Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







MẶT TRỜI CỦA MẸ









Trời phú cho Hường cô gái nhà quê nhan sắc hơn người. Dong dỏng cao một mét bảy mươi hai, cân nặng năm mươi ba kg, ba vòng eo cân đối, là mơ ước của bao cô gái đương thời. Da trắng như trứng gà bóc, khuôn mặt trái xoan thanh tú, hai gò má phớt hồng như quả táo chín, sống mũi cao, đôi mắt đen mở to chân chất. Trên môi luôn nở nụ cười thân thiện, phô hai hàm răng hạt lựu đều tăm tắp. Cái duyên thầm nền nã, ưa nhìn không phụ thuộc nhiều vào phấn, son, chân chất như hương đồng, gió nội làm siêu lòng người.

Thấm thoát gần nửa thế kỷ trôi qua, biết bao sự tiến triển đổi mới của xã hội, và chuyện riêng tư mỗi đời người, cũng thay đổi đến chóng mặt. Nỗi buồn của cô giáo Hường tưởng đã chôn sâu vào dĩ vãng, bỗng tràn về làm cô đau buồn âm ỷ, ám ảnh cả trong mơ.

Từ hôm nhận được thư, và ảnh người thân trong gia đình nhà chồng sắp cưới của con gái, Hường bàng hoàng, lo sợ đến mất ăn, mất ngủ mà không thể chia sẻ với ai.

Đêm đêm, khi xóm làng chìm vào giấc ngủ sâu, chỉ còn tiếng côn trùng rên rỉ, tiếng lá rơi xào xạc bên thềm, tiếng chó sủa bóng trăng, văng vẳng cuối trờì… những ngày làm thuê ở nhà nghỉ Lê Khanh, cách đây gần ba mươi năm, khi cô học ở trường sư phạm một- Hà Nội, lại hiện rõ trong tâm thức Hường.

Dưới tấm ảnh chú thích: ( Hàng trên, là bố mẹ chồng sắp cưới của con; hàng dưới, con với anh Đức, bạn của anh Đức - con rể tương lai của mẹ.) Cô giáo Hường lập luận: Hai cậu đều là Đức, vậy cậu Đức kia là con ai? Vợ Lê Khanh ung thư dạ con, phải cắt bỏ hai vòi trứng, mất khả năng sinh đẻ từ lâu?

Nếu thằng Đức nhà mình là chồng chưa cưới của con Hương, thì hai anh em cùng mẹ khác cha lấy nhau ư? Nếu cậu Đức kia là con rơi của Lê Khanh, thì không sao. Nhưng mình không muốn làm thông gia với kẻ lừa gạt hại mình.

Lê Khanh đây. Mái tóc bồng bềnh ngày xưa, đã nhuốm màu sương khói, nhưng vẫn còn phong độ. Cái bớt tựa miếng bã trầu đỏ tía, ở thái dương bên trái, miệng cá ngạo rộng hoác, tham ăn, nịnh bợ, lật lọng, nhổ rồi lại liếm; đôi mắt ti hí như mắt lươn, ẩn sau cặp lông mày rậm, hấp háy nhìn thấu đồ lót đàn bà, con gái của con quỷ ái tình này, không lẫn vào đâu được.

Hường nhớ lại thuở chạy bàn bưng bê, lau nhà, rửa bát vào ban đêm, và ngày chủ nhật, ở nhà nghỉ Lê Khanh. Tuy công rẻ mạt, cũng có đồng cải thiện cuộc sống của sinh viên nghèo. Giảm gánh nặng cho cha mẹ ở quê một nắng, hai sương nuôi con ăn học, đằng đẵng mấy năm trời.

Thấy Hường nhan sắc hơn người, làm việc chăm chỉ, Lê Khanh đem lòng mến mộ, bố trí Hường quét dọn, thay chăn ga, nước uống hằng ngày ở các phòng khách. Công việc nhàn hơn trước, nhưng được trả công cao, Hường mừng lắm. Có dịp kiếm tiền cải thiện đời sống, cha mẹ không phải vắt kiệt sức, nuôi con ăn học, là vận may của cô sinh viên nghèo.

Hường thấy vui, khi ông chủ tươi cười gọi đem trái cây lên văn phòng, pha trà giúp ông tiếp khách. Lúc vắng khách, ông chủ nhờ Hường là quần áo, đôi ba lần Khanh chìa cổ nhờ Hường thắt cà vạt, tấm tắc khen: Em thắt kép kiểu hạt na này thật tuyệt. Khanh không quên tặng Hường nụ hôn gió, buông lời ưỡm ờ, lẳng lơ…

Một hôm, Khanh vẫy tay, nháy mắt gọi Hường lại tủ sách, nhờ tìm giúp cuốn Truyện Kiều. Hường cẩn trọng đọc tên tác phẩm trên các gáy sách, vẫn không thấy cuốn Truyện Kiều. Lê Khanh đến bên người đẹp, ghé vào tai nàng thì thầm điều gì đó…nhìn xoáy vào mắt Hường như thôi miên, rồi anh ta rút cuốn Truyện Kiều trên giá sách, trước sự ngỡ ngàng của Hường.

Bất ngờ, ông chủ nhà nghỉ tươi cười hỏi:- “Đố Hường biết Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du xuất bản lần đầu, vào năm nào? Có bao nhiêu câu thơ lục bát?”

Hường nghĩ: Ông chủ kiểm tra kiến thức của mình đây. Rồi cô mỉm cười, tự tin trả lời:- “ Truyện Kiều của Nguyễn Du xuất bản lần đầu ở nước ta vào năm 1820, có 3254 câu thơ lục bát, nguồn gốc tiếng Việt, thưa anh.”

Khanh hôn lên mu bàn tay Hường, gật đầu tươi cười vẻ thán phục:- “Sinh viên sư phạm có khác.” Đôi mắt anh ta đưa tình đắm đuối, miệng nuốt khan, cục yết hầu chạy lên, tụt xuống, nuốt nước miếng ừng ực…

Một hôm, Hường đang quét dọn, thay ga trong phòng khách, Khanh lẻn vào chốt cửa phòng lại, ôm hôn lên má, lên môi Hường như điên; Hường cố vuột khỏi vòng tay Khanh, ú, ớ kiêu cứu một cách bất lực. Khanh hổn hển nói trong hơi thở: “Tóc em mùi hoa bưởi thơm quyến rũ. Hãy chiều anh một chút, em muốn gì cũng có.Tàn cuộc, Khanh dúi chiếc phong bao vào túi cô sinh viên nghèo, nói: Em sinh cho anh đứa con trai nhé. Lấy anh, chẳng cần phải làm gì vẫn sống trong nhung lụa.”

Lê Khanh- một tay thợ săn lão luyện, dễ dàng tóm gọn con mồi. Hường như con nai tơ ngơ ngác, sa lưới tình khó thoát. Những nụ hôn đắm đuối, với chiếc phong bao cứ lặp đi, lặp lại sau mỗi lần họ mây mưa bên nhau; cùng những lời hứa hẹn có cánh, vẽ ra một tương lai tươi đẹp: Nếu Hường sinh cho Khanh một đứa con trai, tiền ăn học, nhà ở, Khanh lo cho mẹ con Hường một rinh cơ riêng…mà nhiều bạn đồng môn của em nằm mơ cũng không thể có.

Cơn ác mộng hiện trong tâm thức, hành hạ Hường nhiều đêm không ngủ. Mất ngủ kéo dài người gầy tọp, cườm tay ngày xưa thon lẳn, tròn trịa, nõn nà như búp sợi trắng ngần, giờ teo tóp, mu bàn tay nổi gân xanh chằng chịt…

Biết mình có thai, Hường lo ngại nói với Khanh:- Em có thai rồi, giờ tính sao?

- Sao nhanh thế? Không biết con trai, hay con gái? Liệu có phải… con anh? Em nghe anh, phá thai đi. Khi em ra trường chúng ta cưới nhau, lúc ấy sinh con chưa muộn! Như sét đánh ngang tai, Hường giận tím mặt, bị Khanh lừa đảo chiếm đoạt thân xác mình, như một thứ đồ chơi. Muốn nhổ vào mặt anh ta cho bõ giận, nhưng mọi việc đã quá muộn. Đành nuốt nước mắt đắng cay chịu trận, do sự ngu dốt, dại khờ. Một nỗi đau đớn, tủi nhục, bẽ bàng không thể gọi thành tên, mắt ngân ngấn lệ.

Hường quyết định thoát khỏi sự khống chế của Khanh. Nhưng đi đâu, bằng cách nào? Không phá thai, không bỏ học, không thể vừa học, vừa nuôi con. Bài toán hóc búa thật nan giải. Hường làm đơn xin nghỉ học đi “chữa bệnh,” để năm sau được dự thi tốt nghiệp.

Hễ thiu thiu ngủ, lại thấy Lê Khanh vồ lấy bạn tình hôn như điên, mơn trớn, hít hà như mèo vờn chuột. Hai bàn tay lông lá, thô lỗ, lục lọi, vày vò khắp cơ thể. Hường thở hổn hển, cố vuột khỏi bàn tay ác quỷ, ú, ớ la: “Cứu tôi với! Cứu…tô …ôi…vơi…ới!”

Nhiều đêm mơ kêu la như vậy, chồng Hường vừa buồn bực, vừa thương, lại khẻ khàng lay tỉnh vợ… Định thần lại, biết mình vừa qua cơn ác mộng khủng khiếp, nhưng không thể chia sẻ với chồng.

Không còn cách nào khác, có lúc quẩn chí Hường nghĩ đến cái chết- chết mới hết khổ, nhục. Nhưng, như thế mình cướp công cha mẹ, và giết đứa trẻ vô tội, nó có lỗi gì? Hóa ra mình không bằng loài cầm thú! Không. Không thể chết. Sự đời bao nỗi đắng cay, có chuyện sống để bụng, chết mang theo, không thể chia sẻ với ai. Phải tự cứu mình, nếu muốn làm người có ích!

Hường thuê một phòng trọ ở ngoại ô, tạm trú chờ sinh đẻ xong, mọi chuyện tính sau. Trước mắt, phải tìm việc làm dành dụm thêm tiền phòng khi sinh nở. Mấy ngày nay Hường đi khắp phố phường, để mắt tới các biển quảng cáo “ Tìm người giúp việc” nhưng chưa nơi nào nhận.

Đến quá trưa, vào quán cơm bình dân ăn cơm, có bát canh cua đồng nấu với rau đay, mấy quả cà pháo muối lẫn sung, đĩa thịt lợn kho với tôm nước ngọt. Cơm nước xong, nghỉ trưa tại quán. Đầu giờ chiều, Hường lại lang thang đi tìm việc. Một vài nơi cần người giúp việc, nhưng họ ngại người có thai, lại từ chối khéo. Mấy ngày nay, Hường ăn ngày hai bữa ở quán cơm bình dân này, đã thành khách quen của bà chủ quán.

Khi quán đông khách, Hường giúp chủ quán bưng bê, niềm nở tiếp đón khách chu đáo lịch sự, kỹ năng phục vụ rất chuyên nghiệp. Chủ quán gật đầu thầm khen cô gái đẹp người, đẹp nết, siêng năng, ngoan hiền. Không hiểu vợ, con nhà ai, vẻ mặt nhiều suy tư… đã gần ngày sinh còn lang thang đi tìm việc làm, rõ khổ?

Một buổi chiều giông tố ầm ầm kéo đến. Tiếng sét nổ đinh tai, những tia chớp như búi rễ cây rạch bầu trời sáng lóa mắt, trời đổ mưa to lắm. Những hạt mưa quất xuống tấm lợp, như người quăng sỏi, đá lên mái nhà. Sấm chớp ùng oàng, gió giật đùng đùng. Nước mưa ào ạt từ mái nhà đổ xuống sân, xuống đường như thác, cách đồng trước quán nước ngập mênh mang. Khi trời ngớt hạt mưa, đã tám giờ tối, Hường quàng áo mưa, chào chủ quán ra về.

Thấy cô gái bụng mang dạ chửa, định ra đi trong đêm mưa gió, sấm sét đùng đùng, chủ quán ái ngại khuyên:

- Trời vẫn đang mưa nặng hạt, đường nội thành nhiều đoạn ngập nước sâu, nhà em cách đây bao xa, mà đi trong mưa to gió lớn, sấm sét thế này dễ bị cảm lạnh dọc đường nguy hiểm lắm. Thôi, ngủ lại quán với tôi. Công việc gì cũng để đến sáng mai trời tạnh mưa rồi hãy đi, không việc gì phải chuốc khổ vào thân.-Vâng, cháu cảm ơn cô- Hường vui vẻ nghe lời khuyên, thầm biết ơn người chủ quán.

Đêm khuya trời đổ mưa to hơn, quán vắng khách, chủ quán thở dài, phàn nàn:

- “Trời mưa gió, sấm chớp thế này, chẳng có khách vào quán đâu. Cô cháu mình đóng cửa đi ngủ thôi.” Hường giúp chủ nhà thu dọn bát đĩa, lau chùi bàn ăn, quét nhà, rửa bát xong, vào nhà tắm, tắm rửa một chút cho mát. Khi quay ra, cô chủ quán thân mật nói:- Hai cô cháu mình nằm giường này, bên kia là phòng ông xã.

- Sao không chờ chú về rồi hãy đóng cửa quán, thưa cô?

- Phải vài hôm nữa lo xong việc cho em, chú mới về.

- Chắc chú đi làm nhà, hay cưới vợ cho các em, phải không cô?

- Nếu được thế thì còn gì bằng, đàng này… chủ quán bỏ lửng câu chuyện với giọng trầm buồn, sau tiếng thở dài hắt ra, vẻ phiền muộn.

- Cháu xin lỗi vì tò mò làm cô buồn.

- Cháu không có lỗi. Chuyện là thế này: Gia đình bác cả đón hài cốt chú em út, hy sinh bên Cam Pu Chia, do đội tìm kiếm hài cốt của bộ đội ta đưa về. Chính quyền địa phương, kết hợp với gia đình làm lễ truy điệu, mai táng liệt sĩ tại nghĩa trang quê nhà. Tin vui cho thân nhân liệt sĩ, khắc khoải mong chờ mấy chục năm nay.


*


Bà chủ quán chia sẻ:- Vợ chồng cô là bộ đội mở đường Trường Sơn, thuộc đoàn 559. Kết thúc chiến tranh, vẫn lành lận về địa phương xây dựng gia đình. Tưởng mình đã hoàn thành việc nước, việc nhà, may mắn hơn so với bao đồng đội hi sinh. Người có mộ, người không có mộ, và bao ngôi mộ vô danh ở các nghĩa trang đường 9, và nghĩa trang Trường Sơn. Ai đến đây khó cầm nước mắt, bởi các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh cả họ tên mình cho độc lập tự do của đất nước này.

Chú, cô cưới nhau trong hạnh phúc tràn trề. Năm sau sinh bé trai, đầu nó to tướng như quả bí ngô, không một sợi tóc; cơ bắp tứ chi mềm nhão như sứa, tròng mắt lồi ra ngoài mi như cục máu tươi, được ba tháng tuổi nó qua đời. Hai bận sau cũng toàn quái thai, đứa thiếu tay, đứa không có mắt…Mỗi khi có chửa, vợ chồng cô lại phấp phỏng hy vọng, và nơm nớp lo sợ.

Mỗi bận đón con từ tay người hộ lý, cô lại hoảng sợ khóc thét lên, không dám ôm nó vào lòng. Hai vợ chồng cắn răng, nuốt nước mắt cay đắng nhìn nhau. Mỗi lần sinh đẻ, là một cơn ác mộng, làm cô hoảng sợ chết đi, sống lại khi nhìn thấy quái thai từ bụng mình chui ra với hình thù kỳ quái- nửa người, nửa quỷ như vây. Nhưng vẫn phải ôm nó vào lòng, chẳng cha mẹ nào mốn thế.


Ba lần sinh nở toàn quái thai, chúng chỉ sống được vài tháng, chẳng đứa nào nên người. Khổ nhất là lúc người mẹ ôm đứa con không có mắt cho nó bú, lựa đặt đầu vú vào miệng con, nó tóp tép vài cái rồi đầu vú tuột ra, nó khóc thết lên, nghe con khóc tức tưởi, như có ai cầm dao cứa vào lòng mình. Cô phải vắt sữa ra bát, bón từng thìa cho nó ăn. Lúc này mới biết lưỡi nó bé tẹo, ngắn tủn, gần như không có lưỡi. Không thể ngậm đầu vú mẹ như trẻ sơ sinh bình thường. Nó đói, khóc xoe xóe suốt ngày, đêm. Vợ chồng thay nhau bế con, lòng buồn thê thảm.

Sữa về nhiều, hai bầu vú cô sưng to, đỏ tía, chắc cứng. Bởi con không bú được, gây tắc tia sữa. Tắc tia sữa đau nhức, khổ lắm cháu ơi. Muốn vắt sữa ra cho đỡ căng, cứng không được. Vì hai đầu vú sưng tấy, nứt nẻ, rớm máu. Nhiều lần ông xã phải bú bớt sữa đi cho vợ đỡ đau, vừa bú anh vừa khóc. Không biết mình có tội gì từ kiếp trước, mà ông trời ra đòn trừng phạt chẳng nương tay?

Nhìn đứa con nửa người, nửa quỷ, cô lại nấc nghẹn quặn thắt trong tim. Các bác sĩ cho biết:- “ Chồng cô bị nhiễm chất độc da cam, không thể sinh con bình thường. Chất độc da cam di hại nhiều thế hệ người Việt Nam.” Tội ác chiến tranh do Mỹ gây ra thật khủng khiếp. Vậy mà nhà trắng vẫn cao giọng dạy đời về lòng nhân văn, nhân bản, nhân quyền bậc nhất ở hợp chủng quốc Hoa Kỳ, luôn là mẫu mực của nhân loại. Thật nực cười.


Thương chồng, thương thân phận mình mất quyền làm mẹ - đường con cái tối tăm không lối thoát. Cô bàn với chú:- “ Bác cả có bốn đứa con, ta xin bác một đứa, trai hay gái cũng được, nuôi cho vui cửa vui nhà, về già có nơi nương tựa.” Vợ chồng anh cả bằng lòng. Nhưng không cháu nào chịu xa cha mẹ mình, đến làm con nuôi chú thím.

Thời gian không đợi chờ ai. Ngoảnh lại, mình đã ngoài sáu mươi tuổi, cái già sầm sập đến nơi. Muốn kiếm đứa con nuôi đâu có được. Âu cũng là số phận con người. Ngẫm câu: “Một con, một của ai từ.” Mười mấy năm, chú cô nằm bên miệng hố bom giữ đường Trường Sơn, đến giờ không con, không của. Ngoài trợ cấp chất độc da cam, mỗi tháng vài trăm bạc của ông xã, hai vợ chồng già bệnh hoạn, với quán cơm bình dân kiếm sống qua ngày. Nỗi đau này đâu phải riêng mình, nên chú, cô chôn chặt trong lòng, chẳng biết chia sẻ với ai?

- Cháu ngủ chưa Hường?

- …

- Sao lại khóc?

- Cháu nghĩ: Cô chú ba lần sinh đẻ không thành, muốn nuôi đứa con ông anh, chẳng đứa nào chịu xa cha mẹ nó. Vậy mà có người cha muốn giết con mình từ trong thai, họ đọc ác hơn cầm thú. Hung dữ như hổ, báo chúng cũng không ăn thịt con mình. Thế mà… Hường nấc nghẹn, bỏ lửng câu chuyện.

- Cô hỏi điều này hơi đường đột, cháu đừng giận:- Mấy hôm nay, thấy cháu có nhiều suy tư, lo toan, bức xúc… về quán ăn ngày hai bữa, thành khách quen của cô. Cháu làm việc ở công ty nào? Cách đây bao xa, mà lúc chập tối định về trong mưa to, gió lớn nguy hiểm như vậy?

- Chạm vào nỗi đau, Hường ôm mặt khóc như mưa. Khóc để giải tỏa sự ngốc nghếch, nhẹ dạ cả tin, thua chị, kém em bẽ bàng với bè bạn; khóc vì thương cha mẹ, hai bên nội ngoại thất vọng về đứa con gái đầu tiên trong chi họ được đến giảng đường trường đại học. Cả họ kỳ vọng vào nó. Ai ngờ ra nông nỗi này…

- Có điều gì bức xúc cháu chia sẻ với cô cho vơi nỗi buồn, may ra cô có thể giúp con việc gì đó trong lúc khó khăn. Bà Tâm xoay người lại, ôm Hường vào lòng chân tình vỗ về, động viên người khách quen chia sẻ nỗi niềm.

Như được mở nút nỗi buồn bức xúc, dồn nén vón cục trong lòng lâu nay, Hường chậm rãi kể về hoàn cảnh gia đình, và đầu đuôi câu chuyện những ngày làm thuê ở nhà nghỉ Lê Khanh, với bà Tâm…

- Biết nguyên nhân, hoàn cảnh, nguyện vọng tiếp tục học thi lấy bằng tốt nghiệp của Hường, bà Tâm động viên:- Cô ủng hộ quyết tâm của cháu, leo cau sắp tới buồng, không nên bỏ cuộc! Hãy giữ gìn sức khỏe, sinh đẻ mẹ tròn con vuông. Nếu cháu đồng ý cô sẽ thay cháu chăm sóc, nuôi dạy bé khôn lớn thành người!- Như người đuối nước, nhận được phao cứu hộ. Hường cảm động khôn cầm nước mắt, đón nhận sự động viên, giúp đỡ chân thành của người chủ quán đã tuyệt đường sinh nở, xúc động nói trong nước mắt:- Vâng. Cháu cảm ơn cô đã cưu mang mẹ con cháu, vào thời điểm khó khăn nghiêm trọng này. - Cô đã sinh ra con lần thứ hai!


**


Hoa đến giờ thì nở, trẻ đến giờ cất tiếng chào đời. Bà Tâm nhập vai chị gái đưa em đến nhà hộ sinh. Vừa dìu Hường lên bàn đỡ đẻ, sau cơn đau quàn quại, chị hộ lý khuyên:- “Cô hít thật sâu vào, dồn sức rặn mạnh nhé, cháu bé sắp ra rồi.” Hường hít thật sâu ráng sức rặn, cảm thấy đau xé ở cửa mình, rồi người nhẹ bẫng, sau tiếng trẻ khóc oe… oe… người mẹ trẻ mừng rơi nước mắt. Sự vui mừng của người đẻ con so, vượt cạn trong hoàn cảnh khó khăn, như vừa trút được gánh nặng đường xa, tưởng không dễ vượt qua. Bài toán hóc búa đã tìm được lời giải.

Chị hộ lý vui vẻ thông báo:- “Thằng bé kháu khỉnh lắm. Cổ tay phải nó có vết chàm bà mụ đánh dấu như chiếc lá đề. Các cụ bảo vết chàm này dành cho người thành đạt đây. Chúc mừng mẹ con chị.”

Bà Tâm đón thằng bé từ tay người hộ lý vui mừng nghĩ: “ Trời phật cho ta đứa con rồi!” Khi còn hai cô cháu trong nhà hộ sinh, bà nói nhỏ với Hường:- “Cháu cầm ít tiền bồi dưỡng sau khi sinh đẻ. Cô vừa dồn tiền cho ông xã về quê xây mộ cho chú em, đây chỉ còn mươi triệu bạc, khi cần cô sẽ đưa thêm. Mọi việc nuôi dạy bé để cô lo. Con yên tâm học tập, thi cử đỗ đạt là cô, chú mừng.”

Hường ôm con vào lòng, cho nó bú những giọt sữa mẹ đầu tiên, được một tuần tại nhà bà Tâm. Sáng thư hai tuần sau, đành gạt nước mắt trao thằng bé, với giỏ tã lót cho bà chủ quán, rồi Hường dứt áo ra đi. Không dám ngoảnh lại nhìn con, sợ tình mẫu tử mang nặng đẻ đau, rằng buộc khó bước ra khỏi quán.

BàTâm đón cháu bé trên tay người mẹ trẻ, như đón vận may duy nhất trên đời, âu yếm nói:- “Nào, mẹ ẵm cu Đức - mặt trời tí hon của mẹ!”

Thấm thoát đã hơn hai mươi năm, nay Hường cất công tìm về quán cơm bình dân, xác định tên khai sinh của hai người cùng có tên là “ Đức.” Vì con Hương chỉ nói Đức là bạn học với chồng sắp cưới của nó cùng tên là Đức. Không ghi rõ họ, nên Hường bán tín, bán nghi. Phải đến tận nơi xem hư thực ra sao.

Để giữ bí mật mục đích chuyến đi, Hường cải trang thành một bà già đi thăm con. Với cặp kính màu xanh lơ, to tướng, che lấp gương mặt ưa nhìn của cô giáo Hường xinh đẹp ngày xưa; túi da nhỏ trên tay, bà Hường khoan thai vào quán.

Quán cơm bình dân ngày xưa, đã nâng cấp thành quán “ Phở Bà Tâm” hai tầng rất khang trang, giữa trung tâm thủ đô Hà Nội. Khách vào quán Phở buổi sáng tấp nập. Hường không thấy bà Tâm, yên trí tìm chỗ ngồi gần phòng khách cho tiện việc quan sát, gọi một bát phở bò.

Bà thư thả nếm náp hương vị phở thơm ngon. Chợt phát hiện tấm bằng tốt nghiệp đại học Bách Khoa loại ưu, mang tên Phạm Duy Đức, bên góc tấm bằng có tấm ảnh 4x6 c/m treo trang trọng trong phòng khách. Kế đó, là ảnh chân dung Phạm Duy Đức phóng to, (cỡ 20,5 x 29,5 c/m) lồng trong khung kính. Chàng kỹ sư khoa tự động hóa, đẹp trai lồng lộng, đang cười tươi với người mẹ đẻ của mình.

Ngắm đứa con trai, mình mang nặng đẻ đau, đã thành danh. Hường thấy sống mũi cay, mắt kính ướt nhòe, vội dùng khăn tay, kín đáo lau những giọt nước mắt bồi hồi, sung sướng của người mẹ không thể nuôi con, bấy lâu cầu mong sự khôn lớn trưởng thành của nó.

Hường thầm cảm ơn công nuôi dưỡng, dạy dỗ của vợ chồng bà Tâm, những cựu chiến binh chịu nhiều hy sinh, mất mát sống vì mọi người. “ Cha sinh không bằng mẹ dưỡng.” Họ xứng đáng được hưởng hạnh phúc này! Hường xúc động biết mình có đứa con trai mang Họ Phạm đã khôn lớn thành danh.

Ngẫm lời các chị hộ lý nói về vết chàm bà mụ đánh dấu ở cổ tay phải thằng bé, là dành cho những người thành đạt. Hường vui lắm. Bởi, Tiến sĩ khoa học Phạm Duy Đức đang giảng dạy tại trường đại học bách khoa. Ngẫm câu:- “Con hơn cha nhà có phuc!” Hường lau nước mắt, mỉm cười sung sướng. Định lén chụp ảnh đứa con riêng làm kỷ niệm. Không hiểu vì sao... lại thôi.


Một tuần sau, hai vợ chồng cô giáo Hường quay ra Hà Nội đón cậu con út vừa đoạt huy chương vàng môn hóa, tại Ô Lem Pích quốc tế, cùng ba em học sinh Việt Nam đoạt giải cao về nước. Gia đình, nhà trường tổ chức liên hoan vui mừng khôn xiết- Ngẫm câu: “ Có công mài sắt có ngày nên kim.” Thật chí lí!

Cả nhà đang vui, Hường nhận cú điện thoại của cô con gái Thu Hương, như sét đánh ngang tai:- “ Mẹ ơi, ông Khanh bố anh Đức bị tai biến mạch máu não rất nặng. Mất tiếng, không chủ động ăn, uống và bài tiết. Nằm liệt giường mấy tháng nay, mọi sinh hoạt phải phục vụ tại chỗ. Không biết ông sống thực vật như vậy bao lâu? Đám cưới của con với anh Đức phải hoãn chưa biết đến khi nào.”

Cô giáo Hường động viên con gái bình tĩnh vượt qua nỗi buồn, dẫu sao cũng có cách giải quyết hợp tình hợp lý, con đừng lo. Rồi cô cúp máy, thở dài nói với mình:-“ Con người ta biết sống đẹp không dễ, muốn chết cho khỏi khổ, cũng không dễ dàng chút nào. Sống trong ác mộng mà không thể sẻ chia với chồng, con đã khổ. Sống thực vật kéo dài hành hạ người thân, đau đớn biết chừng nào!”


***


Tại nhà bà Tâm. Nhân sinh nhật lần thứ hai mươi tám của Tiến sĩ Phạm Duy Đức, người thân, bè bạn, học trò đến chúc mừng rất đông. Không khí tiệc tùng trong gia đình vui như tết. Tiễn khách xong. Như thường lệ mỗi lần sinh nhật con trai. Vợ chồng bà Tâm lại mở cuốn An bom ảnh ra xem. Hôm nay, bà Tâm nói như hát với ông anh chồng làm nghề nhiếp ảnh:- “Ảnh này, do bác chụp khi cháu Đức được ba tháng tuổi – thằng bé mập mạp, chống hai tay trên chiếc chiếu hoa, ngốc đầu cười toe toét, trông rất ngộ nghĩnh. Ảnh này, cu cậu được bảy tháng tuổi, đang bò xổm đến với mẹ. Ảnh này, bố nó chụp khi hai vợ chồng em đưa cháu Đức vào lớp một- dự lễ khai giảng năm học mới. Khi tan trường, Đức chạy ùa ra sân trường ôm hôn cha, mẹ. Nhà em đã khóc, em ôm con vào lòng thì thầm: Ôi mặt trời của mẹ! ./.


Mùa hè năm 2018.




. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ThanhHóa ngày 02.7.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004