TÁC GIẢ
TÁC PHẨM






. Tên thật: Nguyễn Văn Vinh
. Quê quán Bình An, Thuỷ Xuân, thành phố Huế
. Sinh ngày 27 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1952)
. Hiên cư ngụ tại Trần Thái Tông, thành phố Huế

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. NGƯỜI ĐI SĂN HOÀNG HÔN - Nhà xuất bản Thuận Hoá 1995 (tập truyện ngắn)

. NỖI BUỒN KHÔNG DÁM GỌI TÊN - Nhà xuất bản Công an nhân dân 1999 (tập truyện ngắn)

. NGỌN ĐÈN VẪN TỎ - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2006 (tập truyện)

. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2007 (truyện dài)

(Đã đoạt giải văn xuôi trong cuộc thi "Những kỷ niệm dưới mái trường" do Kiến Thức Ngày Nay tổ chức (1998) ; tặng thưởng trong cuộc thi truyện ngắn của Hội Văn nghệ Đồng Nai tổ chức (1996) và nhiều truyện ngắn được các Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Thuận Hoá, Thanh Hoá, Công an Nhân dân, Văn Nghệ TP HCM, Văn Nghệ An Giang, Đồng Nai, Giáo Dục, NXB Trẻ.… chọn in thành tập truyện ngắn nhiều tác giả…)





TIỂU THUYẾT & TRUYỆN NGẮN


ĐẤT SAU MƯA
CÁI TÁT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 4
HAI BÀ MẸ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 8
KHOẢNG CÁCH EM VÀ TÔI LÀ GIÓ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI - Tiểu thuyết - Kỳ 9

























TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI

KỲ THỨ 9

PHỤC THIỆN

Trở về nhà, tôi theo chú Tùng đi buôn mai. Dạo này ở Huế rộ lên những toán buôn mai. Các ông chủ thích "nhập mai" Quảng Bình bởi sắc mai vàng hơn và nhiều cây mai kiểng có thế đẹp, như thế thác đổ… Thường ngày, chú cháu tôi đổ đầy bình xăng, chở nhau chạy "đạp mai" khắp hang cùng, ngõ. Nếu mua được mai kiểng chúng tôi để nguyên thế, nguyên cây cột xe chở vào nhà, tôi nhảy tàu xe vào sau ; mua được mai cây, chú cháu hì hục đào bới quanh cây, trục gốc, bó đất giữ bầu rễ lại, cắt thân tận gốc, tập trung ba bốn cây thuê xe bốc vào Huế nhập cho chủ mai. Chủ mua mai gốc về vô chậu, chờ thời gian gốc bật nhánh non, thuê thợ tạo thế, rồi mới tính bán cho các nhà giàu, đại gia, các Xí nghiệp ăn ra làm nên. Chúng tôi đi mua mai, bà con nông thôn rất mừng, xưa nay có ai hỏi mua mai nguyên cây bao giờ, họ coi "Của đổ mà hốt" thường bán cho chúng tôi giá rẻ không ngờ. Chúng tôi nhọc công một chút, chở vào Huế mỗi cây lời gấp năm, gấp sáu, gấp mười. Do vậy, thanh niên Huế chia nhau thành nhiều tốp chạy xe lùng sục khắp miền. Từ đó bà con ở quê biết nâng giá, ép giá. Khi bà con biết giá trị của cây mai mọc hoang sau vườn cũng là lúc mai cây cũng cạn, phải chờ mười lăm, hai mươi năm nữa mới có mai. Bởi vậy, những tháng sau này, có ngày chú cháu tôi cũng "Ột" toe tua, xách xe chạy khan sáng đến chiều. Chú tôi kéo thêm bạn bè mở đường mới vào Hội An, Quảng Nam. Mai các tỉnh đấy tuy không được chuộng bằng mai Quảng Bình nhưng có còn hơn không. Được vào Hội An lùng mai tôi rất mừng. Chuyến nào chú cháu và các bạn của chú vào buôn mai Hội An, cũng ghé ở lại nhà chị Ni tôi. Tôi thì ở nhà cha mẹ vợ, ngày đi làm cây, tối ngủ với vợ con. Đào được năm sáu cây đủ chuyến tôi mới theo anh em chở ra Huế, bán lấy tiền, lại chạy xe trở vào chạy "đạp mai" tiếp. Rồi Hội An cũng cạn mai. Huế cũng ngừng nhập mai, phong trào buôn mai lụi tàn. Tôi lại thất nghiệp! Và bỗng nhiên Huế lại nổi lên nghề buôn "cây xanh" vào thành phố Hồ Chí Minh. Người thành phố nhập đủ loại cây, những cây nào cũng em em cây cổ thụ càng có giá. Họ còn mua cả cây vả, cây bồ quân, sung …nhưng ăn nhất vẫn là cây hoàng hậu, đường kính phải từ 15cm lên 20cm trở lên. Tôi biết thành phố có nhiều khu đất mới, khu công nghiệp và nhiều ngôi biệt thự sang trọng nhưng thiếu cây xanh, nên nhập cây ở miền Trung vào để tạo không gian tươi mát cho những công trình, nhưng ngôi nhà lộng lẫy, bề thế ấy được gần gũi với thiên nhiên. Nếu trồng thì cũng vài chục năm cây mới đem lại bóng mát cho người. Đi trục cây hoàng hậu, tuy gỗ tạp, nhưng cây nào cũng to cao bốn,, năm thước. Chú tôi lập một nhóm gần mười người, chia nhau chạy ra ngoại ô, về các huyện mua được cây nào liệu sức, liệu thế đào bới, đóng bầu giữ rễ, chặt bớt nhánh cho gọn rồi xeo bẫy chở về ương trên bãi đất trống, chờ đủ một chuyến xe tải, mới thuê xe cẩu ; cẩu lên xe, đóng hàng đi Nam. Chú tôi và tôi đi được bốn chuyến hoàng hậu. Chuyến nào nậu nhập cây cũng giữ lại vài chục triệu để bảo hành, phòng cây bị phạm rễ chết khô. Đến chuyến thứ sáu, đầu nậu cây chỉ đưa một phần ba tiền, hẹn chuyến sau chú tôi vào nhận đủ. Chỗ quen biết lâu nay, chú tôi đành cầm tiền tạm ứng ra thanh toán tiền công, tiền xe cho công nhân. Khi trở vào lấy nợ thì anh chàng nậu cây đó trốn biệt! Chú cháu tôi vô ra nhiều lần tốn tiền tàu xe lẫn ăn tiêu vẫn không đòi được nợ, cạn vốn chú tôi bỏ phải nghề. Hơn nữa nghề mới nhanh bộc phát cũng nhanh lụi tàn Một thời sau thành phố không nhập cây xanh miền Trung nữa. Tôi lại ở nhà ăn chực nằm chờ cơm gia đình cha mẹ tôi.

Một bữa tôi sang nhà nội mượn bà nội ít tiền vào thăm vợ con. Hiện vợ tôi đang làm việc ăn lương tháng cho một hiệu vải ở phố Hội. Vợ tôi tròm trèm ít tiếng Anh, ngày ngày ngồi lì trong hiệu vải, bán vải cho Tây, chủ hiệu trả một tháng bảy trăm ngàn, đủ nuôi miệng và cho con gái tôi đi nhà trẻ. Tôi định vào bảo vợ hốt hụi cho tôi mượn ít vốn ra nhà mở tiệm gò, hàn. Khi tôi đi ngang cửa sổ, tôi nghe mệ tôi nói với anh Hiệu công an khu vực:

- Thằng Nô ưa mở tiệm gò hàn, không biết xin vay xoá đói giảm nghèo được không cháu?

Hiệu đăm chiêu:

- Cháu đã giới thiệu Hoàng với phụ nữ phường, nhưng Hoàng không đứng tên được mệ ạ. Mệ nói cô Hạnh đứng ra vay giúp. Phụ nữ phường rất muốn tạo công ăn việc làm cho Hoàng chắc cũng giải quyết thôi. Ăn thua Hoàng có biết lo làm ăn không thôi. Cháu chắc chị Hạnh vay là được.

Bà nội thấy tôi bước vào hiên, bà hỏi:

- Nô, mẹ Hạnh cháu có nhà bên không? Kêu sang đây mệ bàn chuyện ni một chút.

- Dạ có.

Mẹ Hạnh đứng ra làm đơn gửi phụ nữ phường, nội dung giúp vốn cho tôi mở tiệm gò hàn. Ban chấp hành phụ nữ ghi tên mẹ Hạnh tôi vào danh sách hộ nghèo đề nghị vay vốn ngân hàng chính sách xã hội. Một hôm mẹ Hạnh gọi điện bảo vợ tôi bồng con tôi ra chơi, tiện cho mẹ có việc cần bàn. Tôi hôm ấy ăn cơm xong, mẹ Hạnh gọi vợ chồng tôi lên ngồi lên bức ngựa cũ rồi vào phòng riêng lấy năm triệu đồng đưa vợ chồng tôi:

- Đây là số tiền mẹ hứa cho con sau khi con cải tạo về. Vợ chồng con làm vốn. Ni mẹ đã cho chiếc Honda 78, Na mẹ cũng cho tiền cho làm giấy tờ đi xuất khẩu lao động ở Ma-Lai-Xi-A như hai con biết đó. Còn đây là phần của vợ chồng con.

Tôi cầm xấp tiền gói trong giấy báo từ tay mẹ Hạnh long rưng rưng. Cố trấn tỉnh tình cảm mình, tôi nói:

- Con mượn, khi nào làm ăn con có con trả lại mẹ sau.

Mẹ Hạnh cười:

- Hai con không phải trả. Đây là phần của Nô, con cứ nhận, đừng ngại. Mẹ dư giả mẹ còn cho các con nhiều hơn.

Trong đầu tôi lùng bùng hình ảnh mẹ ruột tôi ngôi hút thuốc, uống rượu và ngày nào cũng than mệt, than đau đầu. Rồi hình ảnh mẹ Hạnh nếu không đi dạy là lụi hụi làm việc nhà cả ngày không ngơi tay; tối lo cho con cái, đêm phải chong đèn soạn giáo án đến khuya. Tôi bỗng nghĩ sao tôi không là con ruột của mẹ Hạnh nhỉ? Được vậy, tôi cũng sẽ học giỏi như cu Phúc và không phải bị tù tội!? Tôi dưới mái ấm gia đình, quan trọng và thiết yếu hơn cả cho việc dạy bảo các con nên người, có lẽ một bà mẹ tốt, hơn người cha tốt. Nhìn vợ tôi mân mê những đồng tiền mẹ Hạnh cho, tôi có quyền tin tưởng vợ tôi sẽ nuôi các con tôi như mẹ Hạnh.

Vợ tôi nhìn tôi, hỏi:

- Nhìn chi em ghê vậy?

Tôi không trả lời, lại nói:

- Buồn ngủ quá, đi ngủ hèo.

Nói xong tôi giả vờ ngáp…

Vợ tôi cũng giả bộ miễn cưỡng bồng con vào giường ấp bé ngủ và nói:

- Chưa tối đã ngủ, như gà ơ…anh!

Vợ tôi, bà nội tôi chạy thêm cho tôi ít tiền nữa, tôi mua cưa máy, máy khoan, sắt và đồ hàn mở tiệm làm cửa sắt lấy tên Gia Nghi. Tiệm gò hàn, cửa sắt của tôi được che từ mái hiên sau nhà ba tôi. Nhà ba tôi xây mặt vào nhà nội, hiên sau còn một miếng đất thừa thẹo gần năm mươi mét vuông, sát con đường nhựa mới làm. Từ khi có đường nhựa cô bác xóm tôi ở dãy nhà xây lưng ra con đường đất cũ đã thi nhau trở hướng nhà quay mặt ra đường. Ba tôi không a dua theo chòm xóm. Ba tôi cho rằng: "Tuổi ba nhà day mặt hướng Đông hạp tuổi ba và hưởng nhiều dưỡng khí hơn, được ánh nắng mặt trời vào thời điểm tốt nhất trong ngày ; nhà xây mặt hướng Tây bị ánh nắng trưa chiều gay gắt, có khi bị nắng quái, hại sức khoẻ". Tôi không quan tâm đến vấn đề tuổi tác, phong thổ, hướng nhà, hướng bếp, cửa ngõ như ba tôi. Tôi khao khát có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống, nuôi vợ con, không để vợ một nơi chồng mộ ngả, một cảnh hai quê như thế này rất khó tiện tặn, để dành. Nhưng ngày khai trương tiệm gò hàn, làm cửa sắt Gia Nghi, bà nội tôi cũng mua bông hoa quả phẩm cúng thổ thần đất đai. Cầu các vị thiêng liêng, hữu vị vô danh, hữu danh vô vị, kẻ khuất mặt khất mày phù hộ cho tôi làm ăn phát đạt. Tôi biết rõ, không phải nhờ nội cúng cầu mà nhờ tay nghề tôi tinh luyện mới được nhiều nơi đặt hàng. Ban đầu là bà con trong xóm muốn giúp đỡ tôi. Nhà ai xây nhà, làm tường rào, cửa sắt đều tới đặt tôi làm. Dần dần tiếng tăm tiệm gò hàn tôi lan sang phường khác, nhiều cơ sở nhỏ, chủ thầu tư nhân cũng tìm đến thuê tôi làm. Tôi biết xóm giềng thương tôi ở trại về chưa có việc làm và cũng do lời giới thiệu tốt của anh Hiệu công an cũng như các chị phụ nữ phường, bà con mới nhanh chóng tin tưởng tôi đến thế. Ngoài ra, tất nhiên tay nghề của tôi đã đến hồi tinh luyện và sản phẩm, mẫu mã của Gia Nghi làm ra, ai cũng hài lòng. Cầm những đồng tiền từ mồ hôi nước mắt mình, tôi rất sung sướng và tự hào. Trong lòng tôi lại thầm cám ơn những ngày tháng ở trại, nơi tôi đã trui rèn nhân cách và rèn luyện thêm tay nghề trong điều kiện khắc nghiệt nhất và trong quằn quại nước mắt của tôi. Tôi cũng biết ơn khu phố tôi, nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Xóm giềng đã giúp đỡ tôi rất nhiều, kể cả lúc tôi đi hái củi bị té cây phải vào viện mà danh sách ba tôi còn lưu giữ đến bây giờ và chín năm trường bà con đã giúp ba tôi làm anh gà trống nuôi bốn chị em tôi qua ngày đoạn tháng.

Cũng nhờ khu phố tôi từng bước phồn vinh, tiến lên hiện đại hoá, nhà nào cũng cơi nới, lên tầng, làm cửa, làm ngõ khang trang, nhưng tình người không hiện đại hoá và vô tâm như người ở thành phố công nghiệp lớn khác. Tôi say mê nghề bởi tôi đã tự học nghề trong gian khổ, nên tôi mê mải cặm cụi gò, hàn, cưa, khoan… suốt sáng chiều, mỗi ngày làm việc hơn tám tiếng đồng hồ, có khi thâm đêm. Mỗi khi soi gương, tôi thấy tôi trong gương là một anh thanh niên cao dong dỏng, tay chân nám đen, mặt đỏ lựng như say rượu vì khói hàn. Ấy vậy, tôi làm "tắt quạt" vẫn không kịp trả hàng cho khách. Ba tôi bảo tôi mê cái gì cũng từ từ mới bền và thấy tôi hay làm giúp cho bà con trong xóm những việc vặt như mài giúp chiếc rựa, hàn giúp chân ghế gãy, uốn giúp chiếc lề cửa, khoan hộ vài lỗ tôn… ba tôi nói:

- Làm túi mắt túi mũi là tốt rồi. Nhưng phải biết giữ gìn sức khoẻ và tiết kiệm càng tốt hơn. Con sắm đồ nghề hơn chục triệu mà không sắm được cái gương bảo hộ.

Tôi tắt lửa hàn, nói:

- Ba không biết đó, đeo mặt nạ bảo hộ vào bất tiện lắm, con quen rồi.

Ba tôi thấy bác Thuận chở mấy ống nước bác dồn lâu nay đến nhờ tôi cưa vài nhát, hàn vài mối để anh làm giá phơi áo quần. Tôi vui vẻ giúp bác không lấy tiền công. Đợi bác về ba tôi nhăn nhó:

- Con phải biết tiết kiệm. Ngày hao một chút thôi, một tháng cũng cả chục, cả trăm tiền điện. Con đừng nghĩ lỗ nhỏ không đắm thuyền. Để cho người ta lợi dụng là dại.

Tôi nói xẵng:

- Ba tưởng con "não đất sét" à. Không có qua sao có lại. Nói thật với ba, ở trên trại cải tạo con biết rồi, mình chịu thiệt một chút hoặc mình giúp người chung quanh một chút, đôi khi được lợi lớn. Cái chi ba cũng hà tiện quá.

Ba tôi giận tôi bỏ vào nhà. Tôi ngồi hối hận vì đã nói lại với ba. Nhưng ba tôi không chịu hiểu cho tôi. Tôi được bà con xóm giềng đặt hàng, có lẽ cũng từ những lần tôi giúp họ từ những việc nhỏ nhặt, không lấy tiền như hàn giúp bác Thuận cái giá phơi áo quần, chẳng hạn. Ba già rồi không hiểu đó là nghệ thuật, thả con tép câu con tôm của tôi. Một hôm tôi không đeo gương bảo hộ, bị một mảnh gang từ lưỡi cưa điện bay vào mắt. Tôi phải ôm mắt đi viện. Bác sĩ gắp ra một vật lạ, đó chính là mảnh bụi gang từ lưỡi cưa. Lúc này tôi mới thấy ba tôi thường bảo "An toàn là bạn, tại nạn là thù" là đúng. Từ viện về tôi đã có ý sắm một chiếc kính bảo hộ nhưng chưa rảnh đi phố. Khi tôi đang gò tấm bửng xe cho khách, anh Hiệu chạy xe đến. Anh vẫn ngồi trên xe, hỏi tôi:

- Hoàng bị mạt sắt bay vào mắt phải đi viện hả?

- Tài! Sao anh biết?

- Mệ nói. Thấy không can chi là mừng rồi. A, Hằng và con bé không ra thăm nơi à?

- Bữa ni mùa du lịch, Hằng mắc bán cả ngày, anh ạ. Anh đi đâu đó?

- Xuống địa bàn có chút việc. A Hoàng này, mình có cái gương mát dành đi biển. Hoàng lấy đeo hàn cho đỡ chói mắt.

Tôi tắt lửa hàn, đứng dậy đi đến bên anh lấy chiếc gương đen đeo vào, rồi trở lại ngồi hàn thử. Tôi thấy một ngọn lửa nhỏ léo sáng dịu dịu ở mỏ hàn. Tôi giở kính ra nói:

- Chà kính đeo vào mát mắt ghê. Anh dành mà đi nắng.

Anh Hiệu xua tay:

- Thôi, mình đeo gương này vào trông hình sự quá. Hoàng giữ lấy mà dùng.

-Cám ơn anh!

Nói xong anh Hiệu phóng xe đi. Tôi biết đây là chiếc kính mát hàng ngoại rất tốt. Tuy hết mô đen nhưng rất giá trị với một anh thợ hàn như tôi. Tôi ngồi bồi hồi khi biết anh Hiệu đã nghĩ đến tôi!

Tôi đang cắm cúi cưa mấy lẻ sắt cửa, thấy thấp thoáng đằng xa một anh thanh niên lò dò đi tới. Tôi không để ý, vẫn mải miết đè lưỡi cưa "rè…rè…" xuống thanh sắt, đến nổi cưa ma sát sắt quá lâu cháy mủn sắt bốc khét lẹt. Tôi nghe nhồn nhột sau ót, vội ngẩng lên, trong đầu tôi lại hiện rõ hình ảnh Hoàng Bạu ôm cái mặt máu. Đó là Cường Loa! Tôi hét:"

- Về lâu chưa Cường Loa?

Hỏi chưa dứt lời, tôi đã giở cưa lên, đứng bật dậy, tắt cầu giao, rồi kéo cái ghế ghế nhựa gần đó, mời Cường Loa:

- Ngồi đây mi!

Cường Loa ngồi yên vị trong ghế, mới thủng thẳng trả lời:

- Tau về nửa tháng rồi.

Tôi trách:

- Sao không đến tau sớm. Tệ!

Cường Loa không nói gì, ngồi lặng lẽ nhìn tiệm gò hàn, cửa sắt của tôi đang bừa bộn bao nhiêu là sắt cây, sắt ống nước, sắt chữ nhật, sắt chữ V, tôn tấm và một lá cửa sắt tôi vừa ráp xong. Cường Loa hỏi tôi mà như lẩm bẩm một mình:

- Cửa đẹp hỉ? Chắc nhà giàu lắm mới chơi bộ cửa ni.

- Chủ lò mì không nhà to cửa rộng à? Anh em ai ở ai về mi nói tau nghe với? Minh chưa về à?

- Minh nói năm tới mới được tha. Minh gửi lời thăm mi đó. Nghe bọn nói, mi có lên thăm anh em hai chuyến phải không? Không thấy bọn gửi chi cho tau hết.

- Ừ. Sau này tao bận không đi nữa. Mi cũng biết rồi, lên đó gần ba mươi cây số chơ ít sao, rồi phải chờ cả buổi mới thăm gặp được. Mi thấy tao công việc cả đống chưa làm xong đây nì.

- Tau biết.

Tôi gọi thằng Út em tôi đang sơn cửa, nghỉ tay, chạy sang thím Bê gọi năm chai bia. Khi Út trở về tôi bảo nó kéo chiếc bàn nhựa trong góc tiệm ra và đưa cho nó mấy chục, bảo nó đạp xe ra quán cháo lòng mụ Đồng mua ít lòng chín. Thường mỗi chiều làm xong, có bạn đến chơi tôi vẫn gọi vài chai bồi dưỡng, cho giãn gân cốt, cho đỡ mỏi mệt bởi đã quần quật cả ngày. Hôm nay gặp Cưòng Loa, tôi nghỉ việc sớm.

Hai đứa ngồi nhậu và tâm sự cho đến chập tối. Khi nghiêng ngã bước ra đường, Cường Loa quay lui, đổi cách xưng hô một cách mau lẹ:

- Anh Nô cho thằng em làm kiếm cơm với. Thằng em chân ướt chân ráo về đời chưa có việc chi làm hết anh Nô ơi!

Tôi cười thầm trong bụng. Khi trên trại có khi nào nó gọi tôi bằng anh và xưng "thằng em" đâu, dù nó nhỏ hơn tôi hai tuổi, nhưng lúc nào cũng mày mày, tau tau ; ngay vừa rồi nó cũng xưng mày tau bạt mạng với tôi. Giờ xin việc làm lại gọi anh, xưng em dẻo quẹo, thiệt là ba xạo. Việc tôi làm không kịp, thi thoảng tôi cũng thuê nhân công, khi không thể một mình cáng đáng được. Nhưng những người đó không phải là thợ hàn, thợ cửa sắt chính cống mà họ là thợ đụng, tôi nhờ việc gì họ làm việc đó, ưa thì làm không ưa thì nghỉ, nhiều khi tôi tức lộn ruột, nhưng phải nhịn vì mình cần người phụ việc. Còn Cường Loa học cửa sắt khi còn ở ngoài đời, giờ được trui rèn bao năm trong lò luyện thép nữa, chắc nó gò hàn "xịn" lắm. Nhưng tôi lại nói:

- Mình mới dọn hơn một năm chưa ai biết hết, ít khách đặt hàng lắm.

Cường Loa năn nỉ:

- Anh Nô cho thằng em làm, trả bao nhiêu cũng được. Thằng em không tệ đâu.

Tôi thấy cá đã cắn câu nhưng quan trọng hơn là quyết tâm của Cường Loa. Tôi vẫn giả vờ miễn cưỡng:

- Theo sức mi, mi làm cho tau, mi lấy ngày mấy chục?

- Cho thằng em mấy thì cho.

- Ngày hai chục được không?

- Được.

- Mai qua làm.

Cường Loa làm cho tôi được một tuần. Tôi thấy tay nghề của nó thật tuyệt vời, có khi còn hơn tôi, nhưng tại tính nó không chịu khó và mỗi khi bực mình một chút là loa loa cái miệng cãi quấy, thành ra khách chủ ít cảm tình với cái thằng luôn vác cái bản mặt đen thui, miệng loa hai vành mộ thâm xì, trợn trạo đó thôi. Tôi sợ tiệm gò, hàn, cửa sắt nào đó biết tay nghề của nó, dụ nó bỏ tôi, thì uổng. Tôi "tăng lương" cho nó lên ba chục ngàn, rồi bốn chục ngàn một ngày. Hai anh em chí thú làm ăn, ngày càng hiểu nhau, thân nhau, gắn kết như tình anh em cật ruột. Thời gian sau, tôi nghe Minh được đặc xá. Tôi chở Cường Loa đến nhà Minh thăm Minh. Sau đó tôi nhận Minh vào làm ở tiệm Gia Nghi của tôi. Cho dù Minh lớn tuổi hơn tôi, nhưng làm cửa sắt còn ú ớ lắm. Tôi vẫn cố trả cho Minh ngày ba chục với ý giúp bạn một thời gian nuôi vợ đợ con giai đoạn mới ra trại.

Một bữa tôi thuê chú Tuệ cùng tôi đi chở sắt về. Từ ngã ba tôi đã thấy Cường Loa cúi hàn, Minh ngồi cưa, thằng Út đứng quét sơn chống gỉ cho những sản phẩm Gia Nghi vừa ra lò. Thằng Út tôi chịu ở nhà sơn cho tôi là tiến bộ lắm rồi. Tuy nó sơn còn lem nhem, nhiều chỗ tôi phải cho Minh sơn lại, nhưng cũng hơn để nó đi chơi rong cả ngày. Tới gần, tôi mới phát hiện tiệm gò hàn của tôi ồn thật. Minh và Cường Loa thi nhau cưa, hàn xì, đục, chặt sắt chát chúa. Hèn chi ba tôi nói ngày nào cũng nghe xẹt xẹt, xì xì đau đầu quá. Thế mà tôi đã to tiếng với mẹ Hạnh khi mẹ Hạnh nói bóng gió là do ồn cu Phúc ngồi học bài không vô. Giờ bình tĩnh lại tôi thấy mình sai và nảy ra một ý, tôi sẽ ra đường nhựa thuê một quán mở tiệm cho ba và em tôi dễ tập trung, dễ học hành. Khi tôi phụ chú Tuệ xuống sắt, bà nội tôi sang tôi chơi, gặp tôi, nội hỏi:

- Nghe, anh Hiệu chỉ mối cho cháu hở?

Tôi biết bà nội hỏi tôi chuyện vừa rồi anh Hiệu giới thiệu cho tôi lên nhận làm bộ cửa sắt và tường rào khuôn viên trường Tiểu học Xuân Thuỷ. Tôi gật đầu:

- Dạ. Con mới tạm ứng cô Hiệu trưởng ít tiền mua sắt đây mệ.

Bà nội tôi lại nói:

- Mệ biết chơ. Anh Hiệu ưa bé Ri nhà mình, nên cái chi cũng ưu tiên cho con hết. Mai đây cũng anh em chú bác cả mà.

Bé Ri con Chú Dũng tôi năm nay học Đại học Sư phạm năm ba. Từ khi anh về làm khu vực này anh Hiệu đã để ý Ri. Hai người đôi lần hẹn hò đi chơi đâu đó. Nhưng chuyện anh giúp đỡ công ăn việc làm sau khi tôi về đời và giới thiệu tôi ký hợp đồng công trình Tiêu học Xuân Thuỷ, không phải do mối quan hệ với bé Ri, mà chủ trương của công an phường quan tâm những người tái hoà nhập với cộng đồng xã hội. Tôi nói:

- Không phải đâu mệ. Anh Hiệu quen cô Hiệu trưởng, cô nhờ anh tìm cho co một người thợ giỏi - Tôi cười và đưa hai bàn tay vấy ra trước mặt bà nội, nói tiếp - Đây, là ông thợ giỏi nhất phường đó mệ. Anh Hiệu tìm đâu ra người hơn con, mệ nhỉ? Anh gọi thợ dở, mất uy tín với cô Hiệu trưởng sao. Bắt buộc anh phải gọi con thôi mệ…hì…hì…

Bà nội tôi cũng cười, nói:

- Đừng nói trạng.

Sau khi nhà trường nghiệm thu công trình, thầy kế toán hài lòng thanh toán cho tôi đầy đủ. Thầy kế toán vui miệng nói đùa:

- "Trúng đậm", mời tụi này một chầu đi. Mai mốt tụi này giới thiệu cho bạn thi công bên trường cấp hai nữa.

- Tất nhiên! Thầy mời cô Hiệu trưởng giùm tôi có được không?

Thầy kế toán lắc đầu:

- Phụ nữ không biết nhậu. Thôi nữa, mình nói chơi cho vui đó. Anh quả là thật thà!

Dù thầy kế toán nói vậy. Chiều đó tôi cũng mời thầy kế toán và một thầy dạy giáo viên trưòng ra quán bà Đồng ngâm nga vài chục chai bia, lấy tình cảm. Tôi coi đây là tiền trà nước, môi giới trong làm ăn và cũng là một nghệ thuật quảng cáo thương hiệu mình. Khi chia tiền cho Minh, Cường Loa và thằng Út tôi bỗng sực nhớ anh Hiệu. Tôi đưa ý kiến bỏ bì tặng anh Hiệu hai trăm. Minh và Cuờng Loa nhất trí cái rụp. Chiều hôm sau, tôi sang đồn tìm anh. Gặp anh tôi kéo anh về phòng riêng và dúi bì thư vào tay anh:

- Chúng tôi vừa nhận tiền trên trường Tiêu học Xuân Thuỷ, tiền công cán, lời lãi cũng được vài "chai" (một chai một triệu đồng). Anh em đề nghị gửi anh "hai xị" (hai trăm) lấy thảo, anh uống bia cho vui.

Anh Hiệu xếp đôi bì thư và nhét vào túi áo trên của tôi:

- Bậy! Cất đi cả mình giận. Có phải mình dắt mối cho Hoàng đâu. Chỗ anh em, mình giúp gì được thì giúp. Mà cũng do uy tín của Hoàng đó chớ, nếu Hoàng làm kém, mình đâu dám giới thiệu cho Ban giám hiệu nhà trường. Cất đi! - Anh Hiệu vờ nghiêm mặt, nói đùa - Định hối lộ công an đó hả? Lập biên bản à nghe!

Tôi năn nỉ:

- Anh không nhận thì đi uống với tôi vài chai được không?

- Thôi, công an ngồi quán trong giờ hành chánh, cô bác thấy họ đánh giá, nghĩ thế này thế nọ, không nên.

Tôi hớt lời:

- Qua nhà tôi được không anh Hiệu? Có cả thằng Cường Loa và Minh nữa.

Anh Hiệu suy nghĩ một lát, rồi nói:

- Nể Hoàng mình sang. Nhưng mình chỉ uống một chai thôi. Mình cũng muốn nhờ Hoàng một việc.

Tôi nôn nóng:

-Việc chi, anh Hiệu nói thử tôi làm được không cái đã.

- Không có chi quan trọng. Chỉ cần Hoàng nhiệt tình. Chút qua nhà mình nói cho nghe.

Mời được anh Hiệu, tôi đi về nhà với lòng vui khấp khởi.

Anh Hiệu chạy xe Honda đến nhà tôi. Anh trắng trẻo thư sinh trong chiếc áo trắng bỏ vào chiếc quần tây xanh. Lần đầu tôi thấy anh mặc thường phục, trông giống như một anh sinh viên vừa bước ra từ một giảng đường nào đó. Lúc này, người lạ không thể nghĩ anh là một trung uý công an vốn chững chạc, đăm chiêu. Ba tôi từng nói: "Trong đời ba được gặp, được ngồi ăn cơm với ba vị tướng của ngành công an. Một vị Thứ trưởng, hai vị Cục trưởng. Ba gặp ông Thứ trưởng, khi ông thăm một trại giam Cục V26, ba được ăn cơm chung bàn với ông. Ông mặc cảnh phục trông nghiêm nghị, cứng rắn nhưng khi cười toát vẻ đôn hậu, dễ gần. Một lần khác ba được ngồi ăn cơm khác bàn với một vị Cục trưởng mặc thường phục, với mái tóc muối tiêu, cười nói hiền từ, trông như một nhà giáo hơn Thiếu tướng công an. Còn một vị Cục trưởng nữa, ba được chụp ảnh chung với ông, khi ông chở hàng cứu trợ cho bà con quê vợ trong một chuyến thăm quê sau trận lụt thế kỷ. Ông thật gần gũi và thân thiện! Nếu anh cán bộ Uỷ ban xã không giới thiệu, ba không thể ngờ đó là vị Thiếu tướng công an. Ý ba muốn nói với các con rằng, cán bộ công an là một công dân tốt, được khoác lên người một bộ áo trách nhiệm mà trách nhiệm đặc trưng của họ là giữ bình yên cho dân, cho nước, ngoài ra họ còn là một nhà giáo tận tuỵ với ngành, cung cúc phục vụ chế độ một cách trung thành nhất. Trong ngành không ít người xứng đáng là một nhà giáo dục có nhân cách lớn". Nghĩ vậy, tôi buột miệng:

- Chào thầy ạ.

Anh Hiệu thoáng ngạc nhiên rồi chợt hiểu ra, cười nói:

- Hoàng trông mình giống anh chàng dạy cấp một phải không?

- Không. Giảng viên Đại học chớ.

Kéo ghế ngồi xuống, anh Hiệu nói tiếp:

- Làm chi to tát vậy. Gồng mình lên, mình chỉ giống ông thầy dạy cấp hai thôi - Xây qua hai bạn của tôi, anh tiếp - Chào anh Minh. Này Cường Loa, bao giờ cho tụi này uống rượu đó.

Tôi trả lời thay cho Cường Loa:

- Ti Em đòi Cường Loa sắm một chiếc Wave Anpha chính hãng Việt Nam, Ti Em mới chịu cho cưới.

- Chi mà cao giá vậy?

Minh nói. Tôi binh Ti Em:

- Con gái người ta mới lớn lên. Sao không làm cao hở Minh?

Gần nhà tôi là nhà chú Con. Dạo mới về đây, chú che một cái lều bằng bao xi-măng, mười mạng người chui ra chui vào ăn uống, ngủ nghỉ trong cái lều xập xệ ấy. Có một ni cô đang nguyện cho mẹ qua tật bệnh, đi qua thấy vậy đã giúp chú mấy triệu đồng. Chú che ba bức vách và trả nợ tiền thuê bao điện thoại, để máy hoạt động trở lại, gọi cô con gái đầu của chú đi làm. Chú năm đó bốn mươi tám tuổi, thím Con bốn mươi bốn tuổi, đã được bảy con, trong đó chỉ một trai. Chú thím nuôi thêm đứa cháu ngoại không cha, con cô con gái đầu, vị chi lúc nhúc tám miệng ăn. Cô thứ nhì đi ở, còn cô thứ tư là Ti Em chớm mười bảy tuổi tươi non hơ hớ. Sau Ti Em là em Năm, em Sáu, em Bảy còn nhỏ, thường sang nhà tôi học chữ nhờ. Mẹ Hạnh tôi dạy làm phúc, mà nếu muốn lấy tiền chú thím Con cũng không có. Ngày nào tôi cũng thấy chủ nợ hùng hổ đến trước cửa nhà chú mắng chửi chú thím ra rả, mẹ Hạnh tôi cũng khiếp hồn rồi, nói chi lấy tiền kèm mấy đứa em của Ti Em. Dạo tôi ở trại về, thấy Ti Em mắt môi, xanh đỏ đi lại rật rật, tôi nghi nghi. Lại thấy anh Toàn trước đây thường đưa đón nhân viên của quán bia ôm Đồi Thông, nay anh cũng đưa Ti Em đi và chở về thả trước nhà. Sau đó, chú Con sắm được chiếc xe máy Vespa cổ lỗ sĩ, chú giành chở Ti Em đi và đón về trong đêm cho đỡ tốn tiền. Nhiều đêm, tôi nằm nghe tiếng xe nổ phạch... phạch... sau nhà, nhìn ra thấy chú Con chở Ti em về. Cảnh ấy làm tôi trăn trở không ngủ lại được. Nghe tôi kể, anh Hiệu cũng đau lòng như tôi. Anh nói: "Theo mình, gái mại dâm nên được chữa trị và giáo dưỡng. Họ cần vin vào những tấm lòng nhân hậu để làm người. Những chủ nhân ông trửng mỡ, thừa tiền vung vinh phá nát đời bao cô gái và các tú bà kinh doanh thân xác phụ nữ phải là những người có tội, không để họ ung dung trước lo toan của xã hội về tệ nạn mãi dâm". Sau đó, anh đề nghị phường tôi xếp gia đình chú Con vào diện đói nghèo, được hỗ trợ gạo tiền từng quý. Các con gái chú thất học được anh xin một cơ sở từ thiện, Các em được gọi đi học xóa mù và phụ nữ phường cũng đề nghị cho vay "xóa đói giảm nghèo". Nhờ vậy, cô con gái đầu và Ti Em mới yên tâm ở nhà, phụ chú Con rèn đinh đóng thuyền, gon lề cửa, dồn năm bữa nửa tháng bỏ sỉ bên chợ Đông. Khi Cường Loa tới làm thợ cho tôi, đã để ý Ti Em. Ti Em cũng lạng qua lạng lại, chờ Cường Loa nhờ việc này việc khác ; có khi vào ngồi xem Cường Loa hàn xì. Lần nào Ti Em cũng bảo: "Anh kể chuyện ở tù cho Ti nghe với" Cường Loa, loa loa cái miệng vừa hàn vừa tán phét chuyện trên trời dưới đất, dẫn Ti Em tròn đôi mắt xanh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Khi thấy Ti Em và Cường Loa chịu đèn nhau, tôi rất mừng, thường tìm nhiều lời tốt đẹp về Ti Em vun cho Cường Loa nghe. Còn phía Cường Loa tôi khỏi nói thêm với Ti Em, bởi suốt ngày Cường Loa lụi hụi làm trong xưởng tôi, đã làm cho chú thím Con rất ưng ý. Anh Hiệu thấy Ti Em ôm eo Cường Loa trên chiếc Honda 78 chạy ngang qua đồn để xuống phố, anh cũng mừng. Sau khi mấy anh em nhậu lai rai vài chai bia, Minh ngà ngà đạp xe về. Cường Loa từ đầu cuộc nhậu không dám "Dô!" nhiều như lúc trước vì tối nay Cường Loa xin phép chú Con đưa Tim Em đi phố. Hơn nữa ngồi trước mặt công an là cái miệng Cường Loa nhà ta câm như hến. Tôi nhớ hôm bên đồn anh Hiệu nói sẽ nhờ một việc, tôi nhắc. Anh Hiệu cười nói:

- Không có chi quan trọng. Ban bảo vệ khu phố của phường muốn "kết nạp" Hoàng vào đội dân phòng. Nếu Hoàng đồng ý mình ghi tên, mai một Hoàng về thành tập huấn mấy bữa rồi lên làm tổ trưởng tổ dân phòng khu vực này.

Tôi mừng quá! Địa phương tin tưởng tôi, giao việc giữ gìn an ninh trật tự địa phương cho tôi. Trước đây tôi cứ nghĩ, một thằng từng trốn lệnh truy nã, từng ở trại cải tạo về, muốn làm một thanh niên đàng hoàng ít nhiều cũng bị thành kiến vì quá khứ, huống chi bây giờ được vào dân phòng phường, lại làm tổ trưởng chỉ huy 6 đoàn viên nữa. Hầu hết đội viên đội dân phòng phường tôi là thanh niên ưu tú, chưa có tiền án, tiền sự, nhiều thanh niên còn là cán bộ nguồn, sau này cốt cán của địa phương. Tôi ôm chầm lấy anh Hiệu và miệng lắp bắp:

- C…aa..cám…ơơ… ơn anh!

Trụ sở dân phòng khu vực tôi nằm ở ngã ba đường. Thỉnh thoảng Ban bảo vệ dân phố và tôi thường dẫn một toán thanh niên đi tuần phòng một vòng khép kín rồi về trụ sở nằm trực. Chúng tôi trực gác không thường xuyên, những lúc tình hình không nghiêm trọng, chúng tôi đi tuần một vòng rồi trở về nằm ôm nhau ngủ khì. Một đêm đi tuần về, tôi không ngủ được, chẳng qua vì ly cà phê đen anh Hiệu mời buổi đầu hôm, làm tôi trằn trọc. Tôi ra đường đi lui đi tới cho ấm. Tôi cũng thích ngắm con đường về đêm. Giữa khuya hai dãy nhà hai bên đường mái san sát ngủ im lìm. Tôi bắt chước ba tôi, đã tập tành làm một thơ chưa hoàn chỉnh: "Dãy nhà ngủ im lìm/ Quên trăng về trên mái/ Tổ tôi năm trai tráng/ Cùng trăng tuần tra đêm/ Trăng thắp sáng vòm trời/ Tầm nhìn ta thêm rộng…", con đường trải lòng ra với hai dãy đèn cao áp, ở trên dốc nhìn xuống, con đường như được vẽ bằng những nấc thang sáng, tối ; khoảng sáng vàng chạch, khoảng tối đen mù mờ vắng lặng. Một tốp thanh niên trẻ, đi chơi đêm về, phóng xe máy gào rú, pha đèn sáng quắc, thoáng chốc làm vỡ rạn vẻ hắc hiu đường đêm. Tốp thanh niên chạy xe qua, con đường nhanh chóng chìm trở lại trong nỗi buồn vàng vọt dịu êm của đêm mông mênh thanh vắng.

Tôi đang đi giữa đường, chợt thấy một bóng người vác một bao tải sau lưng, ông đi khập khiểng, nhưng thật nhanh khi băng qua đoạn sáng dưới dốc, rồi biến mất vào một hẻm nhỏ tối đen dẫn ra cồn mồ. Đầu hôm, chú trưởng Ban bảo vệ dân phố nói: "Hai hôm nay, khu phố mình bị mất hai con chó. Bọn trộm chó chở nhau hai đứa, đưa sau quăng thòng lọng vào cổ chó rồi kéo thẳng đến các quán cầy tơ, thịt mất tang, mất chứng, cũng có thể chúng đánh bả chó. Hai vụ trộm chó xảy ra trong địa bàn ta tuy không nghiêm trọng, nhưng gây bất an trong địa phương. Chú giao Hoàng tuần tra mật phục bắt quả tang, để giữ niềm tin với bà con xóm giềng khu phố ta". Nhớ lời chú trưởng Ban dân phố, tôi liền chạy vào trụ sở dân phòng lấy gậy gỗ, thấy anh em ngủ say, tôi không nỡ đánh thức mà quyết định đi một mình. Hơn nũa, tôi thấy dáng người đi cà nhắc rất quen. Tôi chạy băng ra cồn mồ bằng một lối mòn đón đầu đối tượng.

Xóm cồn mồ trước đây là bãi tha ma hoang vắng. Sau này dân phiêu tán các nơi tụ về, dân kinh tế mới trở lại địa phương cùng vài hộ nghèo và dân vô gia cư của phường khác, ngang nhiên chiếm dụng những ô đất trống chưa chôn người chết, hoặc họ tự ý bốc dời những ngôi mộ gió, mộ giả và những mộ do mà các cậu ấm, cô chiêu, gái bia ôm phá thai, sút sảo, đẻ non lẻn vào cồn chôn trộm lúc đêm xuống. Ban đầu họ dựng cột tre, che lều, lợp tranh tre, thưng nứa, che chắn sơ sài, tạm bợ. Sau dần dần họ liều lĩnh xây vách làm nhà ở luôn. Chính quyền địa phương bó tay, đành nhập KT3 cho họ. Lần hồi cư dân xóm cồn mồ thành tổ dân phố. Chính quyền đã có kế hoạch "Xoá nhà tạm" đưa "Xóm nhà lá" ở cồn mồ về trú ngụ lâu dài trong những khu chung cư, đang giải phóng mặt bằng, chuẩn bị xây dựng lên tầng. Xóm cồn mồ toạ lạc một góc đất cuối phường tôi, một nửa tiếp giáp ranh giới phường khác, nên từ lâu đã hình thành rất nhiều đường băng lối tắt. Do tôi thuộc địa hình xóm cồn. Thậm chí tôi có thể biết nhà ai, ở góc nào, gần mộ, lăng của ai, tên gì. Tôi chạy đến ngôi mả tàu sát nhà chú Vang. Vì chính cái tướng đi khập khiểng của người đàn ông thoáng hiện dưới dốc, tôi có thể đoán không lầm, đó là chú Vang, con ông Bàng, người đã ở với tôi mấy tuần ở dưới nhà tạm giam, khi tôi mới bị bắt từ Hội An dẫn độ ra. Dạo ấy, chú được tha, còn "cuỗm" của tôi đôi dép lào mới cứng. Tôi nấp một lát đã thấy bóng chú Vang lầm lũi từ trong hẻm tối, đến trước nhà chú, hé liếp cửa lẻn người vào, vất bao tải xuống đất cái sạt. Chú ngồi thịch xuống chiếc giường gỗ cởi cái áo và lột chiếc mủ len sù sụ trên đầu. Tôi biết chú đội mủ len để người trong xóm, phường vô tình thấy chú đi về khuya cũng không dám khẳng định đích danh chú. Tôi ghé mắt vào khe cửa liếp, tôi thấy thê thảm nhất, không phải khung cảnh tuềnh toàng của ngôi nhà gần như trống hoác của chú. Mà đau lòng nhất là thái độ đồng loã mừng vui của thím Hồng và thằng cu con lên chín, mười tuổi của chú. Thím Hồng và chú Vang đã ly dị nhau, thím đi lang thang cầu bơ cầu bất một thời gian nhớ con quá đành về xin toà cho tái hôn. Chú Vang cũng còn thuơng thím nên hai ngưới trở lại sống với nhau như chưa hề có cuộc thuận tình ly hôn bao giờ. Chú cũng không chở thím xuống thả ở công viên, ga tàu nữa vì dạo này thím đã là con mắn, hom hem, bẩn thỉu rồi. Hình như vợ con chú nằm chờ chú đi ăn trộm về. Chú mới lẻn vào nhà, hai mẹ con đã lồm cồm ngồi dậy từ chiếc chỏng tre ọp ẹp, đi đến ngồi xuống đất, mở miệng bao tải và lấy tay mân mê con chó đang nằm im re. Ba người chụm đầu vào nhau thì thào cười nói vui vẻ. Chú Vang khề khề kể:

- Lần ni tau sợ thằng Ngật chê chó bị đánh bả phải bỏ dồi, lòng, lục phủ, ngũ tạng, tau phải khoanh một vòng thòng lọng trong cái xoong lủng, bỏ xương, bạng nhạng xào mỡ vào xoong. Tau leo lên cây ngồi chờ, chỉ một lát, hai con chó nghe mùi thơm chạy đến. Con ni tham ăn, gừ gừ đuổi con kia đi, rồi thò đầu vào xoong, tau trặt cổ liền. Rứa mà nó cũng chết luôn mẹ mi ạ.

Thím Hồng đang ngồi chò hỏ trước con chó, ngước mặt tươi hớn:

- Anh trặt cổ nó chết cho khoẻ, lở khi anh vác về, con chó ăn bả tỉnh bất thình lình, sủa ỏm tỏi lên, thì lạy ông tôi ở bụi này.

Thím Hồng trước đây chưa lấy chú cũng là một cô gái nhan sắc. Thím không đẹp làm sao lấy được một cậu con trai của ông chủ xe khách đường dài chứ. Nhưng bây giờ thím thân tàn ma dại như thế! Lại còn đồng loã với chồng ăn trộm mưu sinh nữa. Bà nội tôi thời con gái chưa lấy ông tôi lên đây, bà cũng là người cùng quê miệt mài cát trắng ven biển với cha của ông Bàng, tức là ông nội của chú Vang. Một bữa bà nội nhờ tôi chở bà đi chợ. Hai bà cháu nghe cả chợ xôn xao về tai nạn giao thông nghiêm trọng vừa xảy ra tối hôm qua. Một đứa cháu ngoại và hai đứa cháu nội của ông Bàng tổ chức ăn nhậu trúng độ bóng đá. Mấy anh em cô cậu, con chú, con bác với con chú Vang nhậu từ trưa đến tối, đứa nào cũng say bí tỉ. Ấy vậy, thằng Vĩnh con đầu chú Vang lại mượn xe đưa người anh con cô của Vĩnh về nhà. Thằng Đạt con chú bác với Vĩnh lảo đảo đòi theo. Thằng Vĩnh chở ba, chạy bạt mạng trên quốc lộ, khi qua khúc cua nguy hiểm, gặp một chiếc xe tải ngược chiều, do Vĩnh chưa quen chạy xe, lại gặp lúc tối trời và đang trong cơn hưng phấn không xử lý kịp, Vĩnh tuôn luôn xuống gầm xe! Vĩnh và thằng anh con bà con cô của Vĩnh chết tại chỗ. Đạt nhờ ngồi sau, bị bắn ra khỏi xe, rớt xuống đường gãy chân, thoát chết! Sau trận đó, Đạt đâm ngớ ngẩn, thường đi lang thang như người bị tâm thần. Bà nội tôi nói: "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Cháu biết cha ông của ông Bàng làm chi không? Hồi xưa ở dưới làng, ông chuyên nghề đi gọ chèo chở hàng cho các đại phú, thương gia buôn bán ven biển. Bữa đó, gọ ông chở hàng vào "phe - phô" (Hội An). Khi gần tới Cửa Đại bị bão to, gió lớn, cha của ông Bàng giết chết hai vợ chồng thương gia, quăng xác xuống biển rồi cướp tiền của, lên đây mua đất làm nhà, mua xe Renault, làm ông chủ của Pháp, thuê tài xế lái chở khách chạy tỉnh ni, tỉnh nọ, thu tiền vạn. Rồi xe cũng hết, nhà đất con cháu nghèo mạt rệp cũng bán sạch. Chừ cháu đích tôn và thằng cháu ngoại chết. Cháu thấy không, ác giả ác báo đó. Ông trời có mắt mà. Cháu ạ, để tiền lại cho con cháu, chúng cũng ăn xài hết. Để đất lại cho con cháu, chúng giành giựt nhau, đôi khi đâm chém nhau gây cảnh nồi da xáo thịt. Để đức lại cho con cháu. Con cháu không giành giựt chữ Đức được mà chúng biết sống thuận hoà êm ấp với nhau mãi mãi. Làm người nên lấy chữ Đức làm đầu cháu ạ". Tôi gật đầu phụ hoạ với nội: "Dạ đúng đó mệ".

Nhiều khi thấy hoàn cảnh chú Vang, tôi cũng thương cảm lắm. Nhưng bây giờ vì trách nhiệm của một anh dân phòng, tôi ở trong thế chẳng đặng đừng. Tôi liền kéo cửa, hùng dũng bước vào nhà chú, nạt:

- Chú Vang! Đứng dậy vác con chó qua đồn với tôi - Sợ chú Vang liều lĩnh phản ứng mạnh, tôi vờ quay mặt ra hẻm tối, nói- Tụi bây ra gác ngoài đường chờ tau. Chú Vang, đứng lên, nhanh!

Chú Vang mới thấy tôi đã vội tắt ngay nụ cười trên đôi môi khói ám. Thím Hồng mặt cũng thất sắc, tái xanh. Còn thằng con chú Vang len lét đi lùi về chiếc giường ngồi nhìn tôi với ánh mắt sợ sệt. Bất ngờ thím Hồng quỳ sụp xuống:

- Cậu Nô tha cho nhà tui cả tội. Chú bắt nhà tui đi tù là chú gián tiếp giết sáu đứa con của tui đó. Tui lạy chú, tui lạy chú trăm thứ, ngàn thứ cho chồng tôi.

Tôi đứng im lặng nhưng nhoi nhói trong lòng khi thấy thằng con chú cũng bắt chước mẹ nó quỳ xuống từ chiếc giường tre và lết hai đầu gối đến trước mặt tôi, mếu máo xin tôi tha cho cha nó. Chú Vang ngồi rủ xuống như tàu lá héo. Tôi không đành lòng bắt chú qua đồn:

- Thím đứng lên đi. Đừng quỳ như vậy làm tôi mang tội. Chú Vang phải đem con chó thả lại chỗ cũ và hứa từ đây không trộm chó nữa. Chú hứa với không đã.

- Dạ… con chó bị tui trặt cổ chết rồi. Nô tha cho tui, tui cắn cỏ…

- Thôi! Chú khi nào cũng nói cái miệng. Hồi dưới trại tạm giam chú lấy đôi dép của tôi chú nhớ không? Chú có thấy ai làm nghề trộm cướp mà giàu sang, bền vững mãi mãi không? Nói thiệt tôi thương con chú đó.

Thím Hồng đứng dậy, lắp bắp:

- Đội ơn cậu Nô nhiều nhiều.

Tôi lấy trong bóp tờ năm mươi ngàn gọi thằng cu con chú Vang đứng lên đến bên tôi, tôi cho nó. Chú Vang nảy giờ ngồi ủ rũ, bỗng khóc oà lên. Lúc đó tôi mới thấy mấy đứa con lớn của chú Vang lò mò từ trong xó buồng ra đứng nhìn tôi với ánh nhìn mến phục. Tôi đẩy cửa đi nhanh về trụ sở dân phòng. Bụng nghĩ, chỉ có lòng nhân mới cảm hoá được người lầm lỗi. Tôi tin với những dòng nước mắt xúc động chân thành ấy sẽ giúp chú biết nhận ra giá trị của con người và hiểu rằng nghề trộm cắp là một nghề vô cực nhọc, không bao giờ cho ta dám ngửng mặt lên với đời và cũng vô cùng bấp bênh mà thôi đi ăn trộm vặt. Tôi bỗng nổi hứng vừa đi vừa hát một bản tình ca…


    CÒN TIẾP....


 
                     


© Bản Quyền của Tác Giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC