Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






MẸ TÔI NGÀY ẤY








THAY LỜI TỰA


Suốt một đời lam lủ cơ cực lo cho chồng cho con, lắm lúc hy sinh không kể bản thân mình. Một tay gánh vác trong ngoài, chăm cả đàn con nheo nhóc, khi chồng tha phương cầu thực, không một lời than thở kêu ca, trong thời kỳ, khắp non sông chìm trong khói lửa. Đó là hình ảnh mẹ tôi, mảnh khảnh nhưng rắn rỏi, với làn da bánh mật, đội nắng mang mưa gần suốt cả cuộc đời mình. Những tưởng chăm chút đàn con lớn lên, dựng vợ gả chồng, khi về già nương cậy sớm hôm. Nào ngờ khi đủ lông đủ cánh, buồn chuyện công danh, tôi phiêu bạt bốn phương trời. Để mẹ già ngày ngóng đêm trông, mỏi mòn nơi cố xứ, lầm lủi bước xiêu vẹo trên đường đời, vốn chẳng được mấy khi vui. Nay tấm thân còm cỏi già nua, khẵng khiu khô đét, không còn khả năng đi lại nữa, mà tôi vẫn còn nơi tít tắp chân mây, bị bủa vây trong bao nỗi, ngổn ngang cơm áo gạo tiền, của thời văn minh đủ đầy phương tiện, nhưng tồn tại không phải dễ. Đã tám năm trôi qua, kể từ ngày ra đi gần nhất, tôi chỉ về thăm cha mẹ có một lần, mà chẳng được mấy hôm phải tức tốc đi ngay, bởi gánh nặng áo cơm, đôi vai này chưa trút bỏ được. Nhiều đêm mưa gió, nơi phồn hoa đô hội, ngước mặt nhìn trời, lòng chạnh nhớ cố hương. Nhớ mẹ già nay, không còn đủ sức chống gậy, ra ngồi nơi hiên vắng, mắt đẫm lệ mờ đau đáu phía chân mây, mỗi độ sắp xuân về…

Đêm nay! Lại là đêm, của những ngày cuối đông thường niên đã đến, lòng những đứa con lạc loài nơi đất khách, lại nao nao nhớ về quê hương xứ sở. Nơi có hình bóng những người mẹ quê già héo hắt, mòn mỏi ngóng tin con, giữa chiều đông giá lạnh. Bao nỗi nhớ niềm thương, xô về ào ạt quá, thúc giục tôi ngồi vào bàn, viết tất cả những gì biết được, về mẹ mình nơi cố quận xa xôi. Người đã trãi qua một đời lam lũ, một nắng hai sương, mong có ngày vượt qua khốn khó, từ thời lửa loạn binh đao, cho mãi đến khi non nước thanh bình. Tôi sẽ viết từ thuở ấu thơ của Người, tiếp nối thời con gái mộng mơ, rồi phận làm dâu, làm vợ, làm mẹ đầu đội vai mang trong cảnh cơ hàn, của một đời người không thấy nổi mùa xuân.

Khi con cái tương đối đủ no, thì Người không còn khả năng hưởng thụ , nằm một chỗ trên giường, ngày ngày cầu phật trời, cho con cháu được bình an.

Thương mẹ quá, nhưng biết làm sao được, khi đời tôi, dường ông trời đã ban, cho sứ mệnh ra đi. Tôi viết ra đây, mà mong tất cả mọi người trên đất nước, hãy chăm chút mẹ mình, hãy sống vì Người khi có thể. Chớ có như tôi, đã bao năm chỉ mấy lời thăm hỏi, thương mẹ rất nhiều, mà lo chẳng được bao nhiêu. Hẹn rày hẹn mai, không thu xếp được để về thăm mẹ, lỡ một mai, trước khi Người nhắm mắt xuôi tay, ra đi vĩnh viễn, mà chẳng kịp về… di hận đến thiên thu.



Phần 1: BÉ TƯ


Bình minh vừa ló dạng, trên mặt biển cầu vồng xanh đen, pha mấy vệt ráng mỡ gà, Bốn đã chạy ra bờ cát dài, đứng gần mép nước, dõi mắt xa xa nhìn về phía biển. Nơi ấy rồi sẽ thấp thoáng, cánh buồm của thuyền buôn chuyến, mà cha cô trước khi đi, nói rằng hai tháng nữa sẽ về. Nay đã là buổi sáng thứ năm, Bốn chạy ra đứng trước biển, khi bình minh chưa kịp tỏa, những vạt nắng hồng. Từng giờ từng giờ trôi qua, cô bé đứng ngóng nhìn ra khơi, nơi mặt nước nhô lên, rồi cong xuống hình vòng cung, như cái đồi thấp tè thoai thoải, xem thử có cánh buồm nào sắp nhú lên không, mà sao chẳng thấy. Hôm nay biển lặng, trời nhiều mây, nhưng khi mặt trời lên cao, thì cái rét buổi cuối đông, cũng giảm bớt đi nhiều.

Đứng lâu chừng mỏi mệt và thất vọng, cô bé ngồi bệt xuống cát, tay vân vê mấy vỏ sò, và tự hỏi: “Sao hôm nay cha vẫn chưa về nhỉ! Hay là có chuyện gì bất trắc, đến với cha không?” Ngồi suy nghĩ miên man, ngóng trông hoài chẳng thấy cũng nản, tính trẻ con lại trổi dậy, không buồn nữa. Cô bé chạy tới chạy lui, nghịch với mấy chú còng, nơi mép nước xinh xinh, mê mải chẳng hay, thuyền của cha đang lướt sóng vào bờ. Người chủ lái thuyền tuổi độ khoảng năm mươi, mặc bộ bà ba màu xanh da trời. Mái tóc dài búi gọn phía sau, chừa lại hai mớ tóc mai, đã bạc hơn quá nửa, cùng với ba chóp râu ria, buông dài xuống gần tới ngực, trông dáng vẻ rất tiên phong đạo cốt, đang nở nụ cười tươi rói, lộ hàm răng trắng đều chắc khỏe, mắt sáng ngời quắc thước, nhìn con gái mình đang nghịch cát dưới chân.

Bỗng có người trên thuyền gọi lớn “Bé Tư ơi! Thuyền cha con đã về rồi nè!”

Đang mãi chơi, nghe tiếng gọi, Bốn ngước nhìn lên. Thấy cha mình đang đứng trên thuyền, môi vắt vẻo điếu xì gà tây, vai khoác chiếc khăn dài, màu khói hương quen thuộc, đôi mắt nhìn con sáng rực những tia cười. Cô bé hấp tấp chạy xuống nước, gọi một tiếng “Cha” rồi vội vã mở dây, chèo xuồng ra đón.

Người cha bước xuống xuồng sau một anh thanh niên trẻ khỏe, hai tay xách hai túi nặng, vừa thả vừa lao người, giữ thăng bằng xuồng cho ông bước xuống. Bốn buông dầm chạy đến với cha, như đi trên đất vậy. Người cha vừa ôm hôn lên má con một cái, thì cô bé đã òa lên khóc, ông ngơ ngác nhìn chẳng hiểu vì sao. Dòng nước mắt ấm ức bao ngày được tuôn ra, Bốn thấy trong người nhẹ nhõm, nhưng vẫn còn tức tưởi nói: “Sao mãi hôm nay cha mới về, con đã ngóng trông cha, suốt cả năm ngày rồi chẳng thấy. Cha lại về đúng lúc, con không đứng trông cha, mà đang vui chơi với mấy con còng gió, dã tràng.” Giờ đã hiều, người cha cười khanh khách. Tiếng cười vang dội trong không gian, vọng vào thôn xóm, lọt vào tai người vợ ông, đang làm cơm trong nhà, cũng dừng tay, lật đật chạy về phía biển. Khi bà ra đến nơi, đã thấy con gái, một tay xách túi quà cha mới trao cho, một tay nắm lấy tay cha, vừa đi vừa nhảy nhót, cùng đoàn thuyền viên đang tiến vào làng. Lúc đến gần bên ông, bà vội hỏi: “Có gì trắc trở không, mà hôm nay mới về vậy ông?” Ông cười ha hả bảo: “Bà mãi lo, tôi vẫn khỏe như Phù Đổng ấy mà, chỉ tại mấy hôm gió lớn quá, phải tạm ngưng cuộc hải trình, nên về trễ đó thôi. Bà vẫn khỏe chớ?” Bà mỉm cười bảo: “Không khỏe làm sao ra tận đây, để đón cha con ông. Năm ngày nay, nó chẳng chịu làm chi ráo, suốt ngày chạy ra biển, đứng ngóng trông cha.” Dẫu đã biết trước rồi, nhưng khi nghe bà nhắc lại, ông vẫn cảm động, cúi xuống hôn lên tóc con gái, và bảo.: “Tội cục cưng của cha quá! Cha rất yêu con.” Bỗng Bốn thả tay cha ra, chạy về phía trước, rồi quay lại hét lên rằng: “Con cũng rất yêu cha”. Rồi chạy thẳng một mạch về nhà.

Mùa xuân năm ấy, Bốn đã bước vào tuổi mười sáu, nhưng vẫn mảnh dẻ, tong teo, không tròn trịa múp míp, như những bạn cùng trương lứa. Ba ngày tết, người cha luôn bận rộn, tiếp khách ra vào tấp nập, không chuyện vãn gì được với vợ con, bởi ông giao du khá rộng rãi. Nào mối làm ăn, nào bạn thơ vè đàn ca sáo thổi, nào bà con nội ngoại về mừng tuổi, trà rượu đôi ly, nên mặt mày ông, lúc nào cũng đỏ bừng bừng, nụ cười luôn đính sẵn trên môi. Mãi đến chiều tối mồng ba, ông mới dẫn bé Tư (Bốn) bé Năm về thăm Ngoại, ở làng bên kia rạch Khê Nam, phải đi qua một chiếc cầu gỗ dài, hoặc bằng xuồng tùy hứng mỗi khi đi. Bởi làm ăn xa vừa mới về, cộng hợp với ba ngày Tết nữa, nên ông cho con, mang về phía vợ mình, thật nhiều quà. Bé Tư bé Năm gì, cũng hai tay xách lỉnh kỉnh, mệt bở hơi tai, nhưng mà vui trông thấy, vì được đi cùng với cha về thăm Ngoại. Riêng ông, vai mang một cái đảy lớn, tay cầm cây đàn nhị. Để tối nay về nhà vợ, khui chai rượu Tây, rồi nhâm nhi đàn địch, với mấy cậu em cho vui, sau bao ngày xa cách. Cha con vừa đi đến ngõ, cậu Út đã nhảy nhót la lên: “Anh Hai Tạ về mẹ ơi! Hố hồ hô… cả bé Tư và bé Năm nữa.” Nghe tiếng mừng vui của cậu Út, hai trung niên mặc quần xà lỏn, ở trong nhà bước ra, tay cầm khăn tắm, cùng giơ lên một lượt “Chào anh Hai”. Ông Hai Tạ cười khà khà: “Ồ! Tết nhứt mà sao ăn mặc vậy? Cả hai định đi tắm phải không? Thôi đi tắm đi, rồi vào ướm thử, mấy bộ đồ Tây lớn nhỏ, anh mua về tặng các cậu đây.” Cả hai cùng dạ rồi đi tắm, riêng cậu Út nhảy cẩng lên hớn hở: “Có phần của em không anh Hai?” Ông Hai Tạ cười haha: “Cái thằng này to đầu rồi vẫn vậy, có vợ đi anh sẽ sắm sửa nhiều cho, giờ thì chỉ được hai bộ thôi.”

Nói xong ông bước đến bàn thờ, rút nén hương ra đốt, rồi khấn vái, trước di ảnh người cha vợ một hồi. Rồi mới bước xuống nhà ngang, hỏi thăm bà Ngoại trẻ đâu không thấy. Cậu Út nhanh nhảu trả lời rằng, do dạo trước Tết lạnh quá, Ngoại bị bịnh, uống thuốc rồi nhưng không bớt, mấy hôm rày coi bộ lại nặng hơn. Bởi am hiểu ít nhiều về y dược, ông bước vào chào mẹ, rồi cầm tay bắt mạch, đoạn mở túi xách ra, lấy giấy bút kê toa, và bảo cậu Út: “Đi đập và chọn cho anh vài cái mẻ chai sắc nhọn, để anh lể cho mẹ. Xong cầm cái toa này ra tiệm thuốc Bắc, mua về sắc ngay cho mẹ uống. Còn thằng Sáu, đi hái mớ lá xông về nấu, bỏ một nắm muối hột để xông, rồi tắm rửa cho mẹ, xong rồi anh em mình hãy vui chơi. May mà anh đã nói với chị Hai, là tối nay, cha con anh ở lại nhà Ngoại, sáng mới về.”

Suốt cả ngày tiếp khách, giờ ngồi bên giường bệnh lâu, thấy người ngột ngạt quá, ông thưa: “Dạ thưa Mẹ, để chị em bé Tư, ngồi chuyện trò với Mẹ, con xin phép ra ngoài hóng mát một tí”. Cứ mỗi lần về thăm, là ông thường ra đứng hóng mát bên dòng kinh. Hai bên bờ dừa nước mọc xanh rờn, ở giữa là dòng nước trong xanh hiền hòa, lững lờ trôi dưới bóng hoàng hôn, thấp thoáng mấy con xuồng, của những ngư dân, sống nghề chài lưới nhỏ trên sông rạch. Ông đứng hít lấy ngọn gió, từ biển thổi vào mát rượi, râu tóc dài phất phơ trước gió, trông ông có vẻ đẹp uy nghi, và tráng kiện vô cùng. Rút một điếu xì gà tây ra, ông châm lửa hút, nhả từng luồn khói lam, tan nhanh trong gió, rồi chợt nghĩ đến tình hình chiến sự. Từ ngày quân Nhật xuất hiện, rồi lấn áp dần quyền cai trị của Pháp, chuyện làm ăn của ông, ít nhiều cũng bị ảnh hưởng, chẳng biết những tháng ngày sắp đến, có thuận buồm xuôi gió hay không. Đoạn ông tự nhủ: “Thôi đến đâu hay đến đó vậy, nghĩ làm chi cho nhọc óc nhức đầu”. Khi những mảng ánh sáng nhờ nhờ cuối cùng, của buổi hoàng hôn không còn vương vấn nữa, ông trở lại vào nhà, xem thử các cậu nó chăm sóc Mẹ xong chưa, đoạn nhắc nhở xem chừng, cái niu thuốc đang sắc.

Tối hôm ấy, ông đàn ca chẳng mấy hào hứng, bởi sau ba ngày tiếp khách mệt nhoài ,giờ ngồi chơi gượng cho các cậu nó vui vậy thôi, chứ thật tình ông muốn đi nghỉ lắm. Sáng ra, vợ của các cậu em, chưa dậy lo chợ búa, mà ông đã dậy rồi. Ngồi một mình bên tách trà bốc hơi, và điếu xì gà khói lên cuồn cuộn, tay cầm bút thảo đôi vần thơ xuân, trông ông rất có hồn. Từ lúc cha dậy, Bốn cũng trằn trọc, ngủ không được nữa. Cô bé ngồi dậy vén màn nhìn cha, và thấy thương ông quá. Từ ngày biết ý thức, được thế giới xung quanh, mang lại những buồn vui trong tâm hồn thơ bé, Bốn chưa lúc nào, được gần gũi cha mình hơn một tháng. Bởi ông mãi lênh đênh trên sóng nước, với chiếc thuyền buôn ngược Bắc xuôi Nam, nên Bốn quí vô cùng, những phút giây được ở bên cha. Bốn ngồi nhìn không biết mỏi, mãi đến khi nghe cha gọi: “Bé Tư, bé Năm lo dậy rồi về các con! Sáng nay ba còn phải đi công chuyện.”

Nghe cha nói vậy, Bốn gọi em dậy vệ sinh xong, lo cho Ngoại ăn sáng, rồi ba cha con cùng đi trên chiếc xuồng, cậu Sáu đưa về bằng đường kinh. Hơi nước bốc lên, trắng mù cả dòng kinh, phả vào mặt lạnh ngắt, ông Hai Tạ ngồi thả hồn, về những mùa xuân dĩ vãng xa xôi, khi ông bà đến với nhau, trên dòng kinh thơ mộng. Tối lại cơm nước xong, mẹ ngồi nhổ tóc ngứa cho cha, còn chị em Bốn, ngồi bóp chân cho ông, vì mấy hôm liền ông đi bộ nhiều quá, cộng hợp với trở trời, ông nghe đau nhức cả chân tay. Ông nằm xõa tóc, mắt lim dim tự nãy giờ, bỗng mở ra nhìn bà, rồi nói trong khói thuốc: “Bà nó à, dạo này tôi giao cho thằng Quyết, quản lý việc thu chi, sao không an tâm lắm. Tôi có linh cảm, hình như nó gian lận, trong chứng từ sổ sách thì phải, nhưng tôi chưa có thời gian, để tra cứu việc này. Phải chi thằng Ký nhà mình, không lù đù chậm chạp, thì đỡ cho tôi biết mấy. Lắm lúc tôi cần, mà có nó cũng như không. Hay là năm nay, cho cậu Út nhà mình, đi theo tôi bà nhỉ.” Suy nghĩ giây lát, Bà Hai trả lời, với vẻ mặt nặng suy tư: “Không được đâu ông à, cậu nó mà đi, thì ai chăm sóc mẹ. Như ông thấy đó, bao năm rồi, vợ chồng của hai thằng Sáu Nờm, Tám Bấc, chúng nó lo cho mẹ được gì nào, cả tấm thân chúng, còn không sạch sẽ nữa là…”



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 11.6.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004