Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Chiếc Bình Cổ và Em









T ừ Chánh Lộ , vòng lên cái dốc Chùi vắt qua con đường tàu, quẹo vào đoạn đường cát trắng, xương rồng mọc hai bên, và khuât sau lùm tre thấp thoáng là khu vườn của tuổi ấu thơ

...Sau bao năm tha hương, tôi có cảm giác thật khó tả khi đặt chân lên mảnh đất ông bà. Chẳng một nếp nhà, không một bóng người, nhưng hình ảnh khu vườn hoang vu mà tôi mang theo trong ký ức khác xa với cảnh tượng đang hiện ra trước mắt. Quanh vườn, hàng chè tàu dại với những chùm hoa ngũ sắc, rực rỡ tỏa hương cho lũ bướm ong cùng đón ánh hoàng hôn vàng rực từ trên núi Chúa tràn về. Những cây cau nghiêng mình theo gió. Giếng nước đá ong, xuyên qua những chùm dương xỉ, lặng lẽ nhìn lên trởi xanh; tiếng cu gáy xa xa mơ hồ mà thân thuộc… Mảnh bom hằn trên thân cây mít hoen rỉ như cơn ác mộng thoáng qua. Hình như có tiếng người văng vẵng đâu đây trong gió . …

Đêm đêm nằm trên chiếc chỏng tre, ngắm bầu trời sao long lanh; hay ánh trăng khuya chảy vào phía góc vườn nơi côn trùng than thở và bụi tre già kêu kẽo kẹt. Mảnh vườn ru tôi vào giấc ngủ. Thanh bình mà hoang vắng…

Vừa gặp nhau, Hai Nguyện, thằng bạn học từ thời đồng ấu, nói: “Vườn nhà mày có ma…Ông Tánh, tá điền, có đến đây trồng tỉa đậu khoai vài ba vụ nhưng cũng bỏ đi vì sợ …tối nào nó cũng về xõa tóc, khóc than ở bụi tre góc vườn” . Nguyện làm tôi hoang man nhưng tôi tin ở lời hắn. Sáu thằng lớp học đồng ấu, chiến cuộc đã cướp đi hết bốn, còn sót lại hai thằng. Vốn nhút nhát, sợ đủ thứ nhưng khi ở trong khu vườn nhà mình thì tôi lại cảm thấy rất tự tin, và can đảm!

Mấy năm phải sống chật chội trong căn chòi lá nên gia đình quyết tâm xây nhà. Mấy thằng bạn dưới thị xã Chủ nhật kéo lên Gò Sa giúp gia đình tôi.

Nắng tháng Sáu chói chang. Những tia nắng xuyên qua tán lá, in những vệt sáng trắng xuống nền cát. Gió biển thổi qua đường tàu, tràn xuống cánh đồng, đụng vào thành giếng đá ong phát ra tiếng vo.. .vo, như hơi thở mệt mỏi của khu vườn.

Cả bọn vã mồ hôi với công việc thì thằng Khanh kêu to “ Trúng … rồi” . Mọi người ngơ ngác , dừng tay, nhao nhao hỏi: “ Trúng cái gì thế ” . Khanh đáp :“ Đang đào thì chiếc thuổng đụng vật gì… như cái hủ sành.” Nghe nó nói, tôi lấy que tre khoanh một vòng tròn làm dấu. Đào qua lớp cát, đến lớp đất sét, thì hiện ra một mảng sành màu nâu. Đám đông liền bâu lại, nhìn xuống hố. Hai Nguyện, lên tiếng :“ Chắc là vàng, tháng trước, khi lấy đất đắp nền nhà, vợ tôi nhặt được miếng vàng Hời*…”. Nghe vậy, mọi người càng háo hức, không khí nóng lên. Tôi bỏ cuốc, rót nước chè xanh vào cái chén sứ, uống liền một hơi. Vừa lúc ấy thì Ba tôi xuất hiện. Từ trên Xã về, vừa bước lên nền nhà, nghe tôi kể lại, ông liền chỉ huy cuộc truy tìm kho báu”. “ Út, con nhảy xuống, xoay cái miệng hủ lên ”chỉ vào tôi, ông nói. Sau khi đào cái hố rộng ra bằng cái nia, trèo xuống và mất hơn mười phút cào vét lớp đất sét bám bên ngoài, tôi mới buộc được sợi dây vào miệng hủ. Một vết rạn chạy dài. Tôi đỡ hai tay phía dưới, Ba tôi cùng hai người khác thận trọng kéo lên. Nặng trịch, vừa lên khỏi mặt đất, hai người liền lăn nó vào sân cát.

Tin đồn nhà ông Ba đào trúng hủ vàng lan nhanh như tia chớp; bà con trong xóm ùn ùn kéo tới. Gần trăm cặp mắt nhìn như bị thôi miên khi Ba tôi tiến tới gần chiếc hủ sành. Vỏ nâu đen láng, cổ hơi cao, thon dần từ trên xuống đáy... có bốn quai nhỏ chạy đều quanh thân, Ba tôi và thằng Khanh ôm chặt, rồi nhẹ nhàng nghiêng miệng hủ xuống đất. Và “ À… o… o…” …. dòng bụi mù chảy tuôn ra và một tượng đất nung lem luốc rơi xuống cuối cùng. Mọi người ồ lên … Ba tôi từ từ xốc lên tay một vốc tiền xu. Mặt trời trên cao, chiếu thẳng vào những đồng kẽm xanh, xỉn. Ngắm nghía một lúc, ông lại lặng lẽ ném trả vào chổ cũ. Đám đông ngơ ngác…nhận ra đó không phải là vàng. Rồi, như kết thúc một cuốn phim bi hài, chẳng ai buồn nhìn cái hủ và những đống xu trên nền cát. Bà con trong xóm lặng lẽ ra về, để lại những dấu chân trần lam lũ trên con đường cát trắng. Mặt trời lên cao, nắng tháng Sáu chói chang. Ba tôi gọi má tôi: “ Bà lấy thúng ra hốt hết đống xu vào nhà”.

Cùng thu dọn đống tiền xu với má, tôi nhặt lấy tượng Voi đất nung ( thần Vishnu) và mảnh gốm có hoa văn. Sáng hôm sau gói mấy vật lạ vào chiếc áo cũ của mình, tôi đem giấu ở góc nhà,( mới chỉ dựng được một gian).

Cơm chiều xong, bà con trong xóm kéo đến nhà. Họ đoan chắc với ba tôi rằng kho báu còn nằm đâu đó, vì có vầng sáng lạ hay xuất hiện vào những đêm tối trong khu vườn . Khi ra về, họ xin Ba tôi dăm ba đồng kẽm để đánh gió hay xin xăm . Hết khách, ba tôi ra bàn làm việc, xem kỹ lại mấy đồng tiền. Nhiều nhất là xu có lỗ vuông ở chính giữa. Tên của đồng tiền ba tôi không đọc được vì đường nét quá mờ. Hai ngày sau, người của Ban Văn Hóa Thông tin lên tận nhà xin số tiền xu cho Bảo Tàng Tỉnh. Không lục vấn câu nào, ông giao ngay cho họ.

Buổi chiều vắng vẽ, tôi ngồi ngắm cái hủ sành rỗng nằm cô đơn bên thành giếng đá ong gần cây mít già. Nó như thu mình lại, tránh ánh mắt xoi mói của mọi người. Màu men bên trong sáng hơn bên ngoài, hình dáng và hoa văn vừa lạ, vừa quen. Tôi đã gặp hình ảnh này, nhưng không biết chính xác nó tồn tại ở đâu. Có thể trong một giấc mơ khi tôi nằm ngủ ở góc vườn…

Theo ba tôi kể lại rằng trang viên của ông bà cố nằm gần thành Chánh Lộ, hướng ra biển, và cách tháp cổ Madhurapura một tầm nhìn. Cơ ngơi chạy dài với mấy dãy nhà, tường đá ong chắc chắn, mái ngói khang trang, có ba bốn kho thóc, kho đường và một vườn cau. Khuôn viên lúc nào cũng sôi động tiếng chim kêu, gà gáy …

Vùng Chánh Lộ thường có hai loại khách lạ xuất hiện: Tàu và Chà Và. Khách Chà Và nhỏ con, ít lời, da đen, đầu quấn khăn, buôn vải dạo dọc quốc lộ. Thỉnh thoảng, họ có mặt trước nhà tôi vào giữa trưa, bày ra mấy xấp vải hoa, lung linh màu sắc, rất hấp dẫn đám đàn bà con gái. Chẳng hiểu sao, sau một thời gian thì không còn thấy khách Chà ở Chánh Lộ. Chỉ còn mấy ông thầy Tàu bám đất này.Họ chạy đủ nghề từ bán tạp phô, xem bói, cho tới nghề mua cau, đồ cũ, mãi võ Sơn Đông…nhưng đáng nói nhất là nghề phong thủy.

Vào một buổi chiều cuối năm, xuất hiện ông thầy địa lý , cắp nách chiếc dù đen, đi ngang qua vườn nhà, vào ngay lúc ông tôi đứng ngắm hàng cau mới lên ngay hàng thẳng lối như một đội quân tề chỉnh sắp ra trận. Chào hỏi nhau vài câu; thầy địa đưa cặp mắt sắc lẹm, ngắm nghía khu vườn rồi phán giọng lơ lớ: “ Cau tốt nhưng khi lên quá đầu thì tai họa … đất này, thân rồng nên bất ổn… ” nói đến đó, ông ta im bặt. Ngạc nhiên, ông tôi mời vào nhà hỏi chuyện, nhưng lão lắc đầu, và vội vã ra đi, người chúi về phía trước, chiếc dù đen lòi ra phia sau, giống như viên đạn pháo. Mấy con chó trong nhà,chạy ra ẳng ẳng.

Một năm sau, khi cau lên quá đầu người thì ông nội qua đời . Chỉ tạm yên ổn được vài năm, rồi thiên tai và chiến tranh ập tới, đường đột và tai ương . Mảnh vườn hứng bom, pháo và những trận đụng độ ác liệt.

.……

Khi dựng xong nhà thì tôi có lệnh nhập ngũ. Gói vật lạ vào túi xách, đặt vào góc rương, tự nhiên trong đầu tôi bị ám ảnh với bao điều nghi hoặc. Vì sao hủ tiền cổ ở trong vườn?, Ai từng sống trên đất này? Nhưng cuộc sống xoay nhanh trong cơn lốc thị trường, mà tôi là gã trai nghèo mới lớn nên quá khứ không đủ sức cám dỗ .

Ở lớp học phổ thông cuối cấp thường chia làm hai phe kín đáo chơi thân với nhau : học sinh con nhà khá giả và phần còn lại. Tôi thuộc nhóm trung dung.Trong một buổi cắm trại ở cửa biển Mỹ An do trường tổ chức, em Vân khá giả luôn để mắt đến tôi, vì nàng thấy tôi tháo vác, năng động: biết cách dựng trại,và kiếm thức ăn cho lớp….Vân khá xinh với hai búi tóc tết gọn gàng bỏ sau lưng, và cặp mắt sắc của cô thiếu nữ khôn trước tuổi. Vân chọn tôi làm đối tác tình yêu. Gia đình nàng có cửa hàng thuốc Bắc ở thị xã. Tâm sự với nhau khá thẳng thắn và thân mật, Vân khuyên tôi hoc xong phổ thông, hãy cùng nàng lên Tây Nguyên mua Sâm Ngọc Linh đưa ra Lạng Sơn . “… lời lắm”- Nàng ghé sát vào tai tôi, thì thầm. Nàng biết làm nên một tình yêu chừng mực, và dẫn dắt nó tới hôn nhân nếu tôi vâng theo nàng. Mọi chuyện đều có thể ...trừ việc nàng không thể biết chắc là tôi có thật sự yêu nàng đến độ say mê hay không ! Đến chơi nhà nàng tôi thấy toàn chử Nho và mùi thuốc Bắc. Chử Nho thì tôi mù tịt, còn mùi thuốc Bắc thì tôi chưa quen.

Trước ngày vào lính, chúng tôi trao nhau nụ hôn đầu đời, vào một đêm trăng xuân trên cầu sông Trà Khúc. Thầm nghĩ “Nàng ấm như gió xuân…” , nên cặp môi tôi vội chạy tìm cặp môi nàng, bàn tay tôi chạy trên bộ ngực thanh xuân của nàng, tìm kiếm… Nhưng làn môi,và cả thân thể nàng lạnh như băng xuân”. Cuộc tình chẳng đắm say mà mờ nhạt như sương đêm. Chẳng một chút mặn mòi, say đắm. Bên nàng mà tôi không thấy khát khao, rạo rực của kẻ phạm tội ăn trái cấm. Tình yêu đầu đời âm thầm trôi ra biển như dòng sông Trà vào mùa nước cạn. Nó nhẹ nhàng thành câu hát. Nhưng không thể nói là tôi quên em, người con gái yêu theo cách riêng của mình. Mỗi lần qua thị xã tôi đều lén nhìn vào tiệm thuốc của nhà Vân, nay to gấp ba so với tiệm cũ.

Tốt nghiệp phổ thông qua lớp tại chức, tôi thi vào đại học Đà Nẵng.

Gặp Basiroh, năm thứ hai; tôi bị chinh phục ngay từ cái nhìn đầu tiên. Ông “Thần Đèn” của chiếc Binh Cổ sống dậy . Là sinh viên có cái tên ngồ ngộ duy nhất trong lớp Kinh Doanh Tài Chính của trừờng; Nàng xinh đẹp, nhưng rất khó tiếp cận. Trong lớp, Basiroh ngồi bàn phía trên. Từ phía sau, tôi thấy em có nét gì đó vừa thân quen vừa lạ lẫm nhưng tôi không thể xác định rõ ràng. Trang phục của Basiroh chẳng khác biệt nhiều với đám sinh viên nữ, nhưng rất ấn tượng. Những hoa văn chạy dài trên váy áo như tác phẩm trang trí được thiết kế công phu, với những hình tượng Daruga, Naga, Nimbus …được cách điệu khéo léo, hài hòa. Chiếc khăn xanh phủ lên một nửa mái tóc huyền, tôn khuôn mặt thông minh và ánh mắt bí ẩn - Vẻ đẹp của bức tượng vũ nữ Chămpa thời hiện đại.

Tan học, Basiroh nhanh chóng biến khỏi đám đông. Kiên trì theo dõi…cho tới một hôm… chờ nàng ra khỏi lớp, tôi lập tức bám theo .

Từng là lính trinh sát, tôi biết cách tiếp cận đối tượng. Sau hơn một năm tìm hiểu phong cách và thói quen của nàng, tôi đã có được những cuộc trò chuyện thân mật với Basiroh. Trên bãi biển Mỹ Khê, một chiều lộng gió, tôi kể cho nàng về đất Chánh Lộ, về những đồng tiền cổ, về tượng Vishnu và cái hủ sành còn nằm bên gốc mít trong vườn... Lặng lẽ, không một lời bình luận, nhưng khuôn mặt nàng thoáng vẽ suy tư , đầy ám ảnh. Cuối cùng, nàng nói khẽ : “ …Sẽ còn có tượng Thần Shiva…vi hầu hết các vị vua Chăm theo Shaivism”

Cuộc tình với Basiroh lãng mạn và rắc rối, như câu chuyện tín ngưỡng đa thần, đầy biến tấu và kịch tính. Mối quan hệ này chưa hề có tiền lệ cho cả hai, Basiroh và tôi. Chúng tôi khác nhau về tín ngưỡng. Nhưng, hình như tình yêu sẽ tiết ra một năng lượng mãnh liệt giúp ta vừa liều mạng vừa khôn khéo tìm ra mọi phương cách đến với nhau để thưởng thức hương vị ngọt ngào và đắng cay của nó. Đó là một thứ tôn giáo đặc biệt chỉ có hai tín đồ..

Lúc thì nàng tỏ ra xa lạ, ngờ vực lúc thì đắm say, nông nổi… Hấp dẫn tôi vẫn là vẻ đẹp, sự thông minh và sự thay đổi khó lường của những cung bậc tình yêu vừa thế tục vừa huyền thoại.

Bao quanh ngôi nhà Basiroh không phải là vườn cây mà là một khoảnh đất trống đầy nắng. Sau khi chào hỏi những người trong gia đình, tôi nhận ra ngay mấy cái hủ sành giống cái hủ tiền xu Chánh Lộ. Chúng còn mới và nằm ngay ngắn trong không gian quen thuộc của quá khứ Chămpa.

Giữa cái thành phố biển, đầy nắng gió, và chật chội khách thập phương mà đông nhất là khách Trung Hoa, Basiroh và tôi có những phút giây êm đềm bên nhau… Nhưng khi tốt nghiệp, công tác nước ngoài một thời gian thì tôi lại bặt tin nàng. Bạn bè cho tôi hay Basiroh đi lấy chồng theo tập tục, nhưng cũng có tin rằng nàng đang đảm trách chức giám đốc điều hành cho một Resort cở lớn ở Mũi Né. Lý do vì sao nàng từ bỏ tình yêu tôi cũng bí ẩn như khi nàng đến với nó.

Những lúc vui vẽ ngồi bên em, tôi hay hỏi về lịch sử Chăm, Basiroh thổ lộ với tôi vê nguồn gốc của mình:

Gia đình Basiroh trước đây là dân vùng Madhurapura thuộc lãnh địa của tiểu vương Vijaya.Bà cố Basiroh có gốc Đại Việt. Dân cư khu vực này sinh sống không phải bằng trồng lúa mà chủ yếu bằng nghề buôn bán. Định cư dọc bờ biển, người Chăm tạo dựng được một hệ thống giếng đá ong quanh năm đầy ắp nước. Bán nước ngọt cho các tàu buôn ngoại quốc là một nguồn thu nhập . Madhurapura buôn bán vàng , bạc, và gổ trắc bá với thương gia đến từ Trung Hoa, Java, Nhật Bản và cả Phương Tây…” . Chăm chỉ và chịu khó học hành, Basiroh tìm hiểu gia phả qua tiếng Chăm cổ, và nàng trở thành một chuyên gia văn hóa Chămpa có hạng . Nàng kể tiếp:

Giữa các Tiểu Vương kể cả với các địa phận do chức sắc Đại Việt cai quản thời ấy, có nhiều vụ va chạm về quyền lợi kinh tế hay lãnh thổ. Giải quyết những hiềm khích này xảy ra những cuộc xung đột lớn, nhỏ nhưng thường được dàn xếp bằng các cuộc hôn nhân qua lại... Bà cố của Basiroh lấy một tiểu vương Chăm giàu có. Bà cất giấu của cải ở đâu và vì lý do gì thì không ai rõ … Khi di chuyển vào miền trong thì câu chuyện của bà cũng mai một trên con đường thiên lý... như một dấu lặng của lịch sử.” Nàng buồn rầu hôn lên trán tôi để kết thúc câu chuyện của mình. Chúng tôi yêu nhau và cô đơn như hai ngọn Tháp Cổ Madhurapura đứng nhìn ra biển.

Tôi hôn lên cặp mắt buồn và đẹp của Basiroh, lặng lẽ thưởng thức đêm phương Nam huyền bí , ngọt ngào, đầy năng lượng… Đẹp như tượng thần; đường nét tuyệt mỹ của thân hình và đôi chân tròn vũ nữ hiện dần ra, uốn lượng mềm mại theo giai điệu mê hoặc Chàm Rông…Thần Quyên và Thế Tục. Nhưng, từ trong sâu thẳm, vang lên lời cảnh báo của thân linh rằng cuộc hội ngộ giữa Linga và Yonee phải được hành lễ tại chốn thiêng liêng… thần Shiva - đầy sức hủy diệt.

Không lý do đích xác, nhưng chúng tôi rất ít có dịp gặp lại nhau. Không có tin tức xác thực, nhưng tôi tin là Basiroh về quê làm giám đốc một cơ sở sản xuất gốm. Nàng sẽ tái hiện các hình tượng của thần Po Na gar, Bodhisattva, Daruga, Naga…lên những chiếc bình gốm như chúng tôi từng mong ước. Khoảnh khắc bên nhau cũng chỉ là một dạng tồn tại của tâm linh, một hiện thực ảo, và cổ xưa như chiếc bình.

Tôi cảm nhận sự bình yên khi nghe chim cu đồng gáy giữa trưa hè và từ nơi này tôi nghe rõ tiếng sóng biển rì rào. Giếng đá ong vẫn đày ắp nước trong xanh. Ngồi bên cây mít già đầy sẹo và những mảnh vỡ của chiếc bình cổ Madhurapura, tôi say mê những hoa văn vừa quen vừa lạ.


May 2014


Ghi Chú:

- Chánh lộ là Madhurapura- thời cổ- theo ( Ancient Viet Nam-History, Art and Archaeology by Anne Valerie Schweyer )- First Published in Thailand in 20011 by River Books Co., Ltd

-* Hời hay Lồi - tên chỉ di tich, di vât hay chủ nhân liên quan đến người Chăm tiền trú



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 23.6.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004