Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






THỜI THẾ TẠO ANH HÙNG



N hà thờ dòng họ Lê Trung ở thôn Hồng Đô xã Hoằng Ngọc huyện Hoằng Hoá –Thanh Hoá là một ngôi nhà ba gian, mái dật cấp, lợp ngói mũi hài. Trên nóc không có trang trí. Cách ngày nay hơn 400 năm về trước, vùng ven biển huyện Hoằng Hoá còn hoang vắng, người thưa, đất trồng cây rất ít, trong hoàn cảnh ấy, có đông các ông bà thuộc dòng họ Lê đến khai sơn lập nghiệp. Trong hoàn cảnh sống nơi đầu sóng ngọn gió nên mãi đến năm Minh Mệnh thứ 12 con cháu mới lập được gia phả chi tiết về dòng họ

Gia phả viết năm Minh Mệnh 12 chỉ ghi cụ thuỷ tổ thuỵ là Quảng Đức đã sinh hai người con trai tên là Lê Trung Giang và Lê Trung Hải. Hồi ấy, họ ở vào cái thế “ăn sóng, nói gió”, phải giành lấy cái sống từ tay biển cả, nên hai anh em Giang và Hải đều có sức khoẻ phi thường. Đặc biệt ông Lê Trung Giang rất giỏi võ, giỏi vật, được mọi người tôn sùng, hơn cả người em lạỉ giỏi về văn nghiệp Cụ Quảng Đức thường hả hê trước viễn cảnh hai người con tài giỏi như vậy

Hồi đó, các ông đều có sức, có tài mà chưa có nơi thi thố, bởi vì trong triều đình , năm 1527 vua Cung Hoàng phải nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung.

Từ đó, trong nước có loạn : nơi thì quan lại nổi lên, nơi thì tôn thất nổi lên. Ngay như vùng Thanh Hoá cũng có nhiều sự kiện :

Năm Canh Dần 1530 có Lê Ý là cháu ngoại nhà Lê đã nổi quân chống nhà Mạc, quân Mạc hội quân ở vùng Lạch Trường Hoằng Hoá đánh Lê Ý. Sau vài trận giao tranh, Lê Ý rút quân về Dụ Châu, bị nhà Mạc bắt giết đi.

Năm Tân Mão 1531 bề tôi cũ nhà Lê là bọn Bích Khê hầu Lê Công Uyên nổi quân ở Thanh Hoa, Nhưng đạo quân này lại bắt người cướp của nên mất lòng dân, nhanh chóng bị nhà Mạc đánh tan

Cho đến tháng 12 năm Nhâm Thìn 1532 Nguyễn Kim tìm được con vua Lê Chiêu tông là Lê Duy Ninh đưa sang Ai Lao tôn làm hoàng đế . Tháng 1 năm Quý Tỵ , Lê Duy Ninh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Nguyên Hoà, để chính đại thống, cử Nguyễn Kim làm Thái Sư Hưng Quốc công cùng bàn việc đánh lại nhà Mạc . Nhìn lại bối cảnh lịch sử lúc đó, ta thấy trùng khớp với tiểu sử của ông Lê Trung Giang

Gia phả họ Lê chép rằng

“Ông vừa cày ruộng, vừa đánh cá biển, khi thấy giặc cướp nôi lên khắp nơi ông đã chiêu mộ trai tráng, rèn dũa vũ khí để chống giặc, giữ làng và chờ thời cơ. Khi Nguyễn Kim tiến quân đánh về Thanh Hoa đã có nhiều tướng cũ và hào kiệt theo về , quân thanh ngày càng mạnh” (xem Đại Việt sử ký toàn thư - bản kỷ - kỷ nhà Lê- quyển XVI)

Đúng là “anh hùng tạo nên thời thế , thời thế sinh anh hùng” Ông Lê Trung Giang-một vị hào kiệt đất biển – mang quân bản bộ về theo Nguyễn Kim bởi ông đã nhìn thấy một đạo quân của vương hầu triều Lê nên đã cùng em trai mở một trang sử vàng cho dòng họ Lê Trung. Từ khi khởi dựng cho đến ngày tiến quân vào thành Thăng Long , cuộc chiến kéo dài 60 năm (1533-1593) trải 4 triều vua, không chỉ các tướng lĩnh mà đã có nhiều người, nhiều thế hệ trong một dòng họ nối đuôi nhau thực hiện “Phù Lê diệt Mạc”

Các đại thần Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng có 3 thế hệ cầm quân, thì tướng lĩnh, quân sĩ cũng có cũng có 3 thế hệ xông pha trận mạc để nối nhau “Phù Lê diệt Mạc”. Gia phả họ Lê Trung cho biết “ anh em ông Lê Trung Giang, bố con, ông cháu Lê Trung Giang đều lần lượt phục vụ 4 triều vua cho đến ngày thắng lợi”

Sau những năm chiến đấu, có người lên tới bậc Khai Quốc công thần, có người hy sinh tại trận, có người đã cáo lão về quê vui thú điền viên khi công sức hoàn thành, sống hoà hợp với dân làng. Đọc cuốn Gia phả dòng Lê Trung viết năm Minh Mệnh thứ 12 ghi rằng “ tổ tiên ta xưa là những người dân dã, nhưng sống nhân hậu và siêng năng, học hành chăm chỉ cả văn lẫn võ, Gập lúc có giặc thì đem sức ra giúp nước, Khi già lại về vui cảnh điền viên , sống hoà hợp với dân làng”

Cha con ông Lê Trung Giang sau khi về già đã “hướng dẫn và cùng nhân dân đắp đê hai bên bờ sông Cung để ngăn nước mặn, khai phá hàng trăm mẫu ruộng làm công điền cấp cho dân nghèo” (theo sách Đại vương Lê Trung Giang, di tích và sự nghiệp)

Tín ngưỡng dân gian thường tỏ lòng tôn kính với bậc tiền nhân khai điền lâp ấp, mang an cư lạc nghiệp về cho mọi người. Sau 60 năm chiến tranh, đất Thanh Hoa trở về với chính thống. dân có ruộng cầy thì ai mà chẳng nhớ ơn . Đạo lý dân tộc ta, đạo lý nước ta quy định “ Nước có quốc tổ - Làng có thành hoàng- dòng họ có thuỷ tổ - gia đình có ông, bà, tổ tiên” nên việc dân Đô Du tôn thờ ông Lê Trung Giang như bậc Thành hoàng là đúng lẽ

Thông thường trong công việc thờ phụng thì tự dân có tích trước, tôn sùng trước, rồi mới đến bộ Lễ bản triều tâu vua xin phong Sắc, chấp nhận vị thần bảo hộ từng địa phương. Suy từ 12 đạo Sắc còn lại đến bây giờ, đạo Sắc có niên đại cổ nhất là đạo Sắc cấp từ năm Cảnh Hưng tbứ 28 có thể biết triều đình đã tôn trọng vị Nhân thần này :Đó là đến năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767), vua Lê ban cho ông Lê Trung Giang danh hiệu Thành Hoàng Đô thống Linh Ứng Cảng Khẩu Đại vương (giao nhiệm vụ quản lý vùng biển). Vậy thì trước năm 1767 nhà vua đã cấp sắc chưa ? Có hai câu trả lời :

-Đã có Sắc nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, thời tiết nên không giữ được

-Nhà vua mới phong sắc từ quãng đầu thế kỷ XVII, vì các lý do rằng vùng đất Thanh Hoa có một thời gian dài chưa yên bình, sau chiến tranh còn phải chiêu mộ dân lập làng, làm ruộng và đánh cá. Người dân chỉ nghĩ tới quê hương sau khi có cuộc sống ổn định.

Dòng chữ “ Dân Thụ Kỳ Tứ ” viết trên tấm hoành phi đặt trong Nhà Thờ ông Lê Trung Giang đã nói lên Dân biết ơn lập đền thờ trước khi triều đình nhà Lê biết công mà phong Sẵc. Trước năm 1945, ngôi nhà thờ này mang tên “Tướng công Tối Linh Từ”, Ngài đã được phong tới bậc “Thành Hoàng Cảng Khẩu đại vương” coi vùng Hoằng Đông, nên thần tích của Ngài lưu tại các xã là một điều minh chúng . Phân tích các đạo sắc , ta tìm được nhiều điều lý thú :

-Khi xưa vùng Hoằng Hoá Lạch Trường còn là vùng sông nước nhiều hơn đất liền thì Ngài là bậc Thành hoàng Linh ứng Cảng Khẩu Đại vương, trông coi một địa bàn rộng , chủ yếu là cửa sông.

-Những năm cuối thế kỷ XVIII các vua triều Nguyễn ( Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Duy Tân,. chỉ coi Ngài là bậc thần linh và để cho các thôn Du Đô, Đông Hà, Hoằng Hoá, phụng thờ thần như trước để bảo vệ “lê dân cho ta”, chứng tỏ rằng đất đã lấn biển, có làng, có xã và có dân.

Trở lại Nhà thờ Họ Lê ở Hồng Đô, xem xét các hiện vật đang bày tại đó , ta thấy :

-Bức hoành phi có ghi chữ “Khảỉ Văn Võ Đường” và dòng lạc khoản đề “ Lê Thế Tông viết tặng”

-Bốn (04) đôi đũa ngà do vua Lê Thế Tông ban tặng.

Có người sẽ hỏi Tại sao ông Lê Trung Giang phục vụ 4 đời vua, mà chỉ đến đời vua Lê Thế Tông mới có quà của nhà vua ban tặng ? Thực tế lịch sử cho biết 3 đời vua trước (Trang Tông, Trung Tông và Anh Tông) phải chiến đấu liên miên, vất vả, chưa lúc nào vua tôi nhà Lê có thể yên hưởng thái vình, chỉ đến đời Lê Thế Tông binh lực nhà Mạc yếu dần, các vị tướng kỳ cựu của nhà Mạc đã ốm và chết, vì thế quân Mạc cứ thất thủ cho đến năm 1593 thì nhà Lê khôi phục được kinh đô Thăng Long. Lên ngôi vua từ thuở còn thơ , trải nhiều trận mạc, cho đến lúc khôi phục kinh thành , hơn 20 năm cùng chiến sĩ xông pha chiến trận, Lê Thế Tông hiểu được từng vị tướng dưới quyền, cho đến lúc vào Thăng Long nhà vua đã lấy ngày 16 tháng Tư năm Quý Tỵ (1593) Vua ngự chính điện để ban bố chính lệnh ở Kinh thành, đại xá thiên hạ, và phong thưởng các tướng sĩ, Sách Đại Việt Sử ký toàn thư chép tên và chức vụ những bậc tam Thái, tam Thiếu, nhưng không chép các vị tứ, ngũ phẩm … Do nguyên nhân như vậy, nên vua Lế Thế tông mới tặng 4 chữ Khải Văn Võ Đường và 4 đôi đũa ngà cho ông Lê Trung Giang , chính là sự hiểu rõ tướng lĩnh dưới quyền đã xông pha trận mạc, “công trung hưng còn ai hơn nữa”

Hiện nay, đền thờ của vị trung hưng khai quốc công thần đã và đang được dòng họ Lê Trung ở Hồng Đô ra sữc tu sửa. Bà con không những tu sửa những gì đã bị phá huỷ năm 1948, mà còn xây thêm nhiều công trình mới, tu bổ cho di tích ngày một tốt đẹp hơn. để mai sau con cháu còn nhắc mãi công lao của những bậc hào kiệt, vì nghia lớn đã trung hưng cả một triều đình.



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 23.6.2018.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004