĩa với tất cả nỗ lực phục thiện của chính mình. Tôi nghĩ những người như vậy rất dũng cảm, và đáng quý…" . Tôi cầm tờ báo lòng rưng rưng khi biết xã hội luôn cưu mang, trân trọng những ai muốn làm người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội.

Đám cưới Cường Loa và Ti Em tổ chức tại một nhà hàng nhỏ trong phường. Cô Vân chở chú Vang. Tôi chở Hằng vợ tôi cùng chạy vào nhà hàng. Chưa đến chỗ gửi xe, tôi đã thấy Cường Loa cùng Ti Em đứng trước bàn tiệc đón chào khách dự tiệc. Cường Loa lúng túng trong bộ veston thuê ở hiệu trang điểm cô dâu. Còn Ti Em mặc bộ đầm hồng, tươi cười rực rỡ. Khi vào tiệc, cô Vân xin phép chú Vang cho nó sang ngồi với bạn. Vợ chồng tôi ngồi cùng bàn với chú Vang và một số thực khách ở khu vực dưới. Một người đàn bà ngồi cạnh chú Vang nói nhỏ với cô bạn ngồi bên cạnh:

- Đám cưới mà đứng cười rúc rúc như động cỡn không bằng, lại còn ỏng a ỏng ẻo nữa chớ, đồ không biết dị!

Cô bạn ngồi bên người đàn bà, bênh:

- Con gái mới lớn, không học hành đàng hoàng, chừ lấy được anh chồng có nghề có nghiệp, hỏi không mừng sao được. Nếu em như Ti Em, em cũng mừng "quớ ống điếu" lên đó chị.

- Ai không biết. Nhưng tại tau thấy hắn đã đớt như… trợt giữa cươi, tau ghét! Thôi ăn hèo.

Chú Vang cũng như tôi cùng trộm nghe được cuộc đối thoại nho nhỏ của hai thực khách cùng bàn. Chú nóng mặt, gắp một miếng chả bỏ vào chén cô gái lên tiếng bênh Ti Em. Nhưng chú lại mỉa mai người đàn bà mắng sau lưng Ti Em:

- Mời cô - Chú gắp thêm miếng nem bỏ vào chén người đàn bà, nói tiếp- Mời chị. Có người không đã đớt, chẳng ỏng a, ỏng ẹo lại hai ba chồng lận chị ơi!

Đích thị người đàn bà vừa được chú Vang mời miếng nem đã có hai đời chồng. Nghe vậy chi ta nghẹn họng không nói gì. Một lát, chị ta lấy lại bình tĩnh, chị háy chú Vang một cái sắc lẻm rồi gắp miếng nem bỏ lại dĩa và trả đũa chú Vang:

- Đây không ăn được đồ sống, đồ sít, đồ của nổi, của phù vân…cám ơn!

Chú Vang hấc mặt, trợn mắt, hỏi:

- Chị nói ai của nổi?

- Người đàn bà thấy bản mặt sần sùi tím lịm của chú Vang phải xanh mặt, ấp úng:

- Tui nói tui. Đụng chi anh rứa hèo!

Tôi sợ hai người nói qua nói lại mất hoà khí, mất vui. Trong khi đám cưới không nên để bể ly, bể chén. Theo các bà già xưa đã nói, để bể ly, bể chén thì cặp ấy sẽ tan vỡ. Tôi nháy mắt ngụ ý bảo chú Vang dừng cuộc đấu khẩu. Đúng lúc ấy, Cường Loa vác cái mặt tai tái vì bia, rượu bạn bè chúc, cùng Ti Em uốn éo đi tới bàn chúng tôi. Cường Loa đưa ly bia lưng lửng ra mời:

- Mời chú, mời anh, mời hai cô, mời chị…- Rồi cụng vào ly tôi, Cường Loa mời tiếp - Mời ông anh, cạn với thằng em kết nghĩa này một ly cho trọn vẹn nào.

Tôi cụng ly Cường Loa xong định đưa lên uống. Chú Vang kéo tay tôi lại:

- Khoan! Để tui rót cho Cường Loa đã chứ. Chơi ăn gian vậy là không được à nghen.

Nói xong, chú Vang đứng lên lấy chai bia rót vào ly của Cường Loa. Cường Loa đưa ly bia sánh vàng bọt trắng, mời:

- Vô!

Cường Loa cùng Ti Em đi chúc bàn khác. Tiệc gần tàn tôi mới thấy Minh dẫn vợ đến bàn tôi, ngồi vào chỗ người đàn bà và cô gái đã đứng dậy ra về. Minh nói:

- Mình chạy qua xưởng thấy vắng teo, nên chở vợ thẳng ra đây luôn. Không thôi anh em mình ngồi với nhau một bàn, vui rồi. Ngồi với mấy ông lão đầu đó, ăn không ngon n…ơơ…nơi…

Tôi không trả lời Minh mà gọi anh Ti Em đang chạy vào, chạy ra bưng bê, chào đón thực khách giúp cho chú thím Con. Tôi bảo, còn gì không, bảo đầu bếp bưng lên đây một ít, để anh em xưởng Gia Nghi mình nhậu tiếp. Anh của Ti Em cười nói:

- Xong ngay!

Rồi chạy ra sau bếp. Lúc ấy cô Vân đưa anh bồ mới quen đến chào chú Vang và tôi. Tôi cũng mời cô Vân và bạn trai Vân ngồi nán chút nữa. Vân tự nhiên ngồi sát bên anh bồ có vẻ quê mùa, chất phác và nhìn chú Vang đang lè nhè chửi người đàn bà đã nói chạm quá khứ chú. Tôi sợ chú Vang say hư việc. Tôi bảo cô Vân:

- Em coi chỡ chú Vang về. Anh thấy chú chịu không nổi rồi.

- Dạ- Cô Vân xay qua anh bồ, nói - Anh chờ em đưa ba về rồi trở lại nghe.

Trưa đó, tôi ngồi nán một lát với Cường Loa và Ti Em cùng với gia đình chú Con. Trước khi đứng lên chia tay vợ chồng Cường Loa, tôi bảo Hằng thay mặt tôi chúc Cường Loa và Ti Em. Nhưng vợ tôi vẫn tính rụt rè muôn thuở lại dúi chiếc phong bì đựng một triệu rưỡi đồng Việt Nam qua tay tôi, lí nhí:

- Em không biết. Anh nói đi!

Tôi đứng lên trước mặt chú thím Con và vợ chồng Cường Loa, nói:

- Xưởng Gia Nghi có thông lệ tặng cho thành viên của xưởng cưới vợ hoặc lấy chồng trọn một tháng lương. Và đây cũng là tình cảm của vợ chồng mình đó Cường Loa à. Chúc hai bạn bách niên giai lão.

Cường Loa nhận phong bì rồi đưa cho Ti Em, nói:

- Thằng em…thằng em…được như hôm nay…

Đang nói ngang đó. Cường Loa quay mặt… khóc!? Cả bàn lại cười oà. Tôi nghĩ, Cường Loa bị bạn bè chuốt rượu chắc say rồi, liền nói với Ti Em:

- Ti bảo nhà hàng pha cho Cường Loa một ly nước chanh thật chua để giả rượu. Để hắn quẹp đi, đêm tân hôn không làm ăn chi được, phiền lắm.

Ti Em cũng nguýt tôi một cái rõ dài rồi dìu chồng đi vào trong.

Vợ tôi sinh ra và lớn lên ở Hội An. Cả đời chưa đi đâu xa hơn Huế. Tuy đã ra Huế hai, ba lần nhưng chưa có dịp đi đây đó tham quan thành quách, lăng tẩm,cung điện nhà Nguyễn. Nhân dịp xưởng Gia Nghi nghỉ việc dự đám cưới Cường Loa và Ti Em. Tôi bảo Hằng gửi con cho mẹ Hạnh rồi chở vợ sang Đại Nội. Bước qua cửa Ngọ Môn, tôi đem hết sự hiểu biết của tôi qua những đêm đọc sách báo trong thời gian ở trại cải tạo, thuyết minh cho vợ:

- Em biết không đây là mảnh đất dựng nghiệp của dòng họ Nguyễn. Chín đời cha ông nhà Nguyễn ở đây. Em biết vì sao vua Gia Long chọn mảnh đất nằm ở trung độ đất nước để làm kinh đô cho triều đại mình không? Bởi Huế nằm giữa miền Trung Việt Nam, trong vùng nhiệt đới gió mùa, bốn mùa rõ rệt, là một vùng non xanh nước biếc, phong cảnh kỳ tú trải dọc theo bờ sông Hương xuôi ra biển Đông. Huế từ thời các chúa Nguyễn từng được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong: Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long năm 1635-1687; Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát dời phủ về Phú Xuân trong những năm 1687-1712; 1739-1774. Nhưng từ năm 1306, thành phố Huế là một trong những tặng phẩm tình yêu của vua Chế Mân nước Chiêm Thành với công chúa Huyền Trân, nhà Trần nước Việt. Ngày nay Huế càng nổi tiếng bởi nhiều danh lam thắng cảnh và quần thể di tích Huế đã được UNESCO công nhận là di sản kiến trúc thế giới - bài thơ đô thị - và nhiều di tích lịch sử - văn hóa khác đã được Nhà nước xếp hạng.

Ngoái đầu lui sau, Hằng hỏi tôi:

Đây là cửa gì to lớn vậy anh?

- Cửa Ngọ Môn. Cổng chính giữa Ngọ Môn dành riêng cho nhà vua và Hoàng thân quốc thích; hai cổng hai bên dành cho quan văn, quan võ, hai cổng ngoài cùng dành cho quân lính và voi, ngựa. Đây là một công trình kiến trúc hoàn chỉnh, một trong những công trình to lớn nhất của Hoàng Thành. Dưới thời vua Gia Long, ở đây có một cửa nhỏ gọi là Nam Khuyết Đài. Năm 1833, vua Minh Mạng xây dựng Ngọ Môn, sau khi quy hoạch tổng thể kiến trúc đại nội. Đây là cửa phía Nam. Hồi nhỏ anh đứng trên đàn Nam Giao nhìn thẳng về hoàng thành, thấy cờ đỏ trên kỳ đài bay phấp phới. Như vậy, ngai vàng trong Điện Thái Hoà - Tôi chỉ tay vào Điện Thái Hoà - day mặt về hướng Nam, gọi là Nam diện, người làm vua quay mặt về hướng Nam cai trị thiên hạ. Ngọ Môn có lầu Ngũ Phụng, có 5 cổng ra vào tượng trưng cho Ngũ hành: Kim, Mộc. Thuỷ, Hoả, Thổ. Cổng tụi mình mới đi qua là Hữu giáp môn đó em.

Hằng ngước mắt nhìn tôi khâm phục. Tôi hứng chí huênh hoang:

- Vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, kể từ khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế. Kinh Thành Huế khởi công xây dựng năm 1805, diện tích 520 ha, 10 cửa chính đó là cửa Hậu nằm chính Bắc, cửa An Hoà nằm Tây Bắc, cửa Chính Tây phía Tây, cửa Hữu phía Tây-Nam, cửa Nhà Đồ nằm chính Nam, cửa Quảng Đức; cửa Ngăn còn gọi là cửa Thể Nhơn, cửa Thượng Tứ nằm hướng Đông-Nam, cửa Đông Ba nằm chính Đông và cửa Kẻ Trài nằm phía Đông Bắc kinh thành Huế.

Hằng lại hỏi:

- Anh kinh thành Huế ở đâu?

- Ngốc ơi là ngốc. Hột mít của tui ơi! Vợ chồng ta đang đi trong kinh thành Huế đây nè. Ở đây, ban ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Kinh Thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng với ít nhiều kiểu kiến trúc quân sự phương Tây Vauban. Kinh Thành Huế được khảo sát năm 1803 - vua Gia Long - hoàn chỉnh vào năm 1832 triều vua Minh Mạng.

Dẫn vợ vào Điện Thái Hoà tôi nói tiếp:

- Đó là ngai vàng, chỗ vua ngồi day mặt về hướng Chính Nam đó.

Tôi đang đưa vợ nhìn ngắm ngai vàng của nhà Nguyễn thì gặp một đoàn khách tham quan đi vào. Tôi nghe cô hướng dẫn viên du lịch đang thao thao chất giọng Huế thuyết minh, tôi dắt vợ tới nghe ké:

"… Điện Thái Hoà được xây dựng từ năm 1805 đến 1806 thì hoàn thành. Cùng năm này vua Gia Long đã làm lễ lên ngôi vua chính thức tại đây. Nhà vua đã "định triều nghi mỗi tháng lấy ngày mùng một và ngày rằm đặt tại triều ở Điện Thái Hoà, quan từ lục phẩm trở lên phải mặc áo mũ đại triều vào chầu". Vào đời vua cuối nhà Nguyễn, trong những buổi lễ đại triều được tổ chức ở ngôi điện này, và sân chầu trước mặt nó, người ta thấy đủ các quan từ nhất phẩm đến cửu phẩm tham dự. Đây là nơi triều đình nhà Nguyễn cử hành các buổi đại lễ thường kỳ và bất thường kỳ khác, như lễ Đăng quang, lễ vạn thọ, Lễ Tứ-Ngũ tuần đại khánh tiết, lễ Hưng quốc Khánh niệm. Trong tất cả buổi lễ ấy vua ngự trên ngai vàng, chỉ có hoàng thân mới được "thượng điện" để đứng chầu hai bên Ngự toạ, còn tất cả các quan thuộc bách lính đều sắp hàng ngoài sân theo thứ tự phẩm trật và theo nguyên tắc tả văn, hữu võ"

Tôi tiếp tục dắt vợ đi xem Thế Miếu, Cửu Đỉnh, vào Cung Diên Thọ, Cung Trường Sanh, Phủ Nội Vụ và vào Tử Cấm Thành. Hằng hỏi tôi, Tử Cấm Thành mình giống như Tử Cấm thành bên Trung Quốc mà em đã xem trong phim không? Tôi nói:

- Có lẽ cũng gần giống nhưng nhỏ hơn. Anh thấy Tử Cấm Thành bên Trung Quốc đồ sộ hơn nhiều, nhưng anh cũng thấy trong phim thôi, thành ra nói sợ không chính xác. Theo anh biết, Tử Cấm thành của mình, nguyên gọi là Cung Thành, được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 2 là năm 1803, năm Minh Mạng thứ 2 là năm 1821 đổi tên thành Tử Cấm Thành. Thành có bình diện hình chữ nhật, cạnh nam, bắc dài 341m, cạnh đông, tây dài 308m chu vi 1300m. Tường thành xây hoàn toàn bằng gạch vồ, dày 0,7m, cao 3,7m. Ở mặt trước, phía nam là cửa chính Đại Cung Môn, kết cấu hoàn toàn bằng gỗ, lợp ngói lưu li vàng. Mặt bắc có 2 cửa Tường Loan và Nghi Phụng. Mặt đông có hai cửa Hưng Khánh và Đông An, về sau lấp cửa Đông An, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường.. Mặt tây có 2 cửa: Gia Tường và Tây An. Tất cả các cửa thành ở ba mặt đông, tây, bắc đều xây bằng gạch và vôi vữa, mái chồng nhiều tầng, làm giả ngói. Bên trong Tử Cấm thành bao gồm nhiều công trình kiến trúc qui mô trong nhiều khu vực.

Đúng lúc đó vợ chồng tôi lại gặp đoàn du khách đến. Tôi bảo vợ đến nghe thuyết minh cho đầy đủ hơn:

"Tử Cấm Thành là khu vực kiến trúc cung điện nằm chính giữa mặt bằng kiến trúc của đại nội. Khu vực này được quy hoạch và khởi công xy dựng từ đầu thời Gia Long. Nó được kiến ttrúc chính thức vào năm 1804 với tên là Cung thành. Đến năm 1822, triều đình Minh Mạng đổi tên là Tử Cấm Thành. Danh xưng này được dùng mãi về sau. Đây là khu vực mà phần lớn các cung điện nhà cửa trong đó đều dành riêng cho gia đình nhà vua ăn ở và sinh hoạt, cho nên chung quanh có xây một vòng tường thành để bao bọc thật kín đáo…".

Cô hướng dẫn viên vẫn thao thao. Đứng bên tôi vợ tôi há miệng nghe. Bỗng vợ tôi chất vấn tôi:

- Cô ấy nói Tử Cấm Thành xây dựng năm 1804 sao anh nói 1803?

- Ngốc ạ. Anh nói khởi công. Cô ấy nói chính thức. Ai nói cũng đúng cả

Lúc đấy gần chiều rồi, sợ bé Gia Nghi vắng mẹ lâu quá lại khóc nhè. Tôi kéo tay Hằng:

- Về cả con khóc.

Xem ra Hằng vẫn còn nuối tiếc, tôi lại bảo:

- Em là dâu Huế, sẽ còn nhiều dịp vào Đại Nội lo chi. Mai mốt con lớn, em còn có trách nhiệm giới thiệu cho các con của chúng ta biết về Huế như thế nào chứ. Thôi về!

Hôm sau, tôi đang gò xe rùa, nghe điện thoại di động reng… nhìn vào máy, tôi biết mẹ tôi từ Hội An gọi ra. Bụng tôi nghĩ chắc bà đau ốm gì đây? Bà vẫn thường than đau đầu. Những lúc ấy, tôi nói: "Nếu mẹ bỏ uống bia rượu, hút thuốc lá hết đau cho coi". Nhưng mẹ tôi không nghe. Tôi bực lắm. Bởi vậy, khi tôi ở Hội An, tôi ở bên nhà vợ. Tôi ở Huế, vợ tôi mới bồng con sang nhà mẹ tôi ở cho có bà có cháu. Nhà mẹ tôi cách nhà cha mẹ vợ tôi một con hẻm. Gần gũi với bà nội từ thơ bé, con gái tôi rất thương bà nội. Hồi mới ra quê cha, thỉnh thoảng con gái tôi đang chơi, chợt khóc ré lên đòi mẹ: "Về nhà, về nhà". Ba tôi nói với cháu gái: "Nhà đây rồi chớ đâu nữa mà đòi về. Đưa ôn cõng đi chơi cho ba mẹ cháu làm." . Con gái tôi vẫn mè nheo. Vợ tôi doạ: "Nội Yến bị công an bắt rồi". Con bé lắc đầu nói: "Không, không, ội uốn à phê chưa về". Tôi biết mẹ tôi và con gái tôi quấn quýt nhau. Cũng có thể bà nhớ con bé, điện ra bảo vợ tôi bồng cháu vào đây?. Tôi đưa máy lên:

- Mẹ hả. Chuyện chi vậy mẹ?

Đúng như tôi nghĩ:

- Mẹ nhớ con bé quá. Cháu mạnh giỏi không?

- Dạ khoẻ.

- Nhớ đừng cho nó nhìn vào lửa hàn hư mắt nghe con.

- Biết rồi. Chừ bé đi nhà trẻ, có ở nhà đâu mà nhìn.. Khi bé về, xưởng đã nghỉ hàn, giờ cao điểm để bà con nấu cơm, nấu nước, không thôi họ phàn nàn.

- À… Nô nì! Có anh Thảo mô nào gửi thiệp mời đám cưới cho con đây. Anh ghi số điện di động nữa.

- Thảo ở đâu mẹ?

- Mẹ thấy ghi ở Duy Xuyên đó.

Tôi nhớ lại thằng Thảo lùn xịt, từng sống chung với tôi một thời gian trên trại cải tạo cho đến khi Thảo qua đội mười. Sau này mỗi đứa mỗi việc, hai đứa ít khi gặp nhau. Thế là Thảo đã mãn án rồi. Tôi nói:

- Mẹ đọc số máy của nó cho con.

Mẹ tôi đọc cho tôi ghi số điện thoại xong. Bà nói:

- Nếu vợ chồng con dự đám cưới nhớ bồng cháu vào cho mẹ thăm nghe, mẹ nhớ cháu lắm! Và cu Nô đem cuốn hồi ký của ba con tặng mẹ hồi đó vào cho mẹ luôn.

- Dạ, để coi đã. Thôi con tắt máy đây.

Tôi bấm hàng số mẹ tôi mới đọc. Chuông máy ở bên kia đổ. Tôi nói:

- A Lô.

- Ai đó.

Tôi suýt bật cười vì nghe một câu hỏi qúa tự nhiên, như nói chuyện trực diện. Tôi nói tiếp:

- Hoàng thường gọi Nô đây.

- Mi đang ở đâu?

- Ở Huế chơ biết ở đâu bây gìơ.

- Hồi trong trại mi đưa địa chỉ cho tau ở Hội An.

- Lúc đó tau giận bà dì tau, tau nghĩ khi ra tù tau không ở với bà. Chừ tau không ở Hội An, tau ở Huế mở tiệm gò hàn.

- Làm ăn được không?

- Tàm tạm.

- Tau tưởng mi ở Hội An, tau gửi giấy mời cho mi rồi. Té Huế lận. Xa vậy, mi có dự đám cưới tau được không?

- Bạn bè mi hỏi chi tức cười vậy Xa mấy tau cũng dự chứ đừng nói Duy Xuyên. Ê mi về bao lâu rồi mà bày đặt làm đám cưới oai ghê vậy?

- Nửa năm. Tau quen cổ hồi chưa đi tù lận, cha mẹ tau định cưới cổ thì tau bi "thua nguội" vô tù. Giờ về, cha mẹ tau tức tốc cưới cổ cho tau để buộc trách nhiệm vào tau, dân quê mà. Tau phải lo làm ăn không long nhong theo bạn bè chơi hoang, có ngày 'thua đậm" tàn đời. Mới về lu bu quá tau chưa liên lạc với mi được. Khi đi sắm đồ cưới, tau nhớ địa chỉ của mi ở phố Hội, tau nghĩ cũng gần nên mời mi dự cưới cho biết quê tau luôn. Nhớ vào dự đám cưới tau, tau kể nhiều chuyện trên trại cho mi nghe, hay lắm. Nhớ nghe. Thôi tắt cả tốn tiền. Quên, mi đi xe đò thì xuống thị trấn Mỹ Xuyện. Mi chạy xe máy à? Chạy đấn cây số mười ba điện tau đón nghe.

- Tất nhiên rồi.

Tôi nhớ một mẫu chuyện đọc đâu đấy, khi một ông giám đốc phỏng vấn tuyển nhân viên qua điện thoại. Ông trả lời qua máy, cơ quan ông không thu nhận nhân viên nữa. Tuy nhiên ông cũng hỏi thăm cô đôi điều về khả năng thực tế và hoàn cảnh gia đình của cô. Cô ấy bảo ông hãy đọc trong hồ sơ cô đã gửi và đề nghị ông tắt điện thoại để cơ quan ông khỏi tốn tiền vô ích. Cô tắt máy. Một lát sau, cô nhận điện thoại từ ông giám đốc. Ông nhận cô vào làm việc. Cô ngạc nhiên hỏi. Ông trả lời rằng, cơ quan ông nhiều người, nhưng chưa có người biết tiết kiệm giờ giấc, điện nước cho ông, cho cơ quan ông. Ông tin cô sẽ là một nhân viên biết tiết kiệm, nên ông nhận cô vào làm việc. Tôi cũng tin Thảo sau này cũng sẽ có cuộc sống đầy đủ nhờ bản tính cần cù cho mình, tiết kiệm cho người khác, tất nhiên rất tiết kiệm cho mình, mà tôi đã cảm mến khi còn sống chung trên trai cải tạo.

Dạo này, xưởng tôi nhận thêm Cu vào làm. Cu là bạn của tôi hồi tôi còn học trung học và cả trong tù. Hồi ở trại tạm giam (lao chính). Cu ra tự giác luôn để tâm giúp đỡ tôi. Khi Cu được tha về, Cu đã mua một chai rượu ngon và một cây thuốc ngựa, dụt mắc trên hàng rào dây thép trong cùng của nhà lao. Chúng tôi đã dùng sào tre, đứa canh cán bộ, đứa canh tự giác khèo chai rượu xuống, cây thuốc không khèo được, dấu trong bụng đem về buồng giam để dành nhâm nhi suốt mấy đêm. Những giọt rượu cho những người tạm giam rất quý hiếm. Một điếu thuốc ngựa có khi lên tới mười ngàn đồng. Một ly rượu hai, ba chục ngàn cũng không thể tìm mua đâu trong nhà giam! Tôi luôn nhớ giọi rượu quý giá ấy nên khi Cu đến chơi tôi bảo Cu nghỉ chạy xe thồ, ở đây đi giao hàng và chạy vật liệu cho xưởng. Cu đồng ý cái rụp. Hôm tôi quyết định đi dự đám cưới Thảo. Tôi giao công việc ở xưởng cho Cường Loa cai quản; việc chạy vật liệu, giao hàng cho Cu. Tôi mua vé đưa xe máy cùng vợ con lên tàu đi Hội An.


    CÒN TIẾP....


 
                     


© Bản Quyền của Tác Giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC