Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

chân dung cố dịch giả Hoàng Hữu Đản





Vận May





Nhiều người không tin vào Tử vi, không tin mỗi người sinh ra ở đời có số phận chi phối cả đời, vì họ nói, tin như vậy là mê tín dị đoan. Nhưng tôi thì, qua nghiên cứu lịch sử cổ, kim, Đông ,Tây tôi thấy vấn đề Tướng, Số, Tử vi, bói bài Tây, bói toán…cách đây hàng ngàn năm đã có, và hiện nay vẫn có, nhiều người vẫn tin. Ngay cả những ông có quyền cao, chức trọng, học vấn đầy mình có thể đánh cho khoa Tướng số, tử vi… tơi tả, nhưng họ vẫn cho vợ, hoặc con đến các thầy tướng số nổi tiếng để xem, để biết về số phận của mình.

Cuộc đời của ba tôi đã khiến cho tôi tin Vận may là có thật.

Ba tôi sinh năm 1922, cầm tinh con giáp Nhâm Tuất. Tử vi từng truyền tụng, là đàn ông sinh vào những năm có Can là Đinh, Nhâm, Quí, Giáp thường thành đạt, quí tướng, còn đàn bà sinh vào những năm này thường bị “Hai lần đò”( cũng là do quá thông minh nên khó mà sống với người đàn ông tầm thường trong suốt cả cuộc đời họ). Mỗi Can, Chi gắn với nhau tạo nên tính cách và số phận của mỗi con người, mỗi khi “ Biến” laị gặp những may rủi riêng. Tuổi của ba tôi là Nhâm Tuất nên Nhâm khi “ Biến” sẽ vi Vương – Vua, nghĩa là gặp may vì không phải ai cũng thành Vua được..

Ba tôi sống được tròn 90 năm ( ông mất ngày 26/3/2012) mất sau ngày sinh (3/4/1922) đúng 1 tuần - 7 ngày. Suốt nửa đầu đời của ông khá lận đận nhưng vẫn gặp những may mắn bất ngờ.

Ông sinh ra không khỏe mạnh nhưng rất đẹp trai, bà nội tôi yêu ông nhất trong những đứa con. Ba tôi kể, khi học trường Tây, mỗi lần ra chơi, các thày rất yêu cậu bé xinh trai, hay bế ba tôi lên và truyền cho nhau khiến cậu bé cười nắc nẻ. Các thầy trong trường đều rất thích cậu bé xinh trai đáng yêu. Ông nội mất sớm khi ba tôi mới 5 tuổi.

Khi ông nội tôi mất có gửi gắm các con cho bạn bè chăm sóc giúp. Đến 12 tuổi thì ba tôi vào học trường Dòng ở Thanh Hóa theo dòng tu Franciscain. Tại đây, trong một ký túc xá của ngôi trường có kỷ luật rất nghiêm, với những thày giáo là các tu sĩ mặc áo dài vải thô màu nâu, thắt dây lưng gai, chân đi dép như cái thời Francois d’ Assiso, ông được học mọi thứ tốt đẹp của trí tuệ. Ông học tiếng Pháp, tiếng La tinh, Hy Lạp, học nghệ thuật hùng biện, phương pháp nghiên cứu lý luận và khoa học, tất cả cái gì là Thật và Đẹp. Ông học nhạc, họa và kéo violon rất hay. Khi nói chuyện với ông Olivie Page, người Pháp hâm mộ ông, ông tâm sự : Tôi vô cùng biết ơn các cha dòng Franciscains, chính họ đã giáo dục, rèn luyện tôi thành con người tôi ngày hôm nay”. Khiếu văn chương của ông đã nảy sinh ở ngôi trường này. Ngay từ lớp Đệ tam ông đã nghĩ tới việc sẽ dịch Iliade và Odyssee’ ra tiếng Việt. 30 năm sau ông đã thực hiện giấc mơ của mình.

Đã có lúc ông bị con đường tu hành hấp dẫn, người ta định cho ông sang Pháp, đi Caen tiếp tục học đại chủng viện để làm cha cố nhưng bà nội tôi không cho đi vì sợ mất đứa con mình yêu nhất.

Học xong Tú tài ông đi làm Thư ký Tòa sứ ở Đồng Hới tỉnh Quảng Bình.

Kháng chiến chống Pháp, ba tôi làm nghề dạy học. Thích văn chương từ nhỏ, suốt những năm tháng của cuộc đời ông sáng tác thơ, văn, viết kịch và dịch thuật. Ngoài việc lên lớp, ông dành thời gian cho văn chương.

Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời. Làm giáo chức, dạy giỏi các môn Văn, sử, địa, tiếng Pháp nhưng có thời gian 19 năm ông mới được tăng lương. Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội mời về giảng dạy tiếng Pháp, ngành Giáo dục tỉnh Bắc Giang không cho đi và ông vẫn tiếp tục giảng dạy cho đến khi về hưu, chưa bao giờ du lịch ra ngoài Việt Nam. Ước mơ được đến nước Pháp để tìm hiểu nền văn minh bậc nhất nhân loại xa vời với người giáo chức già. Ba tôi nghỉ hưu lúc 55 tuổi để viết và dịch. Sống ở tỉnh Hà Bắc trước đây tác phẩm dịch đầu tay của ông được xuất bản là vở kịch Le Cid của

P. Corneille in chung trong cuốn Bi kịch cổ điển Pháp nhà Xuất bản Văn hóa 1978, vở kịch Bí mật vườn Lệ Chi ( được giải 3 cuộc thi kịch bản sân khấu toàn quốc 1981)

Mặc dù dịch rất nhiều những tác phẩm văn học cổ điển của Hy Lạp và Pháp qua tiếng Pháp và tiếng La Tinh, nhưng thời gian ở đất Bắc tác phẩm được xuất bản của ông thật ít ỏi. Nhưng đến khi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ năm 1986 thì vận may mỉm cười với ông. Sự nghiệp văn chương của ông nở rộ.

Năm 1987 nhà Xuất bản Sân khấu đã in 20 000 cuốn Tuyển tập kịch P. CORNÂY. Tác phẩm dịch Le Cid của ông đã đưa ông đến với những vận may sau này.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, giao lưu với nhiều giáo chức ở đây, ông gặp gỡ ông Huỳnh Thế Cuộc, hiệu trưởng trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học ( HUFLIT) và được ông hiệu trưởng mời đến trường để nói chuyện về vở kịch Le Cid, bằng tiếng Pháp cho sinh viên ở đây.

Khi bước chân vào sảnh đón tiếp của trường, ông gặp ba linh mục đã chờ sẵn ở đó, họ quen biết ông khi ông đến thành phố này. Họ hỏi ông:

- Ông làm đến chức gì rồi?

Ông mỉm cười nói:

- Tôi làm chức “thày giáo”!

Vào Hội trường, rất đông người đến dự buổi nói chuyện của ông, về vở kịch Le Cid của Corneill. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm xa ngôi trường Dòng thân yêu ông học thời thơ ấu, ông mới được nói tiếng Pháp một cách say sưa như vậy. Ông có giọng nói truyền cảm của cha cố nên thu hút người nghe, cả hội trường im phăng phắc.

Buổi nói chuyện kết thúc, nhiều người đến bắt tay ông và chia sẻ niềm vui được nghe bằng tiếng Pháp tác phẩm của văn học Pháp. Hôm đó có ông Tổng lãnh sự Pháp ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đến dự. Ông Tổng lãnh sự bắt tay ông và hỏi ông: “ Ông đến nước Pháp và sống ở đó bao lâu?”. Ông mỉm cười và nói: “ Tôi chưa từng qua Pháp. Ước mơ của tôi là muốn một lần được đặt chân đến đó để tìm hiểu nền văn hóa Pháp và văn chương của nước Pháp nhưng chưa có cơ hội”. Họ nói chuyện, trao đổi với nhau về văn hóa Pháp và những tác phẩm văn học của Pháp mà ba tôi đã dịch và đang dịch qua ngôn ngữ Pháp. Khi chia tay, ông Tổng lãnh sự Pháp có nói với ba tôi: “ Sẽ có dịp chúng tôi mời anh sang Pháp”. Ba tôi cám ơn, và coi như lời nói đó mang tính xã giao thân thiện.

Song thật không ngờ, 4 tháng sau, giáp tết âm lịch năm 1990 có thư mời ba tôi sang Pháp dự một lớp dịch thuật 4 tháng tại Pháp, với học bổng Toàn phần do nước Pháp đài thọ. Ông vui quá, nhưng niềm vui chợt tắt vì, ông chưa có hộ khẩu ở Thành phố Hồ Chí Minh và chẳng có loại giấy tờ nào có thể làm VISA sang Pháp được. May sao em tôi, một nhà báo chuyên viết về Giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh có quen một anh bạn ở Bộ Giáo dục, ông ấy nói, cô viết thư cho ông Bộ trưởng Trần Hồng Quân về trường hợp của ba cô, đầu năm ông có vào trong này họp báo, cô trực tiếp gặp ông đề đạt nguyện vọng may ra có hướng giải quyết, nhưng nhớ điều này, phài viết trong thư, kinh phí hoàn toàn do Pháp tài trợ.

Cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng Bộ Giáo dục diễn ra suôn sẻ, ông ký quyết định để ba tôi du học ở Pháp, lớp biên dịch do Pháp đài thọ. Sau khi làm xong VISA, nhiều lần Công an đến gặp để hỏi ông về việc đi Pháp. Ông nói để họ yên tâm, tôi chỉ có một đất nước và một gia đình mà tôi không bao giờ rời bỏ. Lúc ấy có nhiều trí thức ra đi không trở về nên ba tôi mới được hỏi kỹ như vậy.

Thế là vận may đến dồn dập. Học xong 4 tháng Pháp lại cho ông học tiếp mấy tháng nữa. Vừa học tập vừa giao lưu với các nhà văn, các dịch giả. Đi thăm nơi ở của nhà văn nổi tiếng của Pháp Macrcel Pagnol ông được gia đình nhà văn cho phép dịch các tác phẩm của nhà văn và biên soạn về cuộc đời của nhà văn mà không đòi quyền lợi bản quyền.

Khi về nước, các tác phẩm dịch của ông liên tiếp ra đời. Riêng cuốn ILIADE của HOME’RE được công ty nước giải khát B.G.I Tiền Giang, do ông Tổng Giám đốc Patrice Calmes tài trợ in hơn 1000 cuốn.

Năm 1999 ông được sang Bỉ giao lưu với các nhà văn nói tiếng Pháp và có những trao đổi về văn chương của người Việt ở diễn đàn này. Tại diễn đàn văn chương ở Bỉ ông đã đọc một bài tham luận bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Các nhà văn ở đây đã ngưỡng mộ âm thanh giàu hình tượng của ngôn ngữ Việt, vỗ tay rào rào sau khi ông minh họa bài tham luận của mình bằng tiếng Việt. Ông rất tự hào về tiếng Việt. Ông đã từng viết: “ Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ có tính nhạc và tính nghệ thuật cao nhất trong các ngôn ngữ”.

Mọi người biết về ông qua những tác phẩm dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và từ tiếng Việt sang tiếng Pháp. Những tác phẩm của Hy lap, La Mã, Đức, Bỉ đã được ông dịch sang tiếng Việt như ILIADE, ODYSSEE, Hài kịch ARISTOPHANE, Bi kịch Hy Lạp, Tuyển tập kịch Corneille, Salambo của Gustave Flaubert, Na Na của E’mile Zola, Paris- Sài Gòn- Hà Nội của Philippe Devillers, Vinh quang của cha tôi ( M. Pagnol), ngụ ngôn La Fontaine…Và dịch các tác phẩm của văn Việt sang tiếng Pháp như cuốn Ánh trăng- tập thơ của nhiều tác giả…Ông đã xuất bản hơn 50 tác phẩm dịch và sáng tác. Nước Pháp nặng tình nghĩa đã tặng ông 2 Huân chương Cành cọ hàn lâm “Me’daille de L’Palmes Acade’miques”( hạng 3 năm 2000 và hạng 2 năm 2008).


Cuộc đời có những vận may thật. Nhưng để có sự nghiệp tỏa sáng phải có tài năng thực sự, phải làm việc bền bỉ, không mệt mỏi, kiên nhẫn suốt đời.

Năm 2008 ba tôi chính thức vào Hội Nhà văn Việt Nam, cũng là một cái may, gần 90 tuổi mới được kết nạp vào Hội nhà văn sau rất nhiều tác phẩm có giá trị được lưu vào văn đàn Việt.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải đã nói về ông :

Dịch giả làm việc cần mẫn như một con ong mật với sức khỏe của một con voi, lòng kiên nhẫn chờ đợi như một tín đồ ngoan đạo, cuối cùng tác phẩm cũng được ra mắt bạn đọc”.

Người bạn của ba tôi, ông Olivil Page đã gọi ba tôi là “ lực sĩ chạy Maraton văn học” và viết về ông như sau :

Ông Hữu Đản, ông là ai? Cho phép tôi định nghĩa Ông bằng một vài dòng để ghi vào cuốn sổ “Who’ s who” cá nhân của tôi: “ Ông là một tu sĩ Franciscain yêu nước, xuất thân từ đồng ruộng và truyền thống ngàn đời của Việt Nam, một kẻ khiêm tốn đã làm nên những sự nghiệp lớn trong đời mình bằng cách chiến đấu cho Tổ quốc và cho văn chương. Ông là một Nghệ sĩ đã đọc Homere sau khi say đắm Athe’na, vị nữ thần có đôi mắt xanh biếc màu của lá cây oliu…Kể cả những đấng tu hành cũng không làm sao cưỡng nổi sức mê ly huyền diệu và quyến rũ của Nàng thơ”

( Olivier Page – Le Guide du Routard 122Rue du Moulin des Pre’s 75013- Paris ) ( Trích dẫn ở cuốn sách Để hiểu các tác phẩm văn học cổ Hy Lạp do nhà văn Hoàng Hữu Đản dịch - tr 177 Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2014 do tác giả Hoàng Bích Nga biên soạn).


Hà Nội 6 / 2018



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 23.6.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004