TÁC GIẢ
TÁC PHẨM






. Sinh năm 1954
. Quê quán: Thôn Bích Du, xã Thái Thượng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
. Hiên cư ngụ tại : quận Hoàng Mai, Hà Nội

. Đại Tá Quân Đội Nhân Dân
. Hiện là chuyên viên văn học Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
. Phó chủ tịch chi hội nhà văn Quân đội

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Kể về một mối tình (tập truyện ngắn)
- Quà bất tử (tập truyện ngắn)
- Trên bến sông Trà (tập truyện ngắn)
- Đêm nổi bão (tập truyện ngắn)
- Biển cạn (tập truyện ngắn)
- Bên sông Trà Lý (tiểu thuyết)
- Cõi đời hư thực (tiểu thuyết)

GIẢI THƯỞNG:

- Giải thưởng truyện ngắn (Trung ương Đoàn phối hợp Tuần báo văn nghệ)
- Giải thưởng Bộ Quốc phòng.
- Giải thưởng truyện ngắn của Báo Người Hà Nội
- Giải thưởng Lê Quí Đôn lần thứ 3.








Tiểu Thuyết CÕI ĐỜI HƯ THỰC





CÕI ĐỜI HƯ THỰC

KỲ THỨ 7

8

V ừa đọc, chị Mạ vừa quan sát. Bỗng mí mắt anh Củng giật giật liền mấy cái ở hai hốc mắt rỉ ra hai giọt nước. Cánh mũi trái anh Củng cũng giật nhẹ. Chị Mạ hiểu anh Củng vẫn nghe, và như vậy sự sống của anh đang được duy trì bằng những hồi ức của mình. Chị hy vọng, một ngày không xa, khi gặp một trang nào đấy sẽ đánh thức được anh. Chị nhẫn nại tiếp tục công việc.

… Lộc dựa súng vào ba lô, cởi bao đạn vứt uỵch xuống đất, ngồi thừ trên võng một lúc nhìn Luyện tỷ tê nhặt lại nắm rau tàu bay rửa sạch cho vào ăng gô. Rồi Lộc nhảy khỏi võng, đứng trên một ụ mối, mặt ngẩng, giọng hùng hồn:

- Quân đội ta - Lộc hạ giọng - là quân đội đông người - Rồi giọng lại mượt mà - Tổ quốc ta xanh tươi như một vườn rau cải. Đế quốc Mỹ như một bầy trâu, lăm le phá vườn rau cải. Quân đội ta... đứng thành hàng rào.

Chị Mạ phì cười, và trên miệng anh Củng cũng rạng ngời một nụ cười mơ màng.

… Hết chuyện ăn, Lộc chuyển đề tài, ngồi dậy vắt vẻo trên võng, nói:

- Tớ có một bài thơ lục bát tuyệt vời. Các cậu nghe rồi cho ý kiến nhá. Đây là một bài thơ được đánh giá kỹ thuật gieo vần quá giỏi. Để tớ đọc cho nghe - Lộc ngửa mặt ngân nga - Khi ăn không được làm ồn... Ai mà vi phạm ăn... dưa chị nuôi.

Lần này thì anh Củng cười thành tiếng. Chị Mạ mừng quá, gọi:

- Anh Củng. Anh Củng ơi!

Anh Củng không trả lời. Nụ cười trên môi lịm tắt.

Chị Mạ ngước nhìn cái chai dốc ngược trên cọc màn, từng giọt đường glucô trong vắt nhỏ đều trong ống nhựa, truyền vào cơ thể anh Củng. Da dẻ anh vẫn hồng hào, ngực vẫn phập phồng hơi thở. Anh nằm im như bất cần đời. Anh nằm đó, như không thể là người đã có nửa cuộc đời sóng gió bão bùng cùng với cuộc trường chinh của dân tộc. Đất nước đã kết thúc chiến tranh, nhưng gia đình chị thì cuộc chiến tranh mới lại bắt đầu. Chị Mạ đưa ngón tay miết nhẹ đuôi mắt và quay đi.

*

- Bố ơi, trước khi con đọc bố nghe, bố con mình nói chuyện với nhau, bố nhé.

Quế cúi xuống giường, nơi bố nằm, nhỏ nhẻ thì thầm như thể bố cô là người bình thường. Cô muốn tâm sự với bố nhiều chuyện. Chuyện tay chủ đầu tư hối lộ để nhất quyết thực hiện được ý định đầu tư của nó. Những chuyện lý thú cô vừa mới phát hiện ra ở dưới vùng biển cạn, và cả chuyện anh chàng rể tương lai của bố nữa.

Bố ơi, lẽ ra con phải được sinh ra ở cái vùng biển cạn đầy nắng và gió ấy mới phải. Bốn năm ở trường đại học mà con chả hiểu mấy về biển, đó lại là nghề của con chứ. Bây giờ đến với biển con như có bài học đầu tiên. Anh chàng giảng cho con từng ly từng tý đấy bố ạ.

Biển cạn, bắt đầu từ bãi cát, kéo dài ba cây số bãi lầy ra tới mép nước. Ba cây số bãi lầy đó, hàng trăm năm nay nó đã nuôi sống dân vùng biển này. Bắt đầu bước khỏi bãi cát là thế giới của dã tràng. Hàng vạn con dã tràng li ti suốt ngày mải mê xe cát. Hàng triệu những viên bi cát xếp thành một lớp trải dài bờ biển, trông như một tấm thảm xốp màu vàng sậm.

Bước vài bước nữa, tới mép bãi lầy là thế giới của một loài động vật kỳ lạ, đó là một loài cá chỉ nhỏ bằng đầu đũa, mình xám, đầu to, đuôi vuốt nhỏ, chúng chỉ có hai chiếc vây như hai mái chèo ở bên mang. Chúng bò trên cát như con rắn, nhảy trên đất như con nhái, bơi trên mặt nước như con vịt, ngụp lặn dưới nước như con cá và chui dưới lỗ như con cua. Chúng còn leo cả trên cây mới lạ chứ bố. Anh chàng bảo con đó là cá loi choi đấy. Bước xuống bãi lầy, đó là thế giới của con cá lác hoa. Sau cá lác hoa là quốc gia của con còng, con cáy. Cáy cũng có hàng chục loài, sống hoà bình với nhau, chứ không chiến tranh như thời của bố đâu ạ.

Trong "quốc gia" cáy còn có nhiều "dân tộc" thiểu số khác nữa. Không "dân tộc" nào xâm phạm "chủ quyền" của nhau.

Sau "quốc gia" cáy là "vương quốc" cá bớp và cua. Người biển có câu "cua có gọng, bớp có gan". ấy vậy mà chúng lại cùng một "vương quốc" mới lạ chứ. Thực ra đây là "vương quốc" của cá bớp. Còn cua chỉ là những ông khách "tạm trú" thôi. Cá bớp thường ăn thịt cua bằng cách phục chờ những chú cua chuẩn bị lột xác. Vừa lột xác xong, còn mềm bấy, vợ chồng nhà bớp xông vào xé xác chén ngon lành. Nếu gặp cua dữ, còn cứng, bớp ta khôn khéo lừa đuôi vào cho cua cắp rồi vẫy mạnh, thế là càng cua gẫy. Hai lần cắp, hai lần vẫy, con cua hết vũ khí. Con bớp bám vào vết thương của con cua mà day rỉa cho đến khi con cua chết.

Từ "vương quốc" của cá bớp ra đến mép nước là "liên bang" rộng lớn, gồm nhiều loài sống chung với nhau: Trước hết phải kể đến con cá soi, cá len, cá lèn, con cáy rồi mới đến con vẹm, con hoa bầu, con vọp, con ngao, con ngán, con día, con don, con thun thút, con sò, v.v... và còn bao nhiêu thứ nữa bố ạ. Đây là những thứ mà ở thành phố gọi là đặc sản. Con đã được nếm món nem día tuyệt vời anh chàng đãi con. Con día mình màu xanh nhạt gồm hai vỏ khép lại như củ lạc, và một chiếc đuôi màu trắng như giá đỗ. Con día nằm dưới lớp cát biển, há hai cái miệng có những sợi ria màu nâu để đón thức ăn là phù du biển. Người ta dùng một chiếc dầm nhỏ bới lên để bắt. Día rửa sạch, bứt đuôi để riêng. Còn thân đem luộc, nhặt lấy ruột. Ruột día như ruột con hến. Đuôi día đem trần nước sôi, vớt ra để ráo nước, ruột cùng chân día đem trộn với thính và riềng, thêm chút lá chanh, húng quế. Thế là ta có một đĩa nem día ăn vừa thơm, giòn ngon lắm cơ.

Anh Củng không hề có một cử động. Khuôn mặt anh bình thản đến vô tư nằm bất động trên gối. Hình như anh tiếp nhận lời tâm sự của con gái thờ ơ, làm cô mất hứng. Cô lại ra bàn lấy cuốn sổ, đọc cho bố nghe.

… Đêm mình nằm mơ thấy Mạ. Trong mơ Mạ không đẹp bằng thật. Cả hai đứa tắm chung dưới sông. Dòng sông xa lạ, mình chưa gặp bao giờ. Nước màu phù sa đỏ. Hai bên bờ là những lùm cây lúp xúp của một miền đồi hoang mạc. Mạ tắm ở bờ bên kia, mình tắm bờ bên này. Giữa dòng xuất hiện một bé gái đang bơi. Thế là cả hai đứa cùng bơi ra đỡ lấy đứa bé đưa lên bờ. Rồi cứ thế đi, đến một rừng quế thơm ngát và cả ba ôm nhau bay vút lên trời, bay mãi... Tỉnh dậy, chỉ thấy vòm trời trong chiếc tăng lấp lánh giọt trăng khuya. Đại ngàn Trường Sơn âm linh, tiếng côn trùng rả rích. Bên cạnh, Lộc ngáy gừ gừ. Võng Luyện lặng im. Giấc mơ đẹp, hạnh phúc mà ngắn ngủi quá. Ngắn như tuần trăng mật của vợ chồng mình. Cứ theo giấc mộng thì Mạ đã có mang và sẽ sinh con gái. Nếu đúng thế mình sẽ đặt tên con là Quế. Trần Thị Thanh Quế. Mai dậy phải viết thư cho Mạ. Chặng đường tiếp theo, thế nào cũng gặp quân ra, mình sẽ gửi thư đi...

Quế ngừng đọc, vì thấy gương mặt bố bỗng rạng ngời. Ngón tay cái của bàn tay phải của bố cử động đều đều như gõ nhịp. Rõ ràng bố đang sống với những hồi ức mà Quế vừa tái hiện.

- Thế nào con? - Chị Mạ đã đứng sau lưng Quế từ bao giờ, cất tiếng hỏi.

Quế quay lại, hỏi mẹ:

- Bức thư này mẹ có nhận được không ạ?

- Mẹ nhận được.

- Mẹ còn giữ chứ ạ?

Chị Mạ đặt tay lên mái tóc con gái, âu yếm:

- Để mẹ lấy cho con xem nhé.

*

Quế nhìn bố một lúc rồi quay sang hỏi mẹ:

- Bức thư về trước khi mẹ sinh con chứ?

- Bố con gửi ngày 17 tháng 4 năm 1966. Mãi đến tháng chạp, ông nội con lên xã mới nhận được. Mẹ sinh con cuối năm 1970, sau lần bố con từ chiến trường ra. Lúc đầu ông nội đặt tên con là Thắng, ý là chờ ngày chiến thắng. Sau bố con đổi thành tên Quế.

Quế mân mê chiếc phong bì gấp bằng tờ giấy bổi cũ kỹ. Nó là chiếc phong bì vậy mà còn phong trần hơn đời Quế. Nó đã từng vượt Trường Sơn, qua bao bom đạn hiểm nguy, để bây giờ nằm đây bình thường như bao tờ giấy khác, trông lại còn nhàu nhĩ nữa. Quế lật mặt sau bì thư, bố cô vẽ một mũi tên chéo, lại ghi một hàng chữ chéo: "Thượng khẩn, hoả tốc, xé gió, tung mây về ngay với vợ".

Chị Mạ tủm tỉm cười, nói:

- Không phải bố con viết đâu. Chú Lộc, người cùng tổ tam tam của bố viết đấy.

- Chú Lộc vui tính mẹ nhỉ!

Chị Mạ đặt bức thư xuống nhìn ra trời đêm. Có giọt sao lọt qua cửa sổ lấp lói như đang giễu đời. Một giọt sương đánh đu trên cành lá và buông rơi ngoài cửa sổ. Lặng lẽ mà oanh liệt. Xa tắp và chói ngời. Ngày ấy... chị Mạ nhớ lại, cái ngày chồng chị đi xa, chị là dâu mới ở nhà chồng, đối xử với nhà chồng không khổ, mà khổ chính vì cái đói. Cả làng, cả nước đều đói. Ra đường nhìn ai cũng thấy đôi mắt thao láo thèm cơm. Ruộng đất nhiều, nhưng bông lúa dựng đứng như bông cỏ may, cho ít hạt thóc quá. Lại mỗi hạt thóc phải chia năm xẻ bảy. Sức gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu như chị mà mỗi bữa được hai lưng bát khoai lang làm sao chịu nổi. Bê nồi cơm lên, mở vung ra, lọc mãi được hai xum xủm bát cơm dành cho bố mẹ chồng. Còn lại là khoai lang, chia nhau mỗi người hai lưng bát. ăn xong phải uống thêm vài bát nước rau muống luộc cho bụng đỡ èo ọc, khó chịu. Cả làng bòn mót bất cứ thứ gì có thể ăn được. Ngọn khoai lang, rễ rau má, đến cả củ chuối già rồi cũng hết. Bắt chước người ta, chị tuốt cả lá điền thanh, một thứ cây trồng làm phân xanh đem về vò kỹ cho đỡ cứng để nấu canh ăn độn thêm. Ngăm lắm, nên khó nuốt. Có đêm đói quá, bụng réo không ngủ được, chị mò dưới gầm giường tìm khoai lang ăn sống. Tìm phải củ khoai thối nhão nhoét như cứt mèo. Chùi tay, rờ rẫm được củ thứ hai, đưa lên miệng gặm lại phải củ khoai hà, hăng nhức mũi. Tìm mãi cũng được một củ. Sợ cha mẹ chồng nghe thấy tiếng nhai sồn sột, chị chui vào trong chăn nằm gặm. Tưởng yên, nào ngờ gần sáng thì bụng sôi ùng ục, rồi miệng nôn, trôn tháo. Ròng rã suốt một ngày trời, người teo tóp như giẻ rách. Gần tối, bố chồng mang thư anh Củng về. Chị mừng lắm, cầm bức thư trên tay run run vì vừa hồi hộp, vừa kiệt sức. Trận đói năm ấy, cả làng không ai chết, nhưng gần chết kiểu như chị thì nhiều. Bây giờ thóc gạo thừa mứa, ngồi nghĩ lại vừa ngạc nhiên, vừa sợ.

Quế đọc hết bức thư, ngồi ngắm nghía từng nét chữ đã nhoè ố của bố. Cô cảm thấy vui vui. Tình yêu của bố mẹ cô cũng đẹp lắm, lãng mạn chả kém các cụ ngày xưa. Có lẽ thế hệ Quế bây giờ chưa chắc đã có được tình yêu như vậy. Họ thực dụng. Ngày xưa các cụ yêu bằng mắt, bằng lời, bằng cả ca dao, hò vè... Còn bây giờ hình như... câu trước, câu sau chưa rõ tên tuổi, nhân thân tay chân đã rối tinh, rối mù. Cứ nhằm nhằm muốn nuốt chửng con người ta. Chán thật.

*

Đêm sau, khi chị Mạ đang rì rầm đọc để chữa bệnh cho chồng, anh Củng bỗng đập tay xuống giường, miệng hô "Xung phong". Đúng lúc, Bằng xuất hiện. Chị chạy vào buồng:

- Tao lạy mày Mạ ơi. Tao xin mày cho tao đưa anh ấy đi viện, không tao chết!

Mạ:

- Mày xem đây này. Anh Củng vừa hô xung phong cùng với tao đấy.

Bằng:

- Xung với chả phong. Ông bí thư Đảng uỷ chửi tao còn thiếu hắt nước vào mặt. Tao lạy mày, Mạ ơi... Nếu không ông Củng chết trước rồi tao cũng chết theo thôi.

Mạ đặt bàn tay lên vai bạn, thông cảm:

- Mày yên tâm đi Bằng. Tao sẽ thuyết phục được các ông ấy. Tao đã tìm được đoạn kích thích sự tỉnh dậy của anh ấy.

Chị Mạ gỡ chiếc đồng hồ đặt xuống chiếu, nâng cánh tay anh Củng lên bắt mạch. Một phút sau, chị đặt cánh tay anh Củng xuống, nói:

- Đúng rồi...

- Đúng cái gì?

- Trước khi đọc mạch 85. Bây giờ 100. Rõ ràng ông ấy cảm nhận được Bằng ạ.

Quế chen vào:

- Vậy con đọc tiếp mẹ nhớ.

- Thôi con. Mạch 100 là tim đã làm việc quá sức. Dừng lại ở đây thôi.

Chị Mạ gấp sổ, tắt điện, cùng Bằng và con gái ra phòng ngoài. Nghe Mạ giải thích Bằng cũng nguôi ngoai, dặn dò vài câu rồi đi. Trời đã giữa thu, nên về đêm lành lạnh. Quế lấy chiếc áo khoác quàng lên vai mẹ. Hai mẹ con ra hiên ngồi. ở nơi thẳm xa phía chân trời quầng lên một vùng sáng đỏ như hừng đông. Đó là khu vực trạm biến áp lớn của tỉnh. ở đó họ thắp những bóng điện tròn có công suất lớn. Phía đông xa xa, bầu trời mát dịu có những ngôi sao xanh li ti như những hạt vừng rắc trên tấm bánh đa. Đó là phía biển. Toàn tỉnh có 54 kilômét bờ biển. Có một bến cảng. Bến cảng nhỏ lắm, mà mỗi năm nộp ngân sách hơn hai trăm tỷ. Trong khi đó tổng thu nhập của huyện nông nghiệp một năm chỉ có 10 tỷ đồng. Cứ làm nông nghiệp dẫu đến 15 tấn, 20 tấn lúa một hécta cũng không giàu được. Trung ương nói, tỉnh cũng nói, rồi huyện và xã cũng nói theo, phải chuyển đổi cơ cấu. Nói mãi... nhưng chuyển như thế nào? Mầy mò bao nhiêu năm vẫn giẫm chân tại chỗ. Lại họp, lại kiểm điểm: "Chủ trương đúng, nhưng tổ chức thực hiện chưa được".

Hồi Quế mới về nhận công tác ở Sở là cán bộ trẻ nhất. Tuy không nói ra, nhưng dường như ai cũng coi Quế là hàng con cháu, mới "nứt mắt" chưa thể tin tưởng giao công việc được. Hàng ngày đến cơ quan, việc của Quế chủ yếu là nấu nước, pha trà, quét dọn nhà cửa, lau bàn ghế, rửa ấm chén, v.v… Họp hành cũng không dám phát biểu, kiến nghị. Nói ra, các bác, các chú lại bảo "trứng khôn hơn vịt".

Còn nhớ trong một buổi họp phòng, Quế hăng hái đề nghị "phải thế này, phải thế kia". Họp xong, ngồi uống nước nói chuyện, ông trưởng phòng hỏi Quế sinh năm nào? Quế thưa lại là cô sinh cuối năm 1970, ông à lên một tiếng rồi bảo: "Chú đi bộ đội, vào chiến trường đánh nhau lúc đó cháu chưa sinh ra", rồi ông cười mát. Quế hiểu ý ông trưởng phòng muốn nói gì.

Những cán bộ trẻ như Quế vừa rời ghế trường đại học ra nhận công tác, ai cũng muốn bắt tay vào công việc để thử sức mình và cũng để tôi luyện trong thực tế mà trưởng thành, nhưng cứ như thế này thì đến bao giờ Quế mới được làm việc thực thụ. Quế khâm phục sức chịu đựng gian khổ và công lao của các chú, các cô, nhưng Quế không thể chịu được sự bảo thủ, trì trệ của họ. Có thể đó là điều khác biệt giữa Quế và thế hệ đi trước - một thế hệ mà Quế thường nói là sờ vào con chuột máy vi tính cũng sợ điện giật thì làm sao đưa sở này tiến lên theo kịp nhịp sống thời đại? Có thể suy nghĩ của Quế hơi cực đoan, nhưng nhờ cực đoan mà có vài lần va chạm quyết liệt, và rồi sau gần hai năm đun nước, pha trà Quế mới được chấp nhận tham gia nghiên cứu dự án.

Quế nói hết những suy nghĩ của mình với mẹ. Trước đây, những tâm sự đại loại mang tính chất chính trị như thế này, Quế thường nói với bố. Dẫu gì bố cũng từng là lãnh đạo, chỉ huy. Bố góp ý, chia sẻ với Quế. Bây giờ bố nằm đấy, sống mà như chết. Quế chỉ còn mang ra giãi bày với mẹ. Mẹ nghe, chia sẻ, an ủi, động viên Quế thế là tốt rồi.

Chị Mạ không hiểu lắm về công việc của con gái. Chị lại càng không hiểu gì về cơ chế, về lãnh đạo, chỉ huy. Từ ngày khoán sản phẩm đến từng hộ lao động, trên mảnh đất của mình, chị canh tác giống gì, chăm bón ra sao đều do ý chị. Đó là việc chị thích nhất. Bởi vì cũng từ ngày ấy chị được no đủ, thóc trong nhà lúc nào cũng đầy cót. Duy chỉ có một vụ chị nghe người ta đi rước cái giống lúa 8865 của Công ty giống cây trồng về. Chờ mãi đến khi ra bông chỉ trỗ một nửa. Vụ ấy coi như mất. Một lần khác, nghe ông xã rước cái con lợn hướng nạc về nuôi. Nuôi mãi, chả "ông đông lạnh" nào mua cho, đành thịt đem ra chợ bán, hạch toán lỗ mất 300 nghìn đồng. Từ đó chị chừa, không dám nghe ai nữa. Của đau con xót. Của mình, cuộc sống của mình thì mình lo. Chứ các ông ấy làm kinh tế bằng lời nói, bằng chữ viết thì giỏi đấy, nhưng bảo bắt tay vào làm có khi chả biết.

Vì thế chị Mạ thông cảm được với con gái. Chị bảo con:

- Thì cứ ý con, con làm. Biết đâu mà nghe người khác được.

Không nghe, không chấp hành có nghĩa là cán bộ không gương mẫu, không có năng lực trình độ, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, và sẽ không đề bạt, không tăng lương, v.v. và v.v... Từ ngày Quế đi làm, cô cảm thấy như có gì không ổn. Học một đằng, làm một nẻo. Cô cảm thấy hình như đôi cánh tay mình có cái phanh, thỉnh thoảng ai đó thắng lại, khi mà cô muốn tự vùng vẫy. Chỉ có mỗi việc duyệt dự án đầu tư làm con tôm giống mà có đến 12 cuộc họp, nhậu nhẹt lên bờ xuống ruộng vẫn chưa quyết được cho con tôm nằm chỗ nào. ừ mà cũng phải, ngay cả đến Quế, một kỹ sư đầu ngành của tỉnh cũng đã dứt khoát được đâu. Cô đã có đủ lập luận, số liệu khoa học để thuyết phục lãnh đạo đâu. Còn nói đến ai nữa.

9

L àm thế nào để Mạ hiểu được lòng mình? Chuyện tình cảm khó lắm, nhất là đối với phụ nữ, ai cũng ích kỷ đến tàn nhẫn. Ngay cả đến chị em gái cũng không thể nhường nhịn nhau. Mình thì vẫn cứ phải đi lại chăm sóc điều trị cho anh Củng. Không còn cách nào khác, thôi thì Mạ hiểu sao cũng phải chịu vậy thôi. Cây ngay sẽ không sợ chết đứng.

Chị Bằng vừa đạp xe chầm chậm, vừa suy nghĩ. Hàng dừa xanh chải tóc ven đường dẫn chị đến cổng nhà chị Mạ. Con cún lông xám từ trong thềm chạy ra quấn lấy chân Bằng, ư ử. Bằng nhẹ nhàng dắt xe dựa vào thềm. ở trong nhà chỉ có tiếng Mạ độc thoại. Bằng đứng lại, khổ thân Mạ quá. Cuộc chiến tranh giội xuống đất nước này 30 năm, thì Mạ phải hứng chịu gấp đôi thời gian ấy. Cả Bằng cũng thế. Ban ngày Bằng xăng xái lao vào công việc. Đêm đến, Bằng phải chiến đấu với lòng mình, với thân phận mình cũng không kém phần ác liệt so với những ngày chịu bom, hứng đạn ở Trường Sơn. Cũng như bao người phụ nữ, Bằng đã từng làm vợ, có đêm tân hôn ngọt ngào sung sướng. Bằng đã được mang nặng đẻ đau - niềm hạnh phúc của người phụ nữ. Bằng đã từng được cất lời ru của đời người làm mẹ, và thấp thỏm lo âu khi trán con nóng, miệng con thở khò khè… Vậy mà, bây giờ... Con ơi! Con lưu lạc ở phương trời nao, để mẹ phải thui thủi một mình thế này mãi. Anh ơi, anh có biết cho em? Có đêm nào em không vật lộn để cho giấc ngủ chiến thắng với nỗi thương anh và nhớ con. Ngoài sân có bao nhiêu lần chó sủa, bao nhiêu lần tiếng gà gáy sáng và bao nhiêu lần tiếng xe máy đi đêm em đều đếm đủ hết. Đến cả tiếng sủa nào là chó nhà ai, tiếng gáy nào là con trống của xóm em cũng thuộc. Em chỉ mơ một ngày nào đó, có một thanh niên thật giống anh bước vào nhà và… chào mẹ.

Chị Mạ bước ra cửa, gặp Bằng đứng ở thềm, liền kéo bạn vào nhà. Ngồi xuống ghế, Bằng hỏi:

- Anh Củng chuyển biến gì không, Mạ?

- Cũng có hy vọng. Vừa nãy tao hô "đứng dậy", chân tay anh Củng nảy nhẹ mày ạ.

Bằng lại hỏi:

- Mày có thường xuyên xoa bóp cho anh Củng không?

- Ngày tao làm hai lần vào sáng sớm và chiều tối. Mỗi lần khoảng mười lăm, hai mươi phút.

- Tao sẽ thường xuyên đến. Nhưng bất cứ lúc nào anh Củng có triệu chứng khác thường, mày cho gọi tao ngay.

Mạ ơn Bằng lắm. Từ ngày Bằng ở chiến trường về, đảm nhiệm trạm xá trưởng của xã cho đến bây giờ, sức khoẻ gia đình Mạ đều do tay Bằng chăm sóc. Nhớ hồi còn nhỏ, con Quế ốm đau quặt quẹo, nay viêm phế quản, mai lại đi ỉa, phát ban... tất cả đều do Bằng điều trị. Có hôm, nửa đêm mưa gió đùng đùng, Bằng cũng phải dậy cầm đèn mò mẫm đến nhà Mạ cấp cứu bé Quế. Rồi đến lượt Mạ bị viêm âm đạo. Bằng không nề hà đặt thuốc điều trị cho Mạ hàng mấy tháng trời cho đến khi khỏi. Bây giờ lại đến lượt anh Củng. Chính vì cái ơn đối với Bằng mà Mạ nể, không dám hỏi, không dám nói ra cái điều Mạ đang lấn cấn trong lòng. Anh Củng như cái trứng để đầu đũa. Sơ sẩy một tý là chết. Tất cả đang nhờ vào bàn tay nhân đức của Bằng. Ngồi mà lý lẽ ra thì thế. Chứ nhiều lúc Mạ cũng khó chịu lắm. Cái gì chung chạ còn được, chứ cái việc ấy dứt khoát không! Lại còn danh dự của Quế. Việc chồng con của nó nữa. Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống. Người tốt, hiểu biết, ai người ta cho con cái lấy vợ khi biết bố nó chả hay ho gì trong chuyện ấy.

Bằng cắn nửa môi dưới nhìn ra sân tư lự. Phải công nhận Bằng đẹp hơn Mạ. Nếu như Mạ nền nã, dịu dàng thì Bằng đẹp hơ hớ, đẹp dữ dội. ở cái tuổi 47 mà má Bằng vẫn đỏ hây, đuôi mắt chưa có vết nhăn, răng còn bóng, mắt long lanh như mắt con gái. Cái đẹp của người phụ nữ hồi xuân muộn như ngọn lửa bùng lên trước khi tắt. Người như Bằng, đàn ông đứng tuổi nào không mê. Lại ở độc thân nữa chứ. Khác với Bằng, Mạ đ• ở thời tiền m•n kinh. Cái việc ấy, việc chăn gối có cũng được, không có cũng được. Không còn "lúc nào cũng đói" như trước. "Công trình phụ" xọp xuống, không căng mọng nữa. Môi cũng héo, mắt khô, da sạm như ngọn đèn cạn dầu, sức sống không bừng bừng khát khao. Ngày còn trẻ nghĩ đến lúc này Mạ sợ. Bây giờ "lúc này" đã đến mà Mạ thấy bình thường. Thì ra cái mình có mà lo mất mới sợ. Mất rồi thì không còn sợ nữa.

Ngồi thừ nhìn ra sân một lúc, Bằng thở dài, quay lại, hỏi Mạ:

- Mày có thiếu lắm không?

- Không. - Mạ trả lời - Anh Củng còn hưởng nguyên lương, cộng lương con Quế. Với lại ba sào ruộng khoán của tao cũng đủ thóc ăn rồi... Thuốc thang cho anh Củng có đơn vị và Nhà nước lo đầy đủ.

Trả lời Bằng, nhưng trong lòng Mạ lại nghĩ, ở Bằng lúc này không còn là đôi mắt của thầy thuốc đối với bệnh nhân nữa. Lại cái giọng thở dài, y như của một người vợ đối với chồng. Cái cắn môi khi nãy... Có thể hai người đã có thời gắn bó với nhau sâu sắc lắm? Mới cách đây mấy hôm, trong khi mê sảng, anh Củng chả nói: "Mất tích... con... khổ thân quá". Chả nhẽ giữa họ còn có một đứa con? Nếu thế thì khủng khiếp quá.

Vồng ngực chị Mạ nâng lên, hạ xuống cùng với một nhịp thở dài n•o ruột. Bằng đứng dậy chào Mạ để về. Con cún vẫn vô tư vẫy đuôi tiễn chân khách ra tới cổng.

Chị Mạ trở lại giường bắt mạch cho anh Củng. Mạch 85, bình thường. Không có dấu hiệu phản ứng với những trang viết tối nay. Thế là thế nào nhỉ? Chị ngồi hẳn lên giường chuẩn bị xoa bóp cho anh. Mỗi lần làm xong, chị mệt rã rời. Thường ngày có con gái ở nhà cùng phụ giúp. Nay nó đi công tác, phải hai, ba ngày nữa mới về. Mình cũng phải cố thôi, chứ biết làm sao được. So với những gì anh chịu đựng trong các trận chiến đấu vừa qua không thấm vào đâu. Chị tự nhủ như vậy, và bắt đầu nâng bàn chân anh Củng lên xoa bóp. Xoa bóp xong, chị lại tìm một đoạn mà chị cho là quan trọng để đọc thử, đến đoạn địch chuẩn bị đưa anh Củng vào quan tài để mang đi chôn, miệng anh Củng bỗng hé mở mỉm cười. Chị Mạ thôi đọc, hỏi anh Củng:

- Anh Củng ơi. Anh không chết chứ?

Môi anh Củng nhênh nhếch. Da mặt hơi chuyển động. Chị Mạ hỏi tiếp, hy vọng có tiếng trả lời:

- Chúng không chôn anh chứ? Anh Củng?

Một ngón tay cái của anh Củng bỗng cựa quậy. Chị Mạ hỏi dồn:

- Bọn địch đi rồi, anh tỉnh dậy đi chứ. Tỉnh dậy, mau anh Củng.

Mi mắt anh Củng bỗng chuyển động. Chị Mạ mừng quá, nói tiếp:

- Anh ơi, chạy mau. Bọn chúng sắp đến đấy. Chạy mau!

Một ngón cái chân phải anh Củng cử động. Chị Mạ hét to:

- Chạy!

Cơ đùi anh Củng rung nhẹ, rồi dừng lại ngay. Chị Mạ gỡ đồng hồ, bắt mạch cho chồng. Mạch đập 90. Chị trở lại với cuốn sổ nhật ký, đọc tiếp.

*

Xong việc, Quế gói ghém tài liệu, chào mọi người, rồi dắt chiếc cúp 81 ra về. ở quán nước ngoài cổng, chàng đang chờ. Thấy Quế, chàng bước ra, đặt một tay lên chiếc gương xe, nhìn Quế hỏi:

- Em về thật à?

- Thôi để lần khác anh ạ. Bố em đang ốm nặng lắm. ở nhà chỉ có mỗi mình mẹ.

Chàng nhìn thẳng vào mắt Quế nói:

- Hay là... em cho anh lên... thăm bác?

Quế tần ngần:

- Em nghĩ lúc này chưa được đâu, anh ạ.

- Thế còn việc đầu tư trại tôm giống của Đài Loan, em tính sao?

- Cái đó còn tuỳ thuộc vào dữ liệu em đang thu thập. - Quế cũng không muốn thông tin sâu cho anh về vấn đề này, cô bảo - Thôi, em phải về đây. Anh nhớ cho em một điều: phải giữ gìn sức khoẻ, anh nhé. Sức khoẻ của anh là tài sản của em đấy.

Xe vượt ra khỏi thị trấn. Hai bên đồng lúa vàng trải dài như mặt sóng. Hàng cây xà cừ xanh ngắt đứng reo bên đường như để chào tạm biệt. Quế thấy lòng vui vui. Mỗi lần xuống biển, gặp anh là mỗi lần Quế khám phá thêm một điều kỳ diệu. Anh không có cha, không có mẹ phải ở với bác, nên sớm phải bươn trải ngư trường. Biển đã ngấm vào anh, như thể chính biển đã sinh ra anh, nên biển đã cho anh hơi thở của biển, nói tiếng nói của biển, nhìn cái nhìn của biển và sống cách sống của biển. ở cái thời kinh tế thị trường, con người đa đa có lối sống thực dụng, mà có được người mang gương mặt của biển, có tấm lòng biển hiếm hoi lắm.

Xuống vùng biển đã vài lần vào nhà hàng Gió Biển, Quế được thưởng thức món cá lác hoa kho tiêu bằng niêu đất. Một món đồng biển, ăn rồi không làm sao quên được. Người ta bảo như thế là nghiện. Quế nghiện cái vị ngầy ngậy giống như thịt bò sát, man mát như giống cá biển, chua chua của vị phù sa. Quế cam đoan, không riêng Quế mà tất cả mọi người nếu may mắn được thưởng thức món này, đến chết vẫn không quên. Vậy mà mãi hôm qua, anh mới cho Quế biết tường tận con cá lác ở dưới biển như thế nào?

- Ơ… ơ, nó là con...? - Quế ngạc nhiên reo.

Anh cúi xuống vén cao ống quần, rồi ngẩng lên nhìn theo tay Quế chỉ và trả lời:

- Nàng tiên cá đấy.

- Nàng tiên cá thật sao?

ờ mà thật. Nó chỉ nhỏ bằng quả ớt, trông giống như con cá bống. Mình óng màu phù sa của biển. Dọc hai bên thân hai hàng vân giống như hoa trinh nữ. Đuôi xoè như chiếc quạt giấy đầy hoa văn rực rỡ. Dưới ánh nắng vàng tươi, đôi mắt nó ánh lên màu ngọc bích. Chúng đang vùng vẫy, quẫy đạp, đùa giỡn trên lớp phù sa đặc quánh. Có một chú cá lớn bỗng há miệng, phồng mang trông như con hổ mang bành, hai vây bên mang xoè ra, vênh lên, hàng vây trên lưng dựng đứng như cánh buồm. á chú mày cũng nóng tính nhỉ, định bắt nạt liễu yếu đào tơ. Thấy Quế say sưa quan sát, anh giảng giải:

- Nó là món cá lác hoa kho tiêu bằng niêu đất mà em nghiện đó.

Quế ngạc nhiên thực sự:

- Nó là con này - con cá lác hoa?

Thế mà khi nằm trên dĩa nó chỉ còn là một khúc cá thơm ngậy, rừng rựng những thớ thịt trắng phức, chứ đâu còn là vân hoa, quạt giấy, cánh buồm nữa.

- Chúng sống trong lỗ dưới mặt lầy. - Anh nói - Thường ban ngày nắng lên, chúng rời khỏi lỗ, lên cạn kiếm ăn. Nước lên, chúng lại chui xuống trú ngụ.

Quế lại hỏi:

- Thế lỗ của chúng đâu anh?

- ở ngay dưới chân em đó. Em thấy chưa? Trên một mét vuông có đến vài chục loại lỗ. Mỗi lỗ một loài động vật biển trú ngụ. Đây nhé, lỗ này dựng đứng, nước trong có một chút màng mỏng ở mặt, thò ngón tay xuống thấy có nhớt là "ngôi nhà" của con nhệch. Lỗ này, hơi hẹp, xiên ngang, có mấy vết xước ở miệng là "nhà" của con cáy. Còn cái lỗ này, trên cửa có một vệt nhẵn, trũng xuống là lỗ con cá lác. Để anh chứng minh cho em xem nhé. Anh khua hai tay lên một vòng. "Rào", mặt biển bỗng chuyển như rừng động. Loáng cái, tất cả mọi con vật đang "lao động" trên mặt biển bỗng biến hết. Một chú cá lác trườn như con rắn đến cửa một chiếc lỗ, rồi nhảy lộn một vòng, đuôi đã ở miệng lỗ, từ từ lùi xuống cho đến khi ngập ắng.

- Ơ hay nhỉ! Làm sao mà bắt được nó, hở anh?

Anh dẫn Quế lội lầy đến chiếc lỗ con cá lác, hướng dẫn:

- Có hai cách em ạ: Cách thứ nhất, người ta làm một chiếc cạm, như chiếc cạm cần đánh chuột, nhưng chỉ nhỏ xíu bằng chiếc đũa, rồi giương lên đặt ở miệng lỗ, trên lối ra vào. Một người đặt khoảng 50 chiếc, một buổi có thể kiếm được năm, bảy chục con. Cách thứ hai là câu. Kia, em trông cái anh đeo chiếc giỏ bên hông, cầm chiếc cần câu dài, đứng như Từ Hải chết đứng đầu bãi.

Quế nhìn theo tay anh chỉ, quả thật anh ta nhẹ nhàng đưa cần câu vút rất nhẹ, quay cái đầu cần mềm oặt một vòng. Thế là, trong tay anh ta đã có chú cá lác giãy giụa. Anh ta đi như không đi, cử động như không cử động. Từ ngạc nhiên đến khâm phục, anh ta vừa như một nghệ sĩ múa, lại như một nhà ảo thuật.

Nắng thu ran ran trên mặt biển. Người "nghệ sĩ" câu cá vẫn đủng đỉnh làm ảo thuật, để biến những chú cá lác dưới biển vào giỏ của mình. Để có một dĩa cá ngon ở nhà hàng Gió Biển, người dân phải vất vả, kiên nhẫn lắm. Quế muốn khai thác, bèn hỏi tiếp:

- Con cá lác, nó ăn gì, hở anh?

- Nó ăn những con vật trên biển nhỏ hơn nó, như con cáy, con còng, con tôm, con dã tràng... - Bỗng anh triết lý - Nó chỉ ăn thức ăn của biển, uống nước của biển mà sao thịt nó thơm ngon thế nhỉ?

Quế liếc nhìn anh, mắt long lanh, miệng tủm tỉm cười, nói:

- Anh cũng ăn thức ăn của biển, uống nước của biển đấy thôi.

- Vậy em có nghiện không?

Nghĩ đến đây, Quế mỉm cười, đạp phanh cho xe chậm lại để đỡ tròng trành. Mỗi lần xuống với anh là mỗi lần Quế như giàu thêm, lớn lên và cũng con người hơn. Anh như kho báu biển, mà Quế có thể đào bới suốt đời, không bao giờ hết, không bao giờ chán.

Quế về đến nhà đã bảy giờ tối. Mẹ Mạ đang đọc cho bố nghe ở trong nhà. Thế là bố không sao, nhưng vẫn chưa tỉnh.

Thấy con về chị Mạ mệt mỏi đưa cuốn sổ cho Quế, bảo:

- Giúp mẹ một lúc... Mẹ ra ngoài có việc.

Quế nhận cuốn sổ từ tay mẹ, ngồi vào bàn. Cô chưa đọc ngay, mà ngồi nhìn bố. Lúc ấy, đôi mắt anh Củng hơi hé mở. Quế mừng quá gọi:

- Bố!

Bàn tay phải anh Củng đặt trên bụng hơi cử động. Năm ngón tay chơi vơi như muốn nắm vật gì, Quế cầm lấy bàn tay bố. Anh Củng hơi nắm lại. Quế có cảm giác, bố cô muốn nhắn nhủ điều gì qua bàn tay của mình.

- Bố, bố cần gì ạ?

Đôi mắt hé mở, vô hồn của anh Củng không nói lên điều gì. Quế hỏi tiếp:

- Con đọc cho bố nghe nhé?

Năm đầu ngón tay anh Củng hơi bíu vào tay Quế. Quế hiểu, mẹ vẫn bảo bố đang sống bằng hồi ức. Quế với cuốn sổ trên bàn đọc tiếp.

… Đêm ấy, mình bí mật trèo tường rút ra ngoài. Lỡ út Diệu có báo tụi lính ập vào thì mình cũng tẩu thoát. Cả đêm không có động tĩnh gì. Gần sáng mình lại leo tường trở lại nhà. Bá Nhung ngồi quấn thuốc rê trước đèn, thấy mình về, bảo:

- Con đi đâu để con út nó khóc quá trời?

Mình bước vào buồng, thấy út Diệu vùi mặt xuống gối, hai bờ vai rung rung. Mình ngập ngừng ngồi xuống, nói:

- Tôi... Tôi xin lỗi út.

- Anh ác lắm! - út Diệu dỗi, rồi xoay lưng lại - anh hổng hiểu gì hết.

- Nhưng anh phải đi út à. Khi nào hết giặc, anh sẽ trở về với... út.

Quế gấp cuốn sổ mỉm cười. "Các cụ" cũng mơ mộng chả kém gì. Vậy mà, bây giờ tụi Quế hơi một tý, "các cụ" đã "hư hỏng mất thôi con ơi". Thật, chả biết thế nào nữa.

Chị Mạ lại bước vào hỏi:

- Sáng mai chủ nhật, con nghỉ chứ?

- Vâng ạ.

- Bây giờ con ngồi đây theo dõi bố, giúp mẹ. Mẹ hy vọng "trận chiến đấu" này bố con sẽ "chuyển".

Quế chuyển cuốn sổ cho mẹ, ngồi xoa bóp hai bàn chân cho bố. Chân bố vẫn ấm nóng bình thường. Giọng chị Mạ mỗi lúc một gấp.

… Nghe tiếng đề pa của pháo 105, mình ra lệnh:

- Xuống hầm!

Đây là loạt pháo thứ bảy. Cây cối đ• bị đạn pháo phát quang ném đi nơi khác. Trận địa trơ ra như người cởi truồng. Đất đ• bị đạn cày đi, cày lại tơi như cám, trộn với thuốc đạn thành màu xám tro. Chiến sĩ giữ trung liên bị một mảnh pháo găm vào đầu, vật ra, máu ri rỉ như người đứt tay.

- Kéo vào trong hầm. Điện cho vận tải khiêng về phía sau!

- Báo cáo. Tiểu đội phó Tiểu đội 9 bị pháo phạt mất đầu!

- Còn không?

- Báo cáo! Không tìm thấy đầu ạ. ở trong hầm, chiến sĩ trung liên bỗng giãy lên bần bật, như con cá rô bị đánh giập đầu.

- Báo cáo trung đội trưởng, đại liên bị phá huỷ rồi ạ.

- Ai giữ, sao để mất súng?

- Báo cáo. Cả hai hy sinh.

Từ trong hầm, chiến sĩ trung liên bỗng bật dậy lu lu chạy ra giao thông hào, rồi vật ngửa giãy đành đạch. Hai quả pháo 105 nổ liên tiếp ngay mép hào, đất, khói trùm lên trận địa. Lộc vực vào hầm một chiến sĩ miệng hồng hộc thoi thóp. Bên ngực phải thủng một lỗ đút lọt nắm tay. Lộc cuộn cả chiếc áo lót nhét vào, mà máu vẫn xối ra như ống nước.

Quả pháo cuối cùng của đợt thứ bảy phạt đứt cây săng lẻ bằng cổ chân - cây xanh cuối cùng còn lại, cách trận địa khoảng 60 mét.

- Về vị trí chiếu đấu!

Thường thì sau mỗi đợt pháo, bộ binh địch xung phong ngay. Nhưng đợt này, năm phút đã trôi qua vẫn không thấy động tĩnh gì. Từng đụn khói rải rác khắp trận địa ngun ngút bay lên. Một rừng gỗ cụt chỏng chơ bên kia trảng đâm lên trời như những nọc tiêu đen sì, hậu quả của đợt chất độc hoá học cách đây hai năm. Từ rừng gỗ cụt đầu đó, địch chia làm ba mũi tiến vào trận địa.

Lộc vừa ôm súng vừa nói:

- Cứ để chúng đến thật gần hãy đánh.

Luyện bảo:

- Địch đông lắm, trên dưới một đại đội.

Lộc chậc lưỡi:

- Càng dễ trúng.

Vẫn không thấy súng nổ. Thằng cha này sao hôm nay lỳ thế. Mình lao đến vụt đét vào mông Luyện.

- Bắn đi chứ! Luyện đã bị một viên đạn nhọn xuyên giữa trán từ bao giờ. Một vệt máu đỏ rịn xuống báng súng.

Hết đợi tấn công, trung đội chỉ còn bảy người. Đạn B40 hết. Đạn M79 cũng hết. Đạn đại liên còn, nhưng súng hỏng. Đạn trung liên chỉ còn nửa băng. Đạn K56 còn ba băng. Lựu đạn còn năm quả. Đạn cối 60 còn nhưng súng hỏng nặng.

- Tử sĩ có 7 người hả? - Mình hỏi và ra lệnh - Đưa hết về phía A7, đặt dưới giao thông hào, tạm lấp đất lên, khẩn trương lắp lưỡi lê, sẵn sàng đánh giáp lá cà.

Địch tổ chức tiếp đợt tấn công. Lần này chúng đặt một khẩu M60 ở bìa rừng cánh trái, hai khẩu M79 ở giữa và cánh phải bắn như vãi đạn vào trận địa, để bộ binh tiến vào. Mình đã cho gài tất cả 19 quả đạn cối 60 làm mìn dưới giao thông hào, và cho bộ đội rút ra ém hai bên trận địa. Chỉ để lại một chiến sĩ vừa đánh vừa rút.

........................................

Chị Mạ đọc đến đây, anh Củng ở trên giường bỗng hét theo "Lộc", và toàn thân rung lên như bị điện giật. Mồ hôi trên mặt anh vã ra. Anh từ từ mở mắt.

- Tỉnh rồi! Bố tỉnh rồi, mẹ ơi - Quế vừa reo vừa cầm lấy tay bố.

Anh Củng đã tỉnh, ngơ ngác nhìn Quế, nhìn chị Mạ, lơ ngơ nhìn xung quanh như rất xa lạ.

- Cho tôi hớp nước.

Chị Mạ vội lấy ly nước đưa cho Quế để cho bố uống. Được vài ngụm, anh Củng lắc đầu. Chị Mạ chạy ra gian ngoài vắt ly nước cam mang vào, nói với Quế:

- Con để đấy, đi tìm ngay cô Bằng cho mẹ. Nhanh!

*

Trước mắt anh Củng toàn những người xa lạ. Người thì gọi anh Củng là anh, người lại gọi là bố. Cái trạm quân y này xem ra cũng khá tươm. Nhưng sao nhà y mà không có ai mặc áo blu trắng, cũng không thấy ai mặc quân phục. Củng vẫy một cô mặc thường phục, đứng tuổi, trông có vẻ hiền lành và tận tụy đến, bảo:

- Đồng chí cho tôi xuất viện, về đơn vị chứ? Tôi khoẻ rồi.

Để chứng minh mình đã khoẻ, anh Củng ngồi dậy giơ hai tay ra phía trước, nắm lại và lên gân.

- Em đây, Mạ đây mà, đồng chí nào đâu, anh Củng - Chị Mạ ghé sát vào mặt anh Củng nói.

Anh Củng nhìn chị Mạ ngỡ ngàng:

- Mạ... đồng chí Mạ cho tôi xuất viện chứ?

Chị Mạ ngẩng lên nhìn chị Bằng, nhìn con gái. Cả ba người nhìn nhau ngạc nhiên, giữa họ là một dấu hỏi.

Quế ngồi xuống giường cầm lấy tay bố:

- Bố ơi, con đây mà. Quế, con gái của bố, bố có nhớ không ạ?

Anh Củng giật khỏi tay Quế, quắc mắt:

- Quân đội, cứ bố bố con con, đánh đấm gì. Đồng chí rõ chưa? - Rồi nhướng lên nhìn Bằng và Mạ, giọng van vỉ - Tôi xin các đồng chí, cho tôi xuất viện. Đơn vị hy sinh hết rồi, tôi van các đồng chí...

Bằng buộc phải đứng nghiêm, giọng đanh như một mệnh lệnh:

- Đồng chí Củng! Tôi yêu cầu đồng chí yên tâm điều trị. Khi nào khỏi hẳn, tôi đồng ý mới được xuất viện. Rõ chưa?

Anh Củng ỉu xìu từ từ nằm xuống giường, miệng lẩm bẩm:

- Củng... Củng nào nhỉ?

Chị Bằng kéo chị Mạ và Quế ra phòng ngoài bàn bạc. Theo Bằng, anh Củng có hiện tượng mất trí nhớ hoàn toàn. Nếu chỉ mất trí nhớ, mà hết những cơn điên khùng thì còn đỡ. Chỉ lo còn cả hai sẽ khó khăn biết nhường nào, Bằng bảo:

- Trước mắt tiếp tục điều trị, bồi dưỡng lấy lại sức khoẻ. Rồi ra để tao tính…

Mạ:

- Tao nghĩ, chả còn cách nào hơn là phải gợi lại quá khứ. Tất nhiên phải bằng nhiều cách. Để tao thử.

Chị Mạ sai Quế mở tủ lấy ra một tập album ảnh gia đình. Chị lấy hai tấm ảnh bố mẹ anh Củng mang vào, vực anh dậy hỏi. Anh Củng cầm hai tấm ảnh ngắm nghía, trả lời:

- Đây là ảnh bố mẹ tôi. Các đồng chí lấy ở đâu?

Chị Mạ rút tiếp tấm ảnh tiểu đội của anh Củng chụp trước khi đi "bê"... Anh Củng vồ lấy xem thích thú và chỉ từng người nói:

- Đây là Lộc, cây cười. Đây là Luyện, còn đây là...

Anh chỉ từng người và gọi tên họ. Nhưng đến khi chị Mạ chỉ vào Quế hỏi, thì anh Củng lắc đầu:

- Tôi không biết.

Chị Mạ lại bảo Quế lấy cuốn nhật ký. Chị lật vài trang và nâng lên đọc thử.

… Khi còn nằm trong hầm, biết sau trận này Luyện sẽ về làm trợ lý tuyên huấn của sư đoàn, tranh thủ lúc vắng bom đạn, Lộc phịa một câu chuyện để bôi bác Luyện. Hắn kể: "Lần đó Luyện ta dẫn tổ văn nghệ của trung đoàn đi hội diễn ở sư đoàn. Vì đường xa, lại trăm thứ bà giằn, nên các cô quên phéng mấy cặp xu chiêng làm mồi. Đến tiết mục múa hát bài: Hoa đẹp Chăm Pa, thì gay quá. Con gái múa mà không có xu chiêng thì ôi thôi, không thể "ngửi" được. "Có mỗi cái việc quan trọng số một lại quên". "Thì em cứ tưởng cái Loan nó cầm rồi". "Tao biết đâu đấy". "Mỗi đứa một cái, bảo giặt phơi cho nỏ. Chả đứa nào xem". "Thôi được, thế này vậy". Luyện xé tờ báo vo tròn thành một cục, nhét thử vào trong ngực, nắn nắn, vỗ vỗ mấy cái. "Ơ, thế mà lại đẹp. Có thế chứ. Cái khó ló cái khôn. Khẩn trương, mỗi cô hai nắm. Tôi làm, các cô tự nhét vào". Đến khi lên sân khấu, múa được nửa bài, có một cô chắc là lép quá nên "xu chiêng báo" tụt dần sắp rơi ra. Vậy mà cô gái không hay biết, vẫn vô tư múa. Chỉ lát nữa, báo rơi xuống sàn diễn thì... ôi thôi. Nghĩ thế, một cô trong tốp múa liền nảy ra sáng kiến để mách bạn bằng cách chêm vào lời hát: "Hoa đẹp Chăm Pa... báo rơi ra rồi...".

Nghe đến đây, anh Củng phá lên cười, phân trần với mọi người:

- Trận ấy Lộc và Luyện đều hy sinh, các đồng chí ạ. Lộc bị một thằng địch dùng lê xuyên từ vai phải xuống sườn trái. Khi rút lưỡi lê ra, máu phun thành tia lên trời, rồi rơi xuống đất như một dấu hỏi. Lỗi cũng một phần do tôi. Trận đó cả trung đội hy sinh hết, chỉ còn mình tôi sống sót. Đau đớn quá. Một mình tôi với một đống súng đạn thu được của địch, tiếp tục chiến đấu, đánh lui bốn đợt tiến công, diệt thêm 63 tên địch, giữ được trận địa hai ngày nữa, tới khi đơn vị đến ứng cứu cũng là lúc tôi bị thương nặng.

Xuất viện, tôi được đi dự Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua Miền. Tại đại hội, tôi được tuyên dương Anh hùng. Trời ơi! Anh hùng phải là những người bị vùi lấp dưới hào kia chứ! Anh hùng phải là Lộc, là Luyện. Tôi đã được sống, lại còn được phong Anh hùng. Danh hiệu sống là quý lắm rồi.

Chị Mạ đỡ anh Củng nằm xuống, bảo:

- Tôi với đồng chí này (chỉ vào Quế) là y tá và hộ lý trực tiếp phục vụ cho đồng chí. Từ bây giờ, đồng chí phải chấp hành tôi rõ chưa?

Mạ, Bằng và Quế bước ra ngoài, họ nhìn vào mắt nhau tìm đáp số. Quế vừa lo, vừa sợ. Bố cô cứ như một vị hung thần ở trong nhà. Khi thì gần gũi thân thương, khi lại xa lạ, thần bí và đáng sợ. Bằng tuy là bác sĩ, nhưng không phải chuyên khoa thần kinh nên cũng chưa dám kết luận. Chị lúng túng thực sự. Chỉ có Mạ, có vẻ tự tin quả quyết anh Củng chỉ bị xoá trí nhớ hiện tại. Còn quá khứ trong cuộc đời chiến đấu anh lại nhớ như in, nếu khéo gợi lại. Bằng bảo, thế là bệnh tâm thần. Mạ không đồng ý, nói:

- Không phải tâm thần. Cũng không phải là mất hẳn trí nhớ. Nó là một loại bệnh... tớ khó giải thích lắm. Nó từa tựa như là hoang tưởng. Cũng chưa hẳn. Cậu cứ yên trí đi, tớ sẽ có "phác đồ" điều trị. Cậu giúp đỡ về mặt sức khoẻ cho anh ấy, thế nhớ.

*

Anh Củng nhỏm dậy lang thang đôi mắt khắp gian phòng, rồi nói:

- Đồng chí cho phép tôi được đi dạo chứ?

Chị Mạ dìu anh Củng đi dạo ngoài sân. Đến chỗ cây chanh, chị hỏi:

- Anh Củng còn nhớ ai trồng cây chanh này không?

Cây chanh anh Củng mang ở huyện đội về trồng cách đây ba năm. Hai năm nay về mùa xuân hoa chanh nở tím ngắt góc vườn, quả sai như táo lai. Anh Củng thích lắm, chả ngày nào không ngắm. Vậy mà nghe chị Mạ hỏi, anh lắc đầu:

- Tôi không biết.

Chị Mạ lấy ghế cho anh ngồi. Chị đứng phía sau tỉ tê gợi chuyện. Thấy cây đu đủ cuối vườn lủng lẳng quả trông như bầu vú mẹ, anh Củng bảo:

- Năm ngoái, tôi chống càn ở chiến khu Đ, ăn đu đủ thoải mái. Vượt ra ngoài lộ, khu vực Định Quán, đu đủ nhiều vô kể, quả nào cũng to như trái mít.

Rõ ràng anh Củng đang sống ở thời quá khứ. Anh vẫn quan niệm đây là quân y viện ngoài mặt trận. Anh không còn nhớ đến vợ, đến con, đến ngôi nhà thân yêu - tổ ấm gia đình hiện tại. Chị Mạ cảm thấy tui tủi, ôm mái đầu anh kéo vào lòng. Anh Củng chợt đứng dậy, quay lại:

- Đồng chí không được làm thế. Tôi đã có vợ, có con ở miền Bắc rồi.

10

H ai ngày nay anh Củng sống trong tâm trạng bồn chồn lo lắng. Chiến dịch sắp mở màn, nhiệm vụ đơn vị giao cho anh còn dang dở, mà lại bị thương nằm trong bệnh viện. Mà sao cái bệnh viện kỳ quái chỉ có mỗi mình anh là bệnh nhân. Thầy thuốc chỉ có ba người. Cô bác sĩ hầu như vắng mặt, mỗi ngày chỉ xuất hiện một lần, khi buổi sáng, lúc buổi trưa, khi buổi tối, rất vô kỷ luật. Nhất là cô y sĩ tên Mạ, chăm sóc thì cũng chu đáo tận tình đấy nhưng hay ấm a ấm ớ. Các cô sống ở chiến trường lâu, không có chồng con là chúa ghê gớm. Anh thương binh nào yếu bóng vía, lơ mơ là vào tròng ngay. Nghe nói năm ngoái ở một trạm quân y, có cô nuôi quân tán tỉnh một cậu thương binh. Cậu ta tưởng bở cứ vô tư "quỳ hai gối, chống hai tay". Đang lúc lên mây, thì cô gái kêu cứu. Anh chàng chợt tỉnh, bỏ chạy, nhưng không sao bứt lên được. Một chiếc ruột tượng để đựng gạo đã được vòng lên buộc chặt. Mọi người nghe kêu cứu, ập đến. Rõ ràng "trai trên gái dưới" không cãi được. Biên bản được lập. Anh chàng bị lãnh đạo gọi lên: "Một là... sẽ... Hai là... sẽ...". Anh chàng buộc phải chọn "một là cưới cô gái làm vợ". Sống trong trạm quân y hẻo lánh này, chỉ có mỗi mình Củng là nam giới, nên cần phải cảnh giác cao độ, cũng chả biết đâu được.

Củng sốt ruột, bật khỏi giường tha thẩn ngoài sân, dõi mắt về phía tây. Phía ấy là thị xã Tây Ninh, là ngôi nhà má Bảy. ở đấy, Củng đã cùng cơ sở của ta chuẩn bị đầy đủ cho một trận tiến công lớn. Theo kế hoạch, đêm nay Củng đón sáu đồng chí biệt động ra sư đoàn để dẫn các mũi tấn công đánh chiếm mục tiêu. Củng không về được. Ai sẽ đưa các đồng chí ấy đi? Ai sẽ dẫn đường cho sư đoàn vào trận? Phương án tác chiến của sư đoàn sẽ bị đảo lộn. Và chưa biết chừng vì thế mà máu sẽ đổ, chiến thắng không giành được. Trời ơi! Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Kỷ luật lại cần được coi trọng hơn ở mặt trận. ờ mà mình có vết thương gì đâu nhỉ? Mà sao họ cứ bắt mình nằm đây điều trị. Vô lý! Chiến trường đang cần mình từng giờ, từng phút. Trận chiến đấu chuẩn bị mở màn, vậy mà... không thể được, mình phải chuồn khỏi cái trạm quân y đầy cạm bẫy này thôi, để trở về đơn vị.

Củng ngó vào bếp, liệng ra vườn, vào trong nhà... không có ai. Chắc là ba cô quân y vô kỷ luật, suốt ngày mặc thường phục vào rừng rồi, hoặc chơi bời, tán tỉnh đâu đó. Phải chớp thời cơ biến ngay. Nghĩ thế, Củng cảm thấy hưng phấn, tủm tỉm cười một mình và a lê... chuồn thẳng.

Ra tới đầu làng, Củng trông thấy mấy người đàn bà đi chợ về. Họ đi chợ Long Hoa đấy mà. Chợ Long Hoa ở phía cuối đường kia, vậy thì Toà thánh Tây Ninh sẽ ở phía này. Nhà má Bảy ở kế đó. Củng quyết định nhằm hướng Toà thánh dấn bước. Ra đường, điều cần nhất không được lên tiếng. Lên tiếng sẽ bị lộ. Có một tốp ba người đeo súng đang đi lại (dân quân đi tập), Củng dừng bước. Có lẽ bọn dân phòng đi tuần tra, hay đi lùng sục Việt cộng? Chết cha rồi, mình không có một thứ giấy tờ gì trong người, không khéo bị bắt. Tất nhiên, mình không sợ bị bắt, không sợ chết. Nhưng lúc này cần phải sống. Có sống mới tiếp tục chiến đấu. Cách mạng chưa cần mày hy sinh đâu Củng. Chạy! Không được. Đạn nó nhanh hơn mình. ẩn nấp thôi. ở đâu bây giờ? Dưới ruộng mạ? Trống quá. Xuống bờ mương? Cũng thế. Đành phải chui vào cái cống này vậy.

Chị Mạ ở chợ về không thấy anh Củng đâu. Chị hoảng hốt bổ đi tìm khắp nơi. Chị ngó xuống giếng, vào bể nước, nhao cả xuống ao mò... cũng không thấy. Gặp mấy bà đi chợ về hỏi, họ bảo có thấy chú ấy đi ra phía đầu làng. Mạ để nguyên quần áo ướt chạy đi. Khổ thân cho chị, hai ngày nay thấy anh Củng khỏe lại, chị chỉ tạt ra chợ làng cách nhà vài trăm mét mua chút thức ăn trưa. Ngờ đâu đúng lúc đó, anh Củng bỏ đi. Không khéo lại ra đường chặn ô tô, xe máy "đánh" cũng nên. Ra đến đầu làng chị Mạ gặp mấy đứa trẻ hớt hải chạy về tìm chị:

- Cô Mạ, chú Củng chui vào trong cống. Các chú dân quân bắt ra không được. Các chú ấy bảo cô phải ra ngay.

Anh Củng chui vào trong chiếc cống nhỏ tiêu nước. Cũng may về mùa khô, nước cạn còn hở một phần ba. Bà con xúm đến gọi ra nhất quyết không ra. Các chú dân quân giơ súng dọa, anh Củng lại càng "thà chết chứ quyết không đầu hàng".

Chị Mạ ào xuống miệng cống, quỳ dưới nước gọi:

- Anh Củng! Em đây mà, Mạ đây mà.

Từ trong cống nước rùng rùng chuyển động. Có lẽ anh Củng chuẩn bị bò ra. Chờ mãi vẫn không thấy gì, chị Mạ lại gọi:

- Đồng chí Củng hãy chấp hành mệnh lệnh, về ngay quân y điều trị.

Mọi người đứng trên bờ không hiểu gì bật cười. Chị Mạ hỏi mấy chú dân quân:

- Các chú nhìn thấy nhà tôi chui vào đây à?

- Vâng ạ.

Chị Mạ toan bò vào, thì từ trong cống anh Củng bỗng vọt ra, miệng hô "xung phong", tay cầm một hòn gạch tung vào đám đông, rồi nhảy lên bờ nắm chắc hai tay trước bụng, miệng "pằng pằng". Mọi người sợ, xoé ra. Có người ngã bổ ngửa. Anh Củng "xé vòng vây" chạy một mạch vào làng...

Chị Mạ hớt hải chạy theo sau, vừa chạy vừa gọi, móng chân vấp phải gạch bật máu. Đau lắm nhưng chị phải cố. Về tới nhà anh Củng chui vào trong buồng nhảy lên giường, để nguyên bùn nước, kéo chăn đắp, nhắm mắt giả vờ ngủ.

Chị Mạ bước vào nhìn chồng vừa thương, vừa giận. Song cũng phải nén, nói một câu:

- Đồng chí Củng vô kỷ luật, bỏ bệnh viện đi, như thế là không tốt nhớ.

Anh Củng mở mắt, ngồi dậy giọng van vỉ:

- Chiến dịch sắp nổ súng rồi. Tối nay tôi phải đón các đồng chí biệt động về đơn vị. Đồng chí cho tôi xuất viện về nhà má Bảy. Tôi xin đồng chí đấy.

Chị Mạ hiểu, cần phải từ từ dẫn anh đi từ quá khứ đến hiện tại một cách khéo léo, may ra có thể trở lại bình thường được.

*

- Bố ơi, bố thấy trong người thế nào ạ?

Quế nhẹ nhàng ngồi xuống giường. Không ngờ anh Củng ngồi bật dậy nhìn Quế ngạc nhiên hỏi lại:

- Đồng chí ở ngoài Bắc mới vào? Như thế là Sài Gòn đã giải phóng, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, phải không đồng chí?

Chị Mạ nghe anh Củng hỏi con gái, liền vội vàng bước vào trả lời thay:

- Đúng, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Đất nước đã thống nhất. Nhưng đồng chí bị thương, vết thương rất nặng cần phải được điều trị lâu dài.

Bóng anh Củng được ánh điện in lên tường, cái đầu lắc lư trông như phim hoạt hình. Một con muỗi lang lảng trước mặt, Quế giơ hai bàn tay đánh vào nhau kêu đét, làm con muỗi chết không còn xác. Anh Củng nhìn hai bàn tay con gái cho đến khi nó trở lại vị trí cũ, rồi mới nhìn chị Mạ nôn nóng hỏi:

- Đồng chí có biết cô Tư Hiền sức khoẻ hôm nay thế nào?

Chị Mạ nhớ ngay đến cô Tư Hiền, nhân vật trong nhật ký mà chị đọc cho anh nghe tối qua, chị trả lời:

- Tư Hiền đã khoẻ rồi. Giờ cô ấy về Thành Đoàn công tác.

- Tây Ninh giải phóng rồi chứ? - Anh Củng hỏi dồn dập - Đồng chí có biết đơn vị tôi hiện đóng quân ở đâu?

Chị Mạ nghĩ ngay đến việc đưa nhanh anh về thực tại. Chị ngồi xuống bên anh, giọng ấm áp:

- Tây Ninh đã giải phóng rồi. Đơn vị đồng chí hiện đang đóng quân ở Trảng Lớn. Đồng chí bị thương gãy hai xương sườn, giập lá lách và chấn thương sọ não. ở bệnh viện của Miền, các bác sĩ đã chữa lành vết thương cho đồng chí. Riêng lá lách còn phức tạp, nên đã chuyển đồng chí ra Bắc điều trị. Bây giờ quân đội tạm đưa đồng chí về gia đình, tức là về quê của đồng chí an dưỡng, có bác sĩ Bằng đi theo để chăm sóc. Đây là nhà của đồng chí.

- Nhà của tôi! Vợ và con gái tôi đâu?

- Cô Mạ vợ anh và con gái anh sang bên ngoại đám giỗ, nhờ chúng tôi trông nhà... Bác sĩ Bằng dặn, bây giờ anh phải ngủ, sáng mai tỉnh dậy bác sĩ Bằng sẽ cho anh gặp vợ và con.

Chị Mạ quay trở ra, chọn một lọ thuốc trong hộp thuốc. Chị mở lọ, lôi túm bông, rồi đổ ra lòng bàn tay, nhón lấy hai viên thuốc cho anh Củng uống.

Anh Củng ngoan ngoãn làm theo lời chị Mạ. Khi anh Củng đã yên ấm trên giường, chị Mạ tắt điện kéo con gái ra ngoài.

- Mẹ cho bố uống thuốc gì hả mẹ?

- Thuốc ngủ.

Trở lại phòng ngủ của Quế, hai mẹ con ngồi xuống giường. Chị Mạ quành hai cánh tay gỡ búi tóc thả ra. Mớ tóc đen nhánh được giải phóng, vỡ oà chảy tràn xuống vai nhẹ nhõm. Quế hỏi:

- Bây giờ làm thế nào, hở mẹ?

- Mẹ đang nghĩ đây. - Vừa nói chị Mạ vừa ngả lưng xuống giường - Tối nay, hai mẹ con mình ngủ với nhau. Quế đứng dậy cởi bỏ bộ đồ ngoài treo vào giá áo, lấy bộ đồ ngủ mỏng như lụa, màu da trời mặc vào. Thoáng chốc, cô đã hoá thành nàng tiên trong ảo mộng. Bóng cô thấp thoáng dập dờn như mây bay. Khi đã rúc mái đầu vào nách mẹ, tay phải luồn vào giữ bầu vú của mẹ, Quế mới buông một nhịp thở và cảm thấy yên ấm như thuở còn thơ ấu.

- Cha bố cô. Có phúc đã có con bồng, con bế... còn sờ vú mẹ.

Quế lại rúc sâu thêm vào nách mẹ, bàn tay cô day mạnh lên bầu vú tuy không còn rắn cứng nhưng vẫn còn đầy đặn. Bầu vú của mẹ cô - bầu vú đ• nuôi cô lớn lên. Quế nghĩ, tạo hoá ban cho người phụ nữ đôi bầu vú thật kỳ diệu. Nó là món quà tuyệt diệu của tình yêu, là kho báu của con trẻ, là đồ trang sức của phái đẹp và hơn thế nữa là sức sống của nhân loại. Sức sống, tuổi xuân, sức khoẻ, sự cống hiến của người phụ nữ được thể hiện nơi bầu vú của mình. Cặp vú càng tươi trẻ bao nhiêu, thì sự cống hiến của nó càng nhiều bấy nhiêu. Mỗi lần cho người mình yêu, mỗi lần sinh con, nuôi con cặp vú phải gồng lên căng ra cho tươi trẻ để dâng hiến. Cặp vú người phụ nữ như thể là báu vật. Nó vừa xinh đẹp, vừa quý giá và thiêng liêng. Đối với đàn ông, lọt lòng mẹ đã làm bạn với bầu vú, cho đến khi sức tàn lực kiệt, chán hết sự đời vẫn chưa muốn chia tay. Với người phụ nữ, một đời chăm chút cặp vú của mình, như chăm mầm non. Chăm chút để dâng hiến, để cho và nếu nhận chẳng qua cũng là thụ động. Thì ra, đàn bà sinh ra để hy sinh. Nếu đúng như thế, thì hy sinh cũng là hạnh phúc. Kiếp đàn bà khổ thế đấy, nhưng hạnh phúc của họ cũng cao quý.

Chị Mạ gỡ tay con gái, ngồi dậy:

- Con ngủ trước đi. Mẹ có chút việc.

Chị Mạ rà chân tìm đôi dép, dò dẫm bật điện, lấy cuốn sổ và tờ giấy, hì hụi ngồi viết.

Chỉ một lát sau, ở trên giường Quế đã co như con tôm, hai tay vất trên chiếu vô tư, ro ro ngáy.

*

Khoảng bốn giờ sáng, Quế đang nằm mơ, một giấc mơ tuyệt vời: Tự dưng cặp môi của Quế to dần ra, nhô cao, đỏ mọng, rồi chồi ra như nụ hoa nở dần trước nắng mai rực rỡ. Vậy mà anh cứ đứng trân trân, vô hồn không chịu tiếp nhận. Cặp môi Quế phải nở thêm ra chút nữa, thắm thêm chút nữa, và Quế phải nhướng cao thêm chút nữa... để anh tiếp nhận. Cặp môi anh đ• hơi hé mở. Mắt anh đã nhìn xuống đang rọi vào "hoa môi" của Quế. Anh bắt đầu cúi xuống. Như có một luồng từ trường xâm nhập, Quế run run, nhắm mắt để cho hoa môi cô hút lấy môi anh. Anh đặt bàn tay vào vai Quế. Anh sẽ kéo Quế vào lòng. Anh sắp kéo. Nhưng không, anh lại bấu vào vai Quế lay lay mạnh.

- Quế, Quế ơi, dậy mau con!

Quế mở mắt, loáng choáng trong trạng thái giữa mơ và thực. Cô tỉnh hẳn khi nghe tiếng mẹ:

- Dậy mau, xuống cô Bằng, mời cô xuống cho mẹ.

5 giờ 20 phút cô Bằng đến. Mẹ và cô Bằng trao đổi với nhau một lúc. Mẹ đưa cuốn sổ tối qua mẹ hì hụi viết cho cô Bằng. Cô Bằng cầm cuốn sổ, đeo túi thuốc sang phòng bố. Mẹ kéo Quế lại và bảo:

- Con mặc bộ đồ này (mẹ chỉ bộ đồ áo nâu, quần đen). Mẹ mặc bộ này (mẹ chỉ vào bộ màu đen bà ba). Chuẩn bị sang gặp bố.

Nói rồi, mẹ tự gỡ cúc áo, mặc bộ đồ đen vào. Mẹ làm rất nhanh, có vẻ hấp tấp. Quế cũng làm theo mẹ và đứng trước gương. Tẩm thật, đúng là cô bé con thời tuổi hồng. Mẹ lấy đoạn dây cao su, vuốt mớ tóc của Quế ra sau gáy buộc túm lại như đuôi con gà trống. Mẹ ngắm nghía, kéo vạt áo cho Quế, bảo "được rồi". Mẹ mở tủ lấy chiếc khăn len thời "kháng chiến" ra trùm lên đầu, buộc dưới cằm, hai đuôi khăn thắt lại, xoè ra như chiếc nơ. ở bên buồng bố, tiếng cô Bằng nói to như ra lệnh:

- Đồng chí Củng! Tôi là bác sĩ Bằng được bệnh viện quân đội cử về điều trị, chăm sóc sức khoẻ cho đồng chí. Rõ chưa? Rõ rồi hả? Bây giờ đồng chí dậy vệ sinh, ăn sáng rồi uống thuốc.

Tiếng bố hỏi lại:

- Vợ và con gái tôi đâu?

Tiếng cô Bằng rành rẽ:

- Đồng chí làm xong tất cả những việc tôi vừa nói, nửa tiếng nữa vợ và con gái đồng chí sẽ về. Rõ chưa?

Mẹ khép cửa, chốt lại, kéo Quế vào giường. Trông mẹ như con gái sắp về nhà chồng. Hồi hộp, lo lắng và hình như cũng vui sướng nữa. Quế đã hiểu, hôm nay mẹ quyết định dựng màn kịch để chữa bệnh cho bố. Có lẽ mẹ đ• tính toán vụ này kỹ lắm.

Bên phòng bố, tiếng cô Bằng lại vang lên, nhưng nhỏ và đều:

"Mình bị thương khá nặng. Cũng may đất nước hòa bình, nên đơn vị đưa thương binh ra Bắc điều trị. Vết thương cũng tạm ổn, lại quá nhiều thương binh nên quân y viện đồng ý cho mình về nhà điều trị ngoại trú. Bác sĩ Bằng vừa tận tụy, vừa nghiêm khắc. Mình không ngờ lại được về nhà vào lúc này. Vừa mới hôm nào còn nằm dưới hầm nhà má Bảy ở Tây Ninh, vậy mà hôm nay đã nằm trên giường nhà mình ở quê, cách xa hai nghìn cây số. Con gái mình lớn quá, xinh quá đã như một thiếu nữ. Chiếc áo nâu bà ba và chiếc quần phíp đen rất hợp với màu da con bé. Trời ạ, lớn bằng này rồi mà còn túm tóc đuôi gà. Mẹ Mạ chả biết làm dáng cho con gái. Còn vợ mình… Ôi nàng tiên yêu quý, nàng mặc bộ đồ màu đen, thật giống Tư Hiền. Tuy nàng có già đi nhiều, nhưng vẫn duyên dáng, xinh đẹp. Nhà mình ngăn nắp, sạch sẽ quá. Cây chanh sai quả, cây đu đủ có bốn quả đang chín. Ngôi nhà bố mẹ mình để lại tuy đơn sơ nhưng ấm áp. Thế là hoà bình rồi. Thế là hết nằm hầm, hết luồn sâu, chém vè, ngủ võng… hết cả bom đạn, hết gian khổ và hết chia cắt. Mình được về sống giữa vòng tay của Mạ và con gái, với làng xóm yêu thương. Niềm vui bất ngờ sau bao năm gian khổ gồng mình lên để chịu đựng".

Cô Bằng đọc đến đấy thì ngừng lại. Quế ngó sang buồng bố, rồi quay lại nhìn mẹ. Trời ơi, trên mắt mẹ đã đong đầy nước mắt. Mẹ khóc làm Quế mủi lòng. Tiếng cô Bằng:

- Vợ và con đồng chí sắp về.

Nhận tín hiệu, mẹ kéo Quế đứng dậy chạy sang gặp bố. Mẹ lao vào và ôm chầm lấy bố, khóc tức tưởi. Quế cũng không hiểu mẹ làm thật, hay đóng kịch. Bố cũng ôm lấy mẹ, và cũng khóc. Một lát, bố gỡ tay mẹ, nói:

- Nhìn kìa, bác sĩ Bằng cười cho - rồi bố vẫy Quế - Con gái lại đây với bố.

Được bố chấp nhận, tự dưng người Quế rung lên như một cơn sóng dâng trào từ chân, lên người rồi tràn vào óc, ùa ra làn da mặt, Quế nấc lên, ôm chầm lấy bố.

Bố vừa vỗ lưng Quế, vừa nói:

- Con gái bố lớn quá, sắp lấy chồng rồi. - Mạ ơi, em giết gà làm cơm mời bác sĩ Bằng đây, mừng gia đình ta sum họp.

Mẹ gạt nước mắt ôm vai cô Bằng. Hai người tựa đầu vào nhau. Quế vân vê cọng râu ở cằm bố, nhõng nhẽo:

- Hoà bình rồi, bố ở nhà với con, bố nhé.

Bố vuốt sợi dây cao su buộc tóc của Quế, để mái tóc buông xoà, mỉm cười bảo:

- Con để tóc thế này đẹp hơn, con gái.

Bỗng dưng Quế buột miệng:

- Bố ơi, con muốn... có em.

Cả nhà bỗng cười và vui vẻ.

11

Đã lâu lắm, hôm nay gia đình Mạ mới được ngày vui vẻ. Anh Củng gần như người bình thường, vừa hân hoan sung sướng là người chiến thắng trở về, vừa ấm áp mặn mà chiều vợ, thương con gái. Anh đi thăm hỏi bà con làng xóm, thông báo tin miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Cùng ngày, một tin vui nữa chợt đến với gia đình chị: bố đẻ chị Mạ - ông Lạm đã 78 tuổi ở với cậu con út trong Thành phố Hồ Chí Minh về thăm quê. Chị Mạ xúc động muốn sà vào lòng bố như thuở còn thơ dại. Có lẽ đó là tình cảm của con người sau một thời gian dài chịu đựng gian khổ đơn độc một mình, đang cần nơi nương tựa. Ông Lạm đ• già yếu nên mới phải vào ở với con trai. Trẻ cậy cha, già cậy con là thế.

Tin vui cùng một lúc toả ắp căn nhà nhỏ của gia đình chị Mạ. Bà con xóm giềng được tin ông Lạm về thăm quê, kéo sang thăm hỏi, lại thấy anh Củng bình thường khoẻ mạnh, vui như tết, ai cũng mừng cho gia đình chị Mạ. Bữa cơm sum họp trưa hôm nay kéo chị về cách đây hơn 30 năm - gia đình chị liên hoan cho chàng rể lên đường vào miền Nam chiến đấu. Hồi ấy chị còn mẹ. Mẹ luôn gắp thức ăn cho anh Củng: "Con ăn cho khoẻ để chân cứng đá mềm, vượt Trường Sơn mà đánh thắng Mỹ". Hôm nay, anh Củng vừa gắp thức ăn cho bố vợ, vừa nói:

- Chúng con chỉ mong bố khoẻ, sống lâu để hưởng hoà bình của đất nước.

Ông cụ vừa uống rượu vừa cười khà khà. Chị Mạ hiểu, bố chị cười khà khà như thế là vừa lòng lắm. Ngày mẹ còn sống, hễ bữa cơm nào có món ngon, hợp khẩu vị, hoặc mẹ con chị có việc gì vừa ý là bố cười khà khà. Mẹ biết như thế là khen mẹ. Hôm nay, ông cụ có biết đâu, anh Củng đang là người mang trọng bệnh. Anh sống được ngày nào biết ngày ấy. Chị không dám nói, chưa dám nói với ông cụ điều ấy vì sợ ngày vui của tuổi già vụt tắt. Cả hai người đàn ông - hai người thân thiết của đời chị, họ đều vui, đều sung sướng. Nhưng cả hai sự sống chỉ tính tháng, tính ngày. Chị không thể hình dung nổi, nếu một ngày nào đó họ bỏ chị ra đi vĩnh viễn, chị sẽ sống ra sao? Chỉ con Quế là sung sướng, vô tư ra mặt. Suốt từ sáng nó vừa làm, vừa hát. Những bài nó hát tuy chị không thích lắm, nhưng thấy con say sưa, chị cũng vui lây. Lúc sắp cơm, nó bảo: "Sắp riêng một mâm cho ông ngoại và bố nhắm rượu mẹ nhỉ?". Chị Mạ ớ người. Đã từ lâu trong nhà chị chưa có bữa nào có hai người đàn ông nhắm rượu với nhau. Hồi anh Củng còn khoẻ, về huyện đội công tác, thỉnh thoảng dăm bảy sĩ quan cùng cơ quan kéo đến, chị làm món nhậu để họ chén tạc, chén thù với nhau, vui lắm. Thường thì, bữa nào có món gì hay hay, anh Củng rót một ly rượu nhắm một mình. Từ ngày anh ốm, điều đó không có nữa. Chị đang chần chừ chưa trả lời con gái, tiếng anh Củng trên nhà:

- Xong cơm chưa? Bê lên em ơi! Cả hai mẹ con cùng ăn với ông cho vui.

Nhìn hai người đàn ông nhấm nháp vị ngon của thức ăn, chị cảm thấy hạnh phúc. Hạnh phúc của người đàn bà lạ lắm. Nó khác với người đàn ông ở chỗ được cống hiến, được làm cho người khác sung sướng.

Anh Củng gắp một con tôm chiên bột giơ lên nói với bố vợ:

- Con đi từ Bắc chí Nam, nếm cũng nhiều cao lương mĩ vị. Song món tôm chiên nhà con làm thì không lẫn vào đâu được. Bố phải nhấm từ từ, nhai thật kỹ. Vừa nhai vừa làm sao cho hai lỗ thông từ trên mũi xuống hàm trên nở ra, mới tiếp nhận đủ hương vị riêng của món tôm này.

Ông Lạm đặt đũa ngang bát, lấy chiếc tăm, nói:

- Bà ấy ngày trước chiên tôm ngon nhất làng. Bố mê bà ấy trước hết là mê cái món tôm tẩm bột chiên mỡ. Bây giờ giỗ bà ấy, nhất thiết bố phải cúng món này.

- Như vậy là ông yêu tôm chiên, chứ đâu có yêu bà. - Quế vui vẻ nói chen vào.

- Tất nhiên là ông yêu bà. - Anh Củng giải thích - Để yêu được con người trước hết bắt đầu từ lời ăn, tiếng nói, cử chỉ, việc làm... chứ con nói có phải không ông?

- ờ… ờ, tất nhiên rồi. Ông chỉ biết, ông không thể quên được bà. Ông về đây ngoài việc thăm con, thăm cháu, quê hương, làng xóm, bà con, thực ra... chẳng mấy đêm ông không mơ thấy bà giục ông về. ở đây còn có ngôi mộ của bà.

- Ông ở lại với cháu nhớ. - Quế vênh mặt nói.

- Còn cậu út, cháu ạ. Suy cho cùng cha mẹ lại phải theo con cái.

Không khí bữa ăn bỗng chùng xuống. Ông cụ xúc động nâng chén rượu nhấp một ngụm rồi đặt chén xuống, nói:

- Các con bây giờ đã làm cha, làm mẹ. Các con hiểu nỗi lòng cha mẹ đối với con cái như thế nào. Khi đã về già, lực bất tòng tâm, không làm được bao nhiêu cho con nữa, lúc ấy mới thương con hơn. Bố về, thấy gia đình con sum họp, hạnh phúc là bố vui lắm. Con Mạ vất vả, bao nhiêu năm nuôi con một mình. Giờ anh Củng vinh hoa phú quý trở về. Trời có mắt, đền bù cho con thế là công bằng lắm. Đêm nay bố sẽ ngủ ngon vì bố ngủ ở làng mình và trong một gia đình yên ấm hạnh phúc.

*

Ông Lạm đã tỉnh ngủ từ lâu. Nhưng vì, bên cạnh con rể vẫn ngáy pho pho, trời lại se se lạnh, nên ông vẫn yên vị trên giường. Đã lâu lắm, nay ông mới lại có được cảm giác yên tĩnh, bằng lòng thế này. Tiếng gà gáy gợi cho ông kỷ niệm đời lão nông, tuy có đói nghèo thật, nhưng tình nghĩa chả bao giờ thiếu. Về làng, như được nằm về cái nôi thuở nhỏ có tiếng ru à ơi của mẹ, như được tắm mình trong không khí thuần khiết tuổi thơ và được hoà tan trong không gian thoáng đãng. Chao ơi! Quê hương là một khái niệm nhưng lại rất cụ thể như là bờ kênh, gốc dứa... như là máu, là thịt của mỗi người.

Tiếng chim chích choè bắt đầu hát. Tiếng hót lảnh lót, cần mẫn như ca ngợi cuộc đời. Chúng hót không cần biết có ai khen ngợi. Chúng chỉ ngừng khi nào từ giã sự sống. Rồi tiếng lợn kêu, tiếng lũ chó giỡn nhau buổi sớm, tiếng lộc cộc của trâu bò, tiếng vỗ rá gạo, tiếng ho khù khụ của người già... Tất cả những âm thanh quen thuộc đã gợi lại cho ông biết bao kỷ niệm và cảm giác bình yên, sung sướng.

Anh Củng cựa quậy. Anh Củng bật dậy. Anh Củng ngơ ngác. Anh Củng nhảy xuống đất. Anh Củng bật điện. Anh Củng xem đồng hồ. Anh Củng hoảng hốt:

- Chết! Trực ban đâu? Sao không báo thức, đôn đốc cho bộ đội tập thể dục?

Nói xong, anh Củng vạch màn cầm chân ông Lạm kéo:

- Dậy, dậy mau, ra sân tập thể dục!

Anh Củng mở cửa chạy sang phòng chị Mạ và con gái, đập vào cửa quát:

- Dậy, khẩn trương! Mau ra tập thể dục.

Anh lao ra sân co hai tay ngang sườn, nắm lại chạy đều quanh sân, miệng hô: "Một, hai, ba, bốn... Một, hai, ba, bốn... Một hai, một hai".

Chị Mạ và Quế chạy ra, co ro đứng trên thềm nhìn anh Củng. Anh Củng vừa chạy, vừa quát:

- Các đồng chí xuống đứng vào hàng! Còn đồng chí nữa đâu? Khẩn trương lên chứ.

Để nguyên tư thế hai tay co ngang sườn, anh Củng chạy vào nhà, túm tay ông Lạm kéo ra sân:

- Một hàng ngang tập hợp! - Anh Củng hô và đứng nghiêm, mặt ngẩng lên chờ đợi.

Thấy con gái và cháu ngoan ngoãn xếp hàng, ông Lạm chưa hiểu gì cũng đứng nối tiếp. Anh Củng rời vị trí, tiến lên phía trước ba bước, đằng sau quay, đứng nghiêm hô:

- Nghiêm! Mỗi đồng chí cách nhau một sải tay, nhìn bên phải... thẳng!... Tôi hô, các đồng chí phải đánh mặt sang phải. Đồng chí kia, nam giới ấy, thế nào là bên phải thẳng, hở?

Ông Lạm gặp lạnh đột ngột, hắt hơi liền mấy cái. Ông liếc nhìn con gái có ý hỏi. Chị Mạ gật đầu có ý bảo bố cứ làm theo, nên ông Lạm cũng hơi yên tâm. Có lẽ nhà binh có nếp như thế. Mình "nhập gia phải tuỳ tục" thôi. Anh Củng ra lệnh:

- Bốn bài thể dục buổi sáng. Bài một, lần một chuẩn bị! Một... hai... ba... bốn. Ơ hay, đồng chí kia không tập à? Các đồng chí tập theo tôi rõ chưa?... Năm... sáu, bảy... tám. Hai... hai, ba... bốn, năm... sáu, bảy... tám! Đồng chí kia phải thẳng tay chứ, khòng khòng thế làm sao khoẻ được.

Vừa nói, anh Củng vừa tiến lại chỗ ông Lạm, một tay đỡ khuỷu tay, một tay cầm cổ tay ông Lạm uốn nắn:

- Phải thẳng như thế này. Chân giạng ra bằng vai, thế. Mới ở chiến trường miền Nam ra hả? Thảo nào ngu ngơ điều lệnh lắm.

Làm xong, anh Củng lùi ra ba bước giảng giải:

- Rèn luyện thân thể cho dẻo dai để bảo vệ Tổ quốc, đó là trách nhiệm, đồng thời là vinh dự của mỗi quân nhân. Đất nước hoà bình vĩnh viễn rồi, không thằng đế quốc nào dám nhòm ngó đến Tổ quốc ta nữa. Nhưng vẫn phải cần có quân đội. Quân đội có mạnh, thì kẻ thù mới sợ, không dám gây chiến tranh. Vì vậy các đồng chí phải tập thể thao, thể dục thường xuyên, rõ chưa? Bây giờ chúng ta tập tiếp. Mười sáu động tác võ thể dục, chuẩn bị...

Ông Lạm mắm môi, mắm lợi chịu một luồng gió lạnh. Tuy người ông lạnh run, nhưng vẫn cố quan sát các động tác của chàng rể. Ông cũng cố tập theo, nhưng không được, khó quá. Thân thể ông lẻo khẻo, chân tay cứng queo, gân cốt nhão nhoét, không sao theo kịp nhịp hô. Con Quế cũng thế, nó múa may lung tung như con bọ gậy, cốt là để chiều theo ý bố nó. Ông Lạm buồn rầu, chậc lưỡi, kiểu này không khéo tối nay chàng rể còn bắt ông gác đêm nữa thì khốn.

Anh Củng cho ngừng tập, đứng giạng chân, hai tay vắt chéo sau lưng, ngẩng mặt hô lớn:

- Rèn, luyện, thân, thể...

Cả ba người không hưởng ứng. Ông Lạm nhìn chị Mạ, chị Mạ nhìn con gái. Con gà trống từ trên gác bếp nhảy xuống, chạy ra sân đứng cạnh anh Củng, đập cánh phành phạch, vô tư cất cao cổ gáy. Anh Củng giơ chân đá bốp vào đuôi con gà, làm cắt ngang tiếng gáy, xoé lên bỏ chạy. Anh Củng cạu mặt:

- Các đồng chí ở quân đội bao nhiêu năm, mà không thuộc à? Tôi hô "Rèn luyện thân thể", các đồng chí phải hô theo "Bảo vệ Tổ quốc" chứ? Bây giờ làm lại. Đồng chí nữ quân nhân kia, đứng giạng hai chân bằng vai, chắp hai tay ra sau mông. Tất cả hô cho to vào.

Một con gà mái đang ấp trong ổ, nhảy xuống đất, chạy ré ra sân rồi đứng trước mặt anh Củng, xệ đuôi "phẹt" một đống rõ to, khói bốc lên, mùi hôi thối xộc vào mũi. Quế bưng miệng quay đi. Chị Mạ cúi xuống. Ông Lạm đứng yên. Anh Củng quát:

- Gà của tiểu đội nào đấy? Tôi ra lệnh hôm nay thịt hết. Ngày mai tôi còn trông thấy con nào, tiểu đội trưởng phải kỷ luật.

Anh Củng hô giải tán, chị Mạ vội chạy vào nhà tìm tập nhật ký. Khổ cho anh, chữa được cho anh trở về hiện tại, anh lại lên cơn như trước. Không còn cách nào, lại phải đọc cho anh nghe. Cũng khổ cho ông cụ quá. Niềm vui đến với cụ chưa trọn ngày, đã lại... Chị Mạ thương bố đã ở cái tuổi "cổ lai hy" rồi mà vẫn không một ngày được nghỉ ngơi, vẫn lo cho con, khổ vì con.

*

Chị Bằng xuất hiện đúng lúc. Vừa nhìn thấy Bằng, anh Củng vội vã chạy vào buồng leo lên giường đắp chăn và... nhắm mắt ngủ. Như thế là anh Củng đang ở trạng thái tâm thần. Chị Bằng đo huyết áp, nghe tim mạch và quyết định tiêm cho anh Củng một liều an thần. Kéo ống tay áo xuống, phủ tấm chăn lên ngực anh Củng, chị Bằng nói như ra lệnh:

- Đồng chí Củng phải ngủ, để vết thương mau lành, rõ chưa?

Cơ mặt anh Củng hơi dúm lại, rồi giãn ra như một cử chỉ tiếp nhận mệnh lệnh.

Chị Bằng xách túi thuốc trở ra, ngồi xuống ghế cùng ông Lạm và chị Mạ.

- Con Quế đâu, Mạ? - Chị Bằng hỏi.

- Đi làm rồi. - Chị Mạ trả lời và giơ tay quệt nước mắt.

Ông Lạm thả chân xuống nền nhà, tiếp tục câu chuyện:

- Cháu Bằng này... Bác đang khuyên Mạ, để bác nói tiếp cháu cùng nghe.

Ông Lạm vào Hội Phật giáo, đang lấy thuyết nhà Phật để khuyên con gái. Ông bảo, Phật giáo có thuyết "Vô thường", vô thường là không được lâu, được bền. Có nghĩa là mọi cái đều biến đổi. Đời con người ta cũng không thoát được lẽ vô thường. Sống lâu đến bao nhiêu tuổi rồi cũng phải chết. Sự vô thường xảy ra từng phút và nó diễn ra theo bốn giai đoạn: Sinh, trụ, dị, diệt. Đối với đồ vật cũng thế: Thành (tức là ngoại lực tạo thành), Trụ (tức là ở lại), Hoại (tức là hư hỏng), Không (tức là bị loại bỏ)... Ông Lạm nói tiếp:

- Bố lấy tỉ dụ như vầy: Cái cuốc được thợ lò rèn làm ra là Thành. Người nông dân mua về dùng là Trụ. Lâu ngày cuốc hư hỏng không dùng nữa là Hoại. Đem vứt vào đống sắt vụn là Không. Trong cuộc sống của chúng ta luôn luôn vô thường. Có cái trước là hay, bây giờ có khi lại dở. Năm nay tiến bộ, có khi sang năm lạc hậu. Bây giờ khoẻ mạnh, ngày mai lăn ra ốm yếu. Ai hiểu được lẽ vô thường sẽ bình tâm chấp nhận mọi sự biến đổi trong cuộc sống. Trong quan hệ gia đình, nếu các con hiểu lẽ "vô thường", sẽ không hoang mang khi cha mẹ già, yếu, không buồn rầu khi các cụ quy tiên, không lo sợ khi con cái lớn lên có những biến đổi tính nết khác thường. Và ngay cả chính bản thân các con, nếu chuẩn bị bước sang giai đoạn Dị, Diệt thì cũng sẵn sàng vui vẻ. ở đời không có cái gì là không vô thường cả. Có người mới cưới vợ thì rất mặn nồng, nhưng vài năm lại chê vợ già, xấu... tìm cách này, cách khác để ly hôn. Đó là họ không hiểu lẽ vô thường. Người đàn bà nào cũng vậy, sinh nở, lam lũ, nuôi con, vất vả làm sao còn trẻ đẹp như xưa.

Ông Lạm ngừng nói, đánh rơi Mạ và Bằng vào khoảng không vô định. Một lát ông nhìn vào mắt con gái nói tiếp:

- Bệnh của chồng con, như con kể, theo bố khó có thể cứu v•n được. Nhưng con có thể tìm mọi cách kéo dài thời gian Trụ cho chồng con. Đó là việc con và Bằng, mọi người có thể làm được. Người ngoài nói sao, mặc người ta, đừng có nghe gió mà suy ra b•o. Vợ chồng là nghĩa tao khang. Bố còn nhớ hồi mới sinh con, mẹ con bị băng huyết gần đất xa giời, mới sinh mà con đ• bị viêm phế quản và ỉa chảy nặng, đến nỗi miệng bú sữa, đít ỉa ra sữa trắng phau, gạo trong nhà không còn một hột. Không có gì bán ra tiền. Họ hàng, bà con cũng toàn mắt trắng nhìn nhau. Dựa vào núi, núi không, dựa vào sông, sông chảy. Bố tưởng đận ấy, cả nhà quỵ ng•. ấy vậy rồi cũng qua được, là nhờ bố và mẹ con bình tâm tiếp nhận và lần gỡ khắc phục từng việc. Bây giờ con còn có con gái, có chị Bằng bên cạnh, có bà con làng xóm và cả bố đây nữa.

Chị Mạ hết sụt sùi, đứng dậy đong bơ thóc ném ra sân cho gà ăn. Nhẩm đếm thấy đủ gà, rồi trở lại đặt chiếc ống bơ lên mặt bàn, nói với bố:

- Con cũng đã bàn với chị Bằng đây, cứ để nhà con ở nhà, hai chị em con kiên trì điều trị. - Quay sang Bằng, chị Mạ nói - Bằng này, tao tính anh Củng tỉnh dậy là tao lại đọc cho nghe. Nếu còn hiệu nghiệm, tao và con Quế có thể đọc được vài tháng nữa mới hết chuyện. Cần thuốc gì mày cứ kê, tao mua.

Một con nhện nâu đánh đu trước mặt chị Mạ và rớt xuống mặt bàn vội chạy núp vào gầm chiếc khay. Nhìn con vật bé xíu làm xiếc, chị Mạ hỏi bố:

- Nhện sa có sao không, bố?

- Chẳng sao cả. - Ông Lạm cười.

Nãy giờ chị Bằng ngồi nghe ông Lạm nói những điều dạy dỗ Mạ, Bằng thấy đúng và sâu sắc nữa, cảm thấy tiếc và buồn. Đời người thì ngắn mà chị sống chả ra làm sao cả, toàn là hẫng hụt, thiếu thốn và mất mát. Ngay cả đến nhu cầu đơn giản tạo hoá ban cho người đàn bà, chị cũng không đủ, không có. Cuộc đời không công bằng chút nào. Kẻ thì dùng không hết, người lại lần không ra... Dẫu gì, Mạ cũng có anh Củng để mà lo lắng, chăm sóc và cả... ôm ấp nữa. Khổ như nó mà cũng còn hơn mình. Vậy thì cái đời mình có còn gọi là đời người nữa không? Đôi lúc chị muốn gào, muốn thét. Rồi lại có lúc nghĩ, đời là thế, muốn có, muốn được phải tranh, phải cướp. Nhiều đêm nghĩ, thấy nóng cả mặt, hai bàn tay đã nắm lại, quyết tâm lắm rồi. Sáng dậy, soi gương, chải tóc, đeo lại chiếc coóc-xê, tự dưng cái đàn bà ở trong mình lồ lộ trỗi dậy, thế là đỏ mặt, thế là nhụt chí, có người chào giật mình. Để rồi đến đêm lại vò võ, nằm nghiêng vụm hai bàn tay vào bẹn, ngủ thiếp đi cho tới sáng tỉnh dậy hai bàn tay vẫn bấu chặt. Nghĩ, cái Mạ cũng còn sướng chán. Anh Củng của Mạ, nếu không bệnh tật thì đúng là đàn ông tuyệt vời. Hồi còn ở Trường Sơn, con Hà cùng tiểu đội mê anh Củng như điếu đổ, đến nỗi đêm nằm trong hang đá nó mê ngủ ôm chầm lấy Bằng nghiến ngấu, miệng không ngớt: Củng, Củng.

CÒN TIẾP...





© Cấm trích đăng lại nếu không được sự chấp thuận của Tác Giả và Newvietart - Việt Văn Mới .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC