Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tranh của họa sĩ Lương Trường Thọ







QUÀ CHO ÔNG NỘI





T rong gần chục đứa cháu, tôi được ông nội thương yêu, gắn bó nhất. Chẳng phải chỉ vì tôi là đứa cháu đầu tiên được sinh ra, mà do tôi với ông đồng cảm nhiều mặt.

Từ khi có đủ trí khôn và hiểu biết cần thiết, tôi đã được ông nội xem như tri kỷ tâm giao, một kiểu “bạn vong niên” rồi. Vì thế, ông cho phép tôi mở toang bức màn che khuất tâm hồn ông, để cảm nhận mọi buồn vui, để chiêm ngắm từng chân dung đã đến rồi đi trong cuộc đời ông. Tôi tự hào hiểu rõ về ông như hiểu chính mình.

Nên tôi cảm thấy rất thân thiết với cô Lược, dù tôi chưa được gặp bao giờ. Nếu cho chính xác thì tôi phải gọi “bà Lược” mới đúng, nhưng ông nội không thích thế. Trong tâm thức ông, mãi mãi đó vẫn là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp, hiền lành. Dù thời gian đã qua đi trên nửa thế kỷ -và có thể sẽ còn hơn thế nữa- thì cô Lược cũng không thể nào lại biến thành một bà già cỡ như… bà nội của tôi! Cái lưng ong thắt đáy, mái tóc đen dày óng ả dài chấm gót chân, khuôn mặt tròn phúc hậu, đôi mắt lá răm biết nói, tiếng cười giòn giã reo vui… là những nét chấm phá của một chân dung bất tử trong trái tim đa cảm của ông tôi.

Có lần nghe ông nội quả quyết rằng cô Lược là mối tình đầu và cũng là tình yêu duy nhất của ông, tôi đã ngoẹo đầu nheo mắt hỏi:

-“Tình yêu duy nhất” ư? Thế còn bà nội?

-À, bà nội là… nghĩa.

Tôi cắc cớ vặn vẹo:

-Tình và nghĩa khác nhau thế nào hả ông?

-Tình là cái người ta mang theo suốt đời, còn nghĩa là những thứ ràng buộc đòi người ta cần đền đáp. Cháu hiểu không?

Tôi hiểu chứ. Tôi cũng hiểu sở dĩ mối tình ấy trở thành nỗi day dứt khôn nguôi cho ông nội chính vì nó… ngắn ngủi. Nếu kéo dài thêm, biết đâu ông chẳng thất vọng và nhàm chán? Biết đâu ông chẳng đã quên mất nó từ lâu? Cũng như đại đa số các tình đầu vụng dại khác, tình yêu ấy manh nha non nớt lắm, đến cái nắm tay cũng ngại ngùng sợ sệt, chưa đi tới đâu đã đứt đoạn. Chẳng cần ông kể, tôi cũng hiểu nguyên nhân không phải từ hai người.

Theo đúng kiểu “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, cô Lược đi lấy chồng trong nỗi ngậm ngùi tiếc nuối. Cô về nhà chồng hôm trước thì hôm sau, ông nội phẫn chí bỏ quê, tha phương lập nghiệp. Chuyến đi tưởng chỉ một thời gian ngắn đủ chữa lành trái tim thương tích, không ngờ kéo dài đến tận bây giờ. Dĩ nhiên sau đó, ông nội cũng lập gia đình, một mái gia đình bình thường như tất cả những gia đình bình thường khác, cho tôi có cơ hội được làm cháu yêu của ông.

Là người chồng chung thủy của bà nội, là người cha tận tụy của đàn con đông, nhưng sâu thẳm trong trái tim, ông nội vẫn khao khát có ngày gặp lại cô Lược một lần. Thời trẻ, cuộc mưu sinh lao nhọc níu giữ chân ông, còn sau này bệnh tật bủa vây không cho ông thực hiện ước mơ. Nhưng ước mơ dù thực hiện được hay không thì nó vẫn còn nguyên vẹn đấy, vẫn lung linh sắc màu và vẫn nung nấu ám ảnh ông.

Rất nhiều lần, ông tâm sự với tôi như thế. Dĩ nhiên tôi không bao giờ hé môi cho một ai biết những tâm sự ấy. Mãi mãi, đó là những bí mật thiêng liêng và ngọt ngào của riêng hai ông cháu mà thôi.

Vì thế, khi biết tôi sắp có chuyến công tác ở tỉnh Q, ông nội mừng lắm, khẩn khoản nhờ tôi cố gắng có một chuyến về quê, tìm cô Lược thay ông. Ông muốn tôi nhìn tận mắt một cô Lược bằng xương bằng thịt, quan trọng hơn, để nhắn hộ ông một câu rằng: lời thề hứa ngày xưa, ông vẫn nhớ và sẽ mang theo xuống mồ.

Tôi ngần ngừ hỏi lại:

-Nhắn thế có nên không ông? Lỡ chồng cô ấy…

Ông ngắt lời:

-Cô ấy góa bụa lâu rồi, cháu ạ. Còn trước cả ông nữa.

-Ô, sao ông biết rõ thế?

-Ông hỏi thăm một người đồng hương.

Ông run rẩy đưa cho tôi miếng giấy ghi một địa chỉ. Mảnh giấy lâu ngày đã vàng ố, quăn queo. Nắm chặt bàn tay nhăn nheo của ông, tôi thầm hứa sẽ giúp ông đạt tâm nguyện.


* * *


Cuối cùng, tôi cũng lần đầu tiên được đặt chân về quê nội, một nơi khá heo hút.

Ở đây dường như ai cũng quen mặt thuộc tên nhau cả. Một người dân chỉ cho tôi một quán nước nho nhỏ, vắng tanh, và bảo người ngồi trông hàng kia là người tôi đang tìm.

Tôi làm khách qua đường dừng chân ghé vào uống nước, lẳng lặng quan sát. Quán nghèo chỉ bày mươi chai nước, vài nải chuối cùng mấy thứ bánh quê.

Nhìn tận mắt người cần gặp rồi, tôi đành“phụ” lòng ông nội để chuyển cách gọi từ “cô” sang “cụ”. Một bà già khắc khổ, nhăn nheo, hoàn toàn không giống chút nào như lời kể của ông nội. Ông đã huyễn tưởng, đã cường điệu quá lên hay chỉ tại thời gian khắc nghiệt biến đổi đến không ngờ?

Dĩ nhiên tôi không ngây ngô đến độ chờ chiêm ngưỡng nét thanh xuân của thiếu nữ mười tám nơi một bà già đã vượt qua tuổi “cổ lai hy” từ lâu, nhưng tôi ngỡ sẽ tìm thấy cái hiền lành phúc hậu, ít ra cũng phải tương tự… bà nội tôi trước kia.

Suốt thời thơ ấu, tôi vẫn thấy bà nội tôi chẳng khác bà tiên trong truyện cổ tích. Những bà mẹ khác đi chợ bao giờ cũng nhớ mua quà về cho con, mẹ tôi thì không. Lần nào đón mẹ về chợ, tôi cũng ỉu xìu thất vọng. Trong khi bà nội khác hẳn, dù chỉ đi đâu ra đường một lúc thôi thì khi quay về, bà luôn luôn có một thứ gì đó làm quà phân phát cho các cháu, và lần nào tôi cũng được bà chia phần ưu tiên. Có hôm chỉ là chiếc bánh bẻ đôi hay viên kẹo trứng chim bé xíu thì lũ cháu chúng tôi vẫn nhảy cẩng lên, vui sướng.

Nỗi thất vọng của tôi lúc này có lẽ cũng chẳng khác gì những khi đón mẹ về chợ ngày xưa. Không còn chút dấu vết đáy lưng ong; mái tóc bạc lơ thơ cắt cụt ngủn, lởm chởm như quen thấy ở người vừa qua trận ốm nặng; tiếng cười “giòn giã reo vui” cũng lạc loài, rơi rụng mất rồi!

Bà cụ Lược đang ra rả chửi mắng ai đó ngồi khuất phía trong, tôi không thấy mặt. Nhưng căn cứ vào ý tứ đay nghiến dai dẳng, tôi hiểu đấy là con dâu cụ. Chị con dâu này cũng giống y khuôn tất cả các con dâu khác dưới mắt mẹ chồng: xấu xí, tham lam, dốt nát, vụng về… Lời lẽ bà cụ cay nghiệt, tục tằn còn âm sắc thì rin rít, khê nồng.

Ngay lúc đó, một đứa bé chừng bốn tuổi -mà tôi phỏng đoán là cháu nội hay cháu ngoại của bà cụ-, từ nhà trong chạy ào ra. Chắc nó đang chơi đuổi bắt với ai nên vừa cười nắc nẻ vừa chạy cuống chân, đến nỗi mất trớn đâm sầm vào chiếc bàn làm mấy cái ly đổ nằm lăn lóc, một cái rơi xuống đất vỡ toang. Lập tức, bà cụ vừa sấn sổ túm tóc thằng bé vừa mắng xa xả. Tôi đoán nó sắp bị trừng phạt vài phát đích đáng vào mông.

Nhưng không, tôi sai rồi. Bà cụ không đánh, chỉ nắm đầu cháu đập mạnh vào tường mấy cái liên tiếp. Thằng bé đau, khóc ré lên, gào mẹ. Bất giác, tôi rùng mình, đưa ngay tay sờ lên đầu, như thể chính tôi cũng vừa bị bà nội mình túm tóc dập dúi dụi vào tường, y như nó vậy.

Dù dâu biển thế nào, tôi không thể tin người mà trái tim ông nội tôi một đời ấp ủ, lại hiển hiện thảm hại đến vậy!

Tôi lặng lẽ lầm lũi bỏ đi, âm thầm nhận lỗi đã phụ ủy thác của ông nội. Lời nhắn của ông, tôi không thể và cũng không cần thiết chuyển đi nữa. Tôi biết bà cụ Lược chẳng bao giờ chờ đợi nó.

Suốt quãng đường về, tôi chìm đắm với nhiều câu hỏi không lời đáp. Giả sử ngày đó trở thành vợ ông tôi thì bây giờ bà cụ có ra thế này không? Tôi chẳng thể lý giải được. Nguyên nhân phát xuất từ thất vọng đắng cay bởi cuộc hôn nhân gượng ép? Sau dằng dặc tháng ngày vất vả, khốn cùng? Hoặc giản dị hơn, cũng chỉ theo quy luật như câu hát: “lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình…”?

Tôi hiểu vì sao người đồng hương nào đó của ông nội tôi chưa hề kể với ông những chi tiết đau lòng này. Tôi bây giờ cũng vậy. Tôi phải gìn giữ cho ông một tượng đài bền bĩ thách thức thời gian. Đó là món quà ý nghĩa nhất tôi tặng ông trong những ngày tháng cuối đời.



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 03.6.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004