Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        TẬP II



CHƯƠNG 3


Ăn tết xong, làng vào hội. Hội làng tế từ mồng bốn đến mồng sáu tết do chánh tổng, lí trưởng, hương xã đứng ra tổ chức. Đội tế hơn hai chục người gồm một chủ tế, hai bồi tế đều cao tuổi. Hai phân hiến, hai xướng tế, một đọc văn, một bồi văn, hai thương lương đã vào tuổi trung niên, sức lực còn sung mãn và hơn chục thanh niên choai choai tuần rượu. Hội tế gồm đủ những vị chức sắc trong làng. Ai chức cao vào vai chủ tế. Bọn tuần rượu phải là nam sống trong gia đình có tiểu sử lí lịch rõ ràng, không vướng tang ma hay lệ luật gì. Ban câu đương có mấy người, chỉ đạo việc quét dọn đình, lau chùi đồ thờ, bảng chữ, nghi biểu, dọn dẹp trang hoàng cửa cung khám, trang trí khánh tiết, treo cờ hội lớn, cờ phướn, cờ đuôi nheo, chuẩn bị kiệu rước và sắp xếp thứ tự các đoàn, lo giết lợn, xôi bánh, hoa quả, đàn hương cúng tế.

Chiều mồng ba tết, công việc chuẩn bị đã tươm tất, ban tổ chức thức ngủ, lo việc thu dọn lặt vặt, bổ xung những gì còn thiếu tại đình. Sáng hôm sau là ngày nhập tịch. Làng rước thành hoàng từ miếu về dự tế. Đội múa rồng đi đầu, trống chiêng hộ giá. Theo sau và dọc đường là cờ hội, bát bửu. Năm đôi thanh niên đóng khố cởi trần cầm gậy rồi đến kiệu bát cống có long ngai bài vị bên trên và lọng tàn vàng hai bên. Sau là đội tế rồi các vị lão niên và nhân dân cùng khách thập phương. Ai nấy đều ăn mặc đẹp. Các cụ vận áo dài đen, quần trắng. Tay cầm ô đen. Chân đi guốc tre. Các bà áo dài nâu, yếm bỏ bùa hay áo cánh trắng, váy toả rộng. Các cô gái mặc áo hồng phấn, áo trắng muốt, áo xanh lơ… Váy lưỡi trai. Một vài cô vận quần lĩnh Bưởi, áo dài, thắt lưng bao xanh hoặc tím Tam Giang thắt ra ngoài áo. Nếu rét, các cô mặc hai áo mỏng gọi là áo mớ ba. Aó dài tứ thân, phía trước có hai tà dài, tóc ngang bắp chân. Vạt phía sau dài ôm bó lấy mông đùi. Hai vạt trước buông xuống mềm mại, thướt tha, có lúc được buộc túm vào nhau hoặc quấn ra đằng sau. Aó nhiều màu: đỏ, mỡ gà, xanh tím, xanh non hoặc hoàng yến bằng tơ lụa the mỏng. Trời quá rét, đám thanh niên vẫn cầm gậy nhưng mặc áo dày, đồng màu. Các cô mặc năm bảy áo dài mỏng chồng lên nhau. Trong cùng là màu trắng rồi đến xanh, mỡ gà, đỏ…Ngoài cùng bằng the đen mỏng làm dịu màu áo bên trong. Đó cũng là áo mớ bảy nổi tăm tiếng một thời. Người mặc phải khéo phối hợp màu sắc cho đẹp, cho tươi, cho giòn. Màu sắc của những chiếc áo dài được phô bày phía trên nách phải là nơi các khuy áo không cài. Các bà đội nón, chít khăn mỏ quạ hoặc vấn trần. Vải bọc tóc thành dải dài quấn quanh đầu. Phía đuôi tóc thò ra gọi là tóc đuôi gà. Ai cũng gọn gàng, đẹp đẽ và vui. Mọi người bày tỏ lòng thành kính thành hoàng làng. Các cô các cậu chủ yếu tìm cách làm đẹp lòng nhau. Những tiếng cười rinh rích. Đám rước từ miếu về đình làm lễ nhập tịch. Pháo nổ từng tràng đĩnh đạc. Khói bay xanh om đình làng. Dứt tiêng pháo, mấy người vừa dập tùng xoè vừa gõ hai thanh tre vào nhau. Các cô gái áo dài tha thướt đi như bay, đội năm mâm xôi gà, hai mâm phẩm oản, một mâm cau trầu, hoa quả và rượu dâng lên. Chủ tế mời thành hoàng cùng chư thần bản thổ về chứng và hưởng lễ. Khi tàn vài tuần hương, các chức dịch làng xã thụ hưởng tại đình.

Hôm sau, làng vào đám. Từ gà gáy rộn, những ông cai đám cho khiêng lợn ra đình, giao lại câu đương. Những con lợn đen, nung núc thịt. Lợn phải là lợn đực được các giáp chỉ định người nuôi từ năm trước. Theo lệ, câu đương cho cân lợn. Quy định mỗi con năm mươi cân. Nếu thiếu bù thóc hay ghi sổ làm phu phen cho làng để trừ. Nếu thừa, khi tế xong được mang về. Số mang về một nửa là thịt khổ, một nửa là ba chỉ bạc nhạc hoặc một cân quy thành hai cân lòng xương. Mỗi giáp một con lợn như thế.

Ban câu đương cùng mấy người giúp việc ở mỗi giáp chuẩn bị tươm tất từ sớm. Một người gieo quẻ xin giết lợn. Khi xin được, các trai tráng chờ sẵn cúi xuống, tóm lấy chân lợn, quật lên trên tấm ván. Người múc nước dội sạch cổ, chọc tiết lợn. Lợn cạo lông mổ bụng tinh tươm, đặt nguyên con nằm úp trên bàn. Phía đầu phủ mỡ chài. Một mâm nhỏ hơn đặt lòng luộc chín, phủ rối hành chẻ, rau sống, rau thơm trang trí đẹp mắt dùng tế thần. Năm giáp dâng năm ván xôi trắng, năm mâm bánh dày, năm mâm cỗ chay. Mỗi mâm năm bát chè đường đỗ xanh, năm phẩm oản, một đĩa đậu phụ, một đĩa muối vừng, trầu cau, hoa quả, tiền vàng, hương rượu…bày tất cả trong hậu cung làm lễ tế.

Chủ tế là người dâng rượu mời lần đầu. Hai bồi tế dâng mời rượu lần thứ hai, lần thứ ba. Tiếng một người hô: - Bài ban! Mọi người lục tục đứng vào vị trí. Chờ cho yên yên. Một tiếng hô: - Tấu nhạc! Tiếng đàn sáo cất lên. Chen trong đó tiếng gõ lanh canh lách cách. Rồi nhạc dừng. Tiếng hô: - Nghinh thần. Nhạc nổi lên réo rắt. Tất cả mọi hoạt động trong buổi lễ đều tuân theo tiếng hô ấy. - Nhạc chỉ. Cả khoảng không âm i tiếng nhạc lặng ngắt. - Phân hiến giả tựu vị! Hai vị bồi tế theo nhau vào chỗ. - Chủ tế giả tửu vị. Chủ tế đàng hoàng bước vào chỗ. - Quán tẩy! Các chủ tế, á tế thứ tự ra chỗ rửa tay rồi đứng vào vị trí lúc trước. - Chủ tế giả nghệ hương án tiền! Chủ tế bước lại gần chỗ bày hương án. Tiếp theo hàng loạt những tiếng hô, tiếng hét rối tinh. Nào quỳ! Tựu vị! Hiến tửu (dâng rượu)! Hiến bạch (dâng lụa)! Hiến tắc (dâng xôi)! Hiến soạn(dâng cỗ)! Thường hương! Quán địa! Phục vị! Bái! Hưng! Bái! Hưng! Bái! Hưng! - Tấu nhạc! Nhạc lại tưng bừng rộn rã. Những đứa trẻ múa dẻo. Những thanh nữ múa vòng, múa quạt. Thanh niên múa gậy, múa tay không. - Giai hạ dự tế giả giai quỳ. Mọi người theo nhau quỳ trong ngoài thềm đình. - Đọc chúc văn!

Một ông đọc văn tế cầu thành hoàng và chư thần bản thổ linh ứng, phù hộ độ trì dân làng thuận hoà, làm ăn tấn tới, biết đường mà lội biết lối mà đi. Mùa màng tươi tốt, gieo một gặt mười, yên vui mạnh khoẻ già trẻ yên hàn, điều hay thì ở điều dở thì đi. Văn bài ê a hàng giờ. - Thoái ban! - Bình thân! Phục vị!

Mọi người chen chúc ầm ã. Không gian hầm hập hơi người.

- Hàng á hiến lễ!

Lại những bóng người xê dịch. Đoàn trước đoàn sau, ầm ào, náo nhiệt. Ai nấy tưng bừng mặt mũi. Các thủ tục cúng lễ lại được lặp lại mấy lần. Chỉ người cúng, hô, quỳ…là thay đổi. Hình như thủ tục như nhau nhưng mỗi giáp cúng riêng. Phải có tâm, có đức mới làm được. Không thì mệt mỏi lắm. Lễ xong, phần để lại nấu cho các vị chức dịch. Dùng thịt đầu chia cho trưởng cựu, quan tuần. Thịt lăm (thịt cổ) chia cho các quan viên tế. Thịt lầm (thịt dưới ngực) chia cho tiên chỉ, lí trưởng. Số còn lại chia đều cho dân làng đem về.

Ngày mồng sáu tống thần. Năm mâm xôi gà, năm mâm bánh dày, cỗ chay, chuối oản, cau trầu, tiền vàng, hương rượu…Qúa trưa, sau khi thụ hưởng, thành hoàng được nghênh kiệu trở lại miếu. Pháo đì đoàng từng đợt, báo phần lễ đã hết. Chư thần yên vị chờ dịp lễ năm sau.

Phần hội tiến hành đồng thời với lễ, chủ yếu ở ngoài trời. Nếu gặp mưa, dân làng dựng rạp che. Nơi này đánh đu, đánh khăng, đánh gụ…Nơi kia đấu vật, kéo co, chạy thi, nhảy cao, nhảy xa, tung vòng… Góc đình đánh bạc, xóc đĩa, tổ tôm…Tất cả đều do các tiên chỉ, chức dịch, cụ ông, cụ bà có uy tín điều hành. Sân đình hát chèo. Các tích Quan âm thị kính, Lưu Bình Dương Lễ, Trương Viên, Nguyệt cô hoá cáo…Nếu mời được các đoàn xa, có tiếng, còn vui hơn. Ầm ào thâu đêm suốt sáng.

Sau lễ hội, làng bắt đầu ai vào việc nấy. Chuyện hội hè râm ran theo họ ra đồng, vào núi, lên tầng. Ở làng thôn nào không có những anh ngang. Ngang nhưng phải biết điều hơn lẽ thiệt, lí hay lệ dở rồi mang chuyện mình, chuyện người ra mà khoe thiên hạ. Làng có người ngang, lợi lộc nhiều hơn thiệt hại. Nghe trái tai một tí cũng phải chịu. Anh ngang chẳng được gì lại còn chịu bao điều ong tiếng ve, lời mặn lí nhạt. Làng xã được. Người dân được.

Vậy mà anh ngang có bao giờ được tôn trọng. Chuyện anh kể ai cũng tin. Tin vì nó đúng. Vừa mới xảy ra hay xảy ra đã lâu. Không mấy khi sai. Sự thật hay mất lòng. Ngang không sợ mất lòng, cứ nói sự thật. Các vị chức sắc vừa khinh vừa sợ. Dân làng vừa kính vừa hãi. Người ngang không mất. Tồn tại từ đời này sang đời khác mặc dù họ không có họ hàng hang hốc với nhau.

Ông Pheo là người như vậy. Sau ngày hội, ông phán chả cần ai hỏi:

- Hội lớn. Các quan hả hê. Dân sung sướng. Phải vậy chứ! Làm cong lưng cả năm mới có một dịp. Ăn cho tợn vào. Tiền đóng gạo góp ấy mà. Thoải mái tiêu xài. Rượu uống đến đỏ đít thuốc rít đến bỏng mồm. Bụng to như bụng ếch. Miệng rộng như miệng loa. Năm nay phải nịn lưng thít bụng cho chặt, buộc mồm con cháu lại, đóng góp thật nhiều vào để lễ hội năm sau vui hơn. Bà Khớ đâu?

Bà Khớ già, đi lại lẩy bẩy với cây gậy. Con cái chả có, vườn tược không. Bà lang thang xin ăn. Chỉ thấy bóng bà, ít khi thấy bà nói.

Pheo hỏi để lấy cớ:

- Nhà có của chìm của nổi hay không mà cứ giấu! Mau mang ra đóng góp lệ làng.

Có năm, Pheo phân trần:

- Cỗ to thì khó gì? Nhưng chức sắc đông, dân làng lắm. Dọn cỗ ra, ăn rào rào như tằm ăn rỗi, như trâu đói ngốn cỏ tươi. Loáng cái xong. Bát đĩa không cần rửa nữa, cứ xếp lại chờ đến hội năm sau.

Những người thích tìm hiểu, thích sưu tập tình hình dân chúng cứ gặp Pheo. Gặp những người như Pheo là biết rõ.


Người Sán Dìu vào lễ hội cũng vui không kém. Họ cúng bái rước xách cờ trắng lọng xanh. Cờ phướn, cờ đuôi nheo cắm dọc lối ra đình. Thanh la chập cheng vang vang. Người già múa gậy, Tre con múa tay không. Các thiếu nữ hát. Tất cả đều diễn tại đình. Kể cả tết trồng bầu bí, tết chữa bệnh, lấy cây thuốc. Dần dần về sau rất nhiều lễ tết diễn ra tại nhà. Đình làng Động là nơi lễ hội hàng năm. Mỗi năm một lần, lần khinh lần trọng. Phần hội cũng ít trò chơi hơn. Có đánh quay, ném còn, chơi đu và hát. Tuy sống cùng dải đất nhưng cơm ai người ấy ăn, áo ai người ấy mặc, việc ai người ấy làm. Lễ hội thường kéo dài, vui nhộn đấy nhưng ít người dân tộc khác tham gia. Người Kinh không mấy ai đến xem lễ hội người Sán Dìu, Hoa, Thanh Phán và ngược lại. Cẩm Phả có ba khoảng vùng ngăn cách, không thấy ranh giới nhưng cảm nhận rõ. Đó là khu vực người làng (Sán Dìu), người dân (Kinh, Hoa) và phu mỏ (người ở các vùng quê ra, người Kinh và các dân tộc khác làm than). Trong đó, lực lượng phu mỏ đông và hỗn tạp. Họ đến từ nhiều nguồn văn hoá và các tập tục rất khác nhau trở thành phức tạp. Phức tạp trong sự thống nhất.


Hàng quán chỉ tập trung quanh các dãy phố. Từ nhà máy cơ khí Cẩm Phả về phía đông là khu chợ Cũ, sang phía tây là khu chợ Mới. Khu phố Cũ buôn bán sầm uất, có cửa hàng tạp hoá, hiệu cao lâu, mằn thắn, nhà chụp hình. Nhà thuốc, cà phê, phở, hiệu thuốc bắc, thuốc tây, tiệm vàng, tiệm đồng hồ, tiệm nhổ cấy răng…Khu phố Mới phần đông nhà tây, nhà cai kí giám thị. Giữa phố có dốc gọi là dốc ông Đại. Dinh thự của quan Đại lí Va Vát Xơ. Phía dưới, cạnh bên là biệt thự chủ nhì Pờ Rô Măng, sếp kho gạo Đờ Lin, Sếp xe điện Lơ phe…Các nhà băng, nhà bưu chính, nhà bang phố, sếp cai kí…Nó như dãy phố, khu phố của lớp thượng lưu và công chức xứ than.

Trung tâm đồn Cẩm Phả có ba khu phố. Đứng đâu về mặt hành chính là trưởng phó đồn rồi các trưởng bang: Núi Trọc, phố Cũ, phố Mới. Núi Trọc cũng đông nhưng chủ yếu dân áo ngắn thêm một số cai kí, chủ thầu nhỏ, chủ yếu làm thợ, làm mỏ. Phần ít hơn chăn nuôi, trồng trọt, sống nhờ lộc đất lộc cây. Những người Hoa tụ thành phường săn sống với lộc rừng, lộc núi. Dân nói chung cổ cày vai bừa, làm bữa hôm ăn bữa mai. Ngoài ba bang ấy trong Cẩm Phả min, dân phân tán tại Dương Huy, Quang Hanh, Đá Chồng, Cẩm Bình, Cẩm Phả mán, Cẩm Phả Po, Cẩm Phả đảo, Mông Dương và hăng trăm đảo có và không có người rải rác phía đông bắc vịnh Hạ Long. Hạ Long sau này người ta bịa ra, thêm thắt vào gọi là nơi rồng xuống cho li kì để ghép với sự tích rồng lên của Thăng Long. Tên Hạ Long chỉ có nghĩa là đỗ thuyền xuống hay bãi đỗ thuyền mà thôi. Dân đảo lọc nước, bắt cá, làm muối, sống đạm bạc. Nhiều đảo, dân chỉ trú ngụ khi mưa to gió lớn chứ không trồng cấy. Tất cả miếng ăn, gia sản nhờ vào lòng biển, vớt từ biển. Họ không hề, không biết trồng gieo cấy vãi chỉ thu lượm cây lá quả hoa có sẵn, săn thú, lấy mật ong. Đất cũng cằn cỗi chỉ nhiều đá xanh, đá ong, đá gan trâu, gan gà và cát. Những phường săn người Sán Dìu, Hoa kiều tập trung phía tây bắc Cẩm Phả. Ở đó núi rừng trùng điệp. Những thác thả từng dải lụa nước trắng xoá. Những cánh rừng đi cả ngày không thấy ánh mặt trời. Thú lành thú dữ không khó bắt gặp. Mùa sinh sản, chúng gọi bầy đàn, tiếng vọng xuống phố. Từ đường cái chỉ nhằm hướng vuông góc đi hơn trăm mét, cây cối đã rậm rì. Trám, trâm, bưởi bung, lim, sến, táu…vượt lên trên tầng tầng cây bụi. Một tên cây gồm bao nhiêu loại. Trám có trám trắng, trám đen… Trâm có trâm ổi, trâm quả… Dẻ có dẻ cau, dẻ gai, dẻ bốp, dẻ đá, dẻ nước…Lim có lim xanh, lim trắng, lim đỏ…Ở ven đồi rừng, những con chồn con sóc đuôi dài màu xám tro luôn nhảy nhót, rập rờn như vẫy gọi, đùa nghịch. Chúng thoăn thoắt leo cành chạy nhảy, chợt dừng lại, đầu nghênh nghênh như ngóng đợi điều gì. Thấy động, chúng chạy rào rào. Yên lặng một chút, chúng lại thoăn thoắt, mắt trố ra, thao láo ngó nghiêng xem xét. Cảm thấy tai hoạ, chúng chạy như biến, loáng không thấy dấu. Những đàn khỉ đen, níu cành vặt quả. Thấy người, chúng dõi một hồi rồi thản nhiên cõng con đu bám với víu khi thấy không bị đe doạ. Từng đàn chào mào mũ đen đít đỏ tha thẩn khắp vạt đồi rộng.

Tin trở lại Cẩm Phả sống với người Sán Dìu trong một chiều như thế. Tại Hải Phòng bị biệt giam, anh tưởng khó gặp lại những người đã từng gắn bó máu lửa cùng nhau. Đoàn thể tổ chức cho anh vượt ngục trong một ngày mưa tầm tã. Nước đổ như thác. Cách nhau vài bước đã không thấy người. Anh về Hoành Bồ, vào Dương Huy. Đường tắc vì nước xé. Vào một nhà dân, chờ mấy ngày lại bị mất liên lạc. Chủ trại giao cho anh trông coi trâu. Ở đây, sáng sáng dân đến bãi đưa trâu đi làm. Có thể quá trưa hay xẩm tối, họ đưa trâu lại bãi. Anh cùng hai đứa trẻ vừa coi nghé, trâu già ốm, vừa cắt cỏ để trâu về chuồng nhai. Một đàn chó bảy con canh giữ suốt đêm ngày. Gạo thóc thức ăn tuy kham khổ đạm bạc nhưng không đói. Khoai sắn ngô kê đầy trên nương rẫy. Thóc, bắp treo ngang đầu, bỏ trong chum vại chất góc lều. Một bếp lửa lúc nào cũng toả khói để nấu ăn, xua dĩn và sưởi ban đêm. Sương ập oà. Khi dày đùng đục màu xám xanh, khi mỏng như vạt khăn cô gái trẻ làm duyên, làm dáng.

Tin đến Dương Huy vào một ngày giữa tháng chín sau lễ trùng cửu dăm hôm. Cái lạnh đã tràn ra từ chiều nắng chưa kịp tắt rồi ở lì, gằn hắt, nấn ná đến non trưa hôm sau khi mặt trời lên cao. Bảy con chó có thứ bậc hẳn hoi. Sau một hồi làm quen, thắng Hìn vừa khịt mũi vừa thao thao:

- Con Đen đầu đàn. Nó là loài chó săn nòi, đúng dòng, đánh hơi được sau bảy ngày không mưa... Nếu mưa chắc cũng được ba ngày. Chú không tin chứ gì? Đây có cục đá, chú mang gối đầu hay gói trong áo một đêm, mang ra ven suối bất kì chỗ nào, giấu ở đấy. Bảy ngày sau, chú cho Đen ngửi quần áo để nó nhận hơi rồi xua đi xem. Chỉ quanh quẩn chốc lát, nó công cục đá về ngay. Đen là loại nòi săn quý lắm nhưng chưa nhất đâu. Nhất bản phải khuyển đế kia. Khuyển đế chết lâu rồi, ngày pá cháu còn bé tí. Nghe kể lại, con chó nhịn đói, nằm phục đến bao giờ bắt được đúng loại thú chủ giao mới thôi. Một lần, chúa rừng Sơn Động liên kết với chúa Lục Sơn Hải bẫy được con hùm hai tạ. Họ lột da để nhồi còn xương thịt mang nấu cao. Một người cắt trộm được mảnh da hổ, phơi khô cất đi. Nghe Dương Huy có chó khôn, chúa đất Đạo Dương tìm người ấy đòi mua bằng được rồi mang biếu chủ Dương Huy kèm theo một số vật phẩm kết thân, thử tài chó. Chó nào chẳng sợ hổ. Chó được rèn luyện kĩ, đi săn hổ phải có lực lượng hùng hậu, súng mác đi kèm. Chủ Dương Huy không nói gì, gọi khuyển đế lên, đưa miếng da khô cho ngửi;

- Khuyển hãy vì ta tìm cho được loài thú này về! Đừng để ta phải chịu thẹn! Hầy! Đi!

Khuyển đế đi rồi, mọi người mỏi mắt chờ đợi. Những tay đi săn cũng đã về chỉ thiếu khuyển đế. Chúa đất Đạo Dương cười mỉa:

- Ầy dồ! Chủ tớ tôi về thôi! Con chó ấy khôn thật! Không làm được việc nó đi mất, khỏi làm bẽ mặt dòng giống. Ông cố tìm mua con khác hoặc sang tôi cho, dạy dỗ nó thành khuyển vương. Chó vùng tôi kém lắm nhưng thấy kẻ lạ vào bản, vào nhà cũng biết sủa.

Chúa đất Dương Huy lạnh lùng:

- Ông cứ đợi đây vài ngày, anh em ta giao tình kết nghĩa. Chó đất này dù kém cỏi cũng không làm hổ danh chủ nó đâu.

Gạt gộc cây vào trong bếp cho lửa bung lên thành ngọn, thằng Hìn thủng thẳng:

- Chán chú quá! Vào dịp này chả có gì. Sắn chưa dỡ được. Từ cũng còn non. Ngô lạc hết mùa rồi. Ngồi bên bếp lửa vừa kể chuyện vừa ăn mới thú. À! Lài ơi! Chuẩn bị chảo rang ngô cũng được.

Vừa nói, Hìn vừa đứng lên, khoắng tay vào trong vò, vốc ngô ra. Lửa đã hết ngọn còn vầng than hồng rực. Lài đặt cái xanh đã mất một bên quai lên ba hòn đá. Nó tãi than hồng thành quầng dưới đáy:

- Ngô đâu? Cho vào đi!

Quay sang Tin, Lài hỏi:

- Chú ở đây lâu không?

- Cũng chưa biết. Các cháu ở đây biết nhiều chuyện hay thật.

- Ồ! Thằng Hìn cơ! Cháu biết ít. Có chuyện cháu biết nhưng nghe Hìn kể hay hơn nhiều. Cháu kể cứ lục cục, nhớ nhớ quên quên mặc trong đầu nghĩ đã thuộc lòng.

- Vậy hả? Thế rồi khuyển đế ra sao?

- Chú giục thằng Hìn ấy. Nó kể nghe mới thích.

Hìn lấy que cời, quấy đảo ngô. Đã nghe tí tách, tiếng hạt ngô giãy trong chảo nóng.

- Mấy ngày sau, chú biết không? Mọi người còn đang bàn bạc trong nhà. Ông Pham - người được chúa đất cử đi xem xét, hớt hải chạy đến báo:

- Khuyển đế chết trong núi Đầu Mâu!

Nghe đến đấy, chủ Dương Huy giục chuẩn bị ngựa rồi cùng nhau vọt ngang lối Bàng Tảy. Người nhi nhô nhí nhéo ở đấy. Họ tròng dây xuống vực đá. Xác khuyển đế được đưa từ hoẳm sâu lên. Tiếp sau, xác con hổ cái bụng còn căng hai bẹ sữa. Đứng lặng một lát, chủ đất Dương Huy nhắc chúa đất Đạo Dương:

- Nó không làm hổ danh tôi chứ ông? Ta về được chưa?

Chủ đất Dương Huy lử khử suốt mấy tháng trời vì tiếc. Ông cho làm ma tế khuyển đế ngay khi chúa Đạo Dương về. Trong buổi tế ấy có người xiên lình. Xêu que bạc suốt hai bên má, thông qua mồm, xêu ngang ngực. Người ấy vẫn đi đứng nằm ngồi bình thường, không thấy nói. Bạc sáng dày trên ngực, trên mặt nhìn phát khiếp. Cháu tin chuyện ấy vì bà cháu nhìn tận mắt. Bà nội cháu đã mất. Chú không biết. Một người lành hiền chả nói sai bao giờ. Ông Xường Lấu kể khuyển đế dò biết chỗ vực ấy, lập mưu trêu tức hổ. Hổ phóng bạt mạng theo khuyển, phi xuống vực đá. Khuyển đế lấy cái chết của hổ, của mình đền ơn chủ. Ông Diệp Thắng cho rằng, khuyển đế biết việc hệ trọng mới nghĩ ra cách ấy. Nó chủ động nhảy xuống nên không sao. Hổ nhảy theo, đập ngực vào đá chết. Khuyển đế không việc gì nhưng bất ngờ bị rắn cắn.

Chủ quan thì chết. Đề phòng cái lớn phải chú í cái nhỏ. Nguy to dễ thấy để tránh, hoạ nhỏ khó thấy nên khó phòng. Không phải lời của cháu đâu. Lời mấy ông già trong bản đấy. Ở rừng chú biết không? Nhiều loài sợ người nhưng cũng nhiều loài, người phải sợ chúng. Rắn, rết, ong, vắt, muỗi, dĩn… Trong đó rắn đáng sợ nhất rồi đến ong, rết, bò cạp…Có người chết vì rắn vì ong rồi. Chính mắt chúng cháu đã thấy. Ông Tờ Hếnh đấy. Mặt mũi mồm miệng sưng húp trông đến khiếp. Đi rừng, phòng rắn chú cứ xát tỏi vào chân, vào ống quần, bàn tay. Nếu bị ong đuổi, cố gắng cởi áo vứt lại. Chú ăn ngô đi.

Hìn đẩy cái xanh ngô rang đã bỏ ra khỏi bếp từ nãy:

- Chú tên gì hả chú. Vừa mới nói cháu đã quên rồi?

- Chú là Khiêm. Khiêm nhường, khiêm tốn ấy mà.

- Cháu tên Hìn. Diệp văn Hìn. Còn nó, Lài. Tống Giang Lài. Tên có xấu không chú?

- Sao lại xấu? Tên nào cũng đẹp với con người tốt. Người tốt tên tự nhiên đẹp. Hìn và Lài là người tốt. Tên các cháu lại càng đẹp.

Cả hai đứa nhìn Tin, cười ỏn ẻn. Nước nhà sớm độc lập, các cháu được tung tăng nhảy múa học hành thì hạnh phúc nào bằng. Tiếng chim đêm kêu từng tiếng một. Tin đẩy gộc củi vào sâu hơn. Một bụm khói đặc rồi lửa lại bung lên.

- Đến đời pá cháu, chủ đất Dương Huy có con chó khác, gọi là khuyển vương, kế tục giống nòi khuyển đế. Con sơn dương lão luyện, trụi hết lông, da dày như da trâu già đắp mo. Nó khôn thành tinh khắp Bay Màn. Thấy báo, nó coi thường, nhởn nhơ như không. Hổ hay chó sói từng con một đừng mơ đuổi nó kẻo gãy cổ què cẳng. Gặp hổ đàn, sói đàn, nó lững thững cảnh giác, thấy nguy hiểm mới vọt nhảy. Sơn dương nhảy núi đá thì tuyệt. Dồn sức vào ba bước nhảy rồi ngoặt, ngoặt tiếp, ngoặt tiếp nữa. Mỗi lần ngoặt đã tránh được hàng loạt mối đe doạ rồi. Chắc nhiều kinh nghiệm, hổ đàn sói đàn thấy nó thường làm lơ. Khuyển vương gặp nó, đuổi, ngoắt đi ngoắt lại dăm lần. Sơn dương không coi ra gì. Khuyển vương cũng không coi ra gì. Cuộc rượt đuổi kéo dài đến hai ngày. Cả hai đều đói lả, mệt lử. Sơn dương lững thững. Khuyển vương cũng uể oải nhưng cố bám riết. Ngày thứ ba, sơn dương vào hốc núi nằm thở. Khuyển vương canh ngoài. Hai bên gườm gườm nhau. Sơn dương vụt nhảy lên phiến đá nhô trong hang. Khuyển vương nằm dưới canh chừng. Chú ăn ngô đi chú.

Bếp lửa lại bung lên. Một vài hạt lửa bật ra, đỏ hoe hoe, bay ngoằn ngoèo trước khi tắt ngấm.

- Đến lúc sơn dương không đứng vững nữa, trượt ngã lăn xuống. Khuyển vương dạo quanh xác sơn dương rồi lê lết về nhà. Nghe đàn chó sủa nhâu nhâu mừng rỡ, mấy anh làm thuê nhà chủ ào ra. Tiếng reo hò bật dậy. Chủ đang dở giấc nghe tiếng trở dậy, trực tiếp chỉ dẫn chăm sóc khuyển vương. Nhưng khuyển vương bỏ mặc sự chăm nom sốt sắng ấy, cứ sủa liên hồi. Chủ cho chó ăn, chuẩn bị đồ đạc. Khuyển vương vừa xốc ngoạm vừa chờ đợi. Khi chủ chuẩn bị xong, nó chạy ra phía trước. Mấy người đi theo khiêng con sơn dương chưa chết hẳn về cân còn hơn hai tạ. Pá cháu kể, trước khi chết, khuyển vương dạo quanh đất chủ, ngửi hít từng gốc cây. Gặp ai trong nhà, nó cũng vẫy đuôi ư ử mừng rỡ. Nhà chủ cao, bậc lên sàn dài. Dưới cầu thang có người canh gác trông coi. Tối hôm trước, chó ông ổng sủa. Sáng hôm sau ngủ dậy, chủ đất sửng sốt thấy khuyển vương nằm dài thượt. Đầu nó gối ngay ngắn lên đôi hải xảo của ông bà chủ. Tính ra, khuyển vương ở nhà ấy mười bốn năm.

Hìn ngừng lời. Cả mấy bóng người lắc lư theo độ hồng của lửa do gió và những mảnh vỏ cây từ gộc củi rơi rụng. Xanh ngô đã hết từ lâu. Mấy chú cháu kéo nhau lên tấm mành tre trải làm giường. Khiêm rót nước uống, lên sau. Tiếng cựa quẩy rồi thằng Hìn tiếp tục. Chuyện nó dài, nếu để tự nhiên, không dứt được.

- Con Đen đây, tài năng mấy cũng không thể xếp chung với khuyển đế, khuyển vương ấy. Nó nhớ được hơi, đánh được hơi sau bảy ngày. Không giỏi nhưng ít con bì kịp. Chúa đất đã nuôi nấng dạy dỗ nhưng nó tục ăn, ăn tranh với bọn chó thường nên bị loại. Ba con khoang, lấm, luốc còn dưới nó vài bậc. Ba con còn lại là chó thường, sủa cho vui, a dua theo bầy đàn. Người lớn gan đứng lại, chúng không dám tấn công, không dám xốc tới. Chúng còn phải học, phải tập nhiều. Khôn như người còn phải học. Người dạy chó phải lão luyện, cao tay, dạy từ từ. Con nào dốt kém phải bỏ ngay. Chả biết chú ở đây bao lâu. Càng lâu càng biết nhiều chuyện lí thú lắm, chú ạ.

- Chú xa, lạc đường, còn phải chờ người dẫn lối. Ở đây với các cháu, chú chỉ biết đôi chút. Mọi việc trông nhờ vào các cháu.

Đêm sâu vắng. Tiếng chim chắt bóp dóng một, ném cô đơn vào cánh rừng lạnh vắng. Hìn khó ngủ. Nó cựa quậy hoài. Tiếng con bắt tép kho cà bắt đầu rộn từng hồi.

- Chú biết không? Gà gô hay chim đa đa đấy. Bắt cũng dễ. Mai cháu sửa lại bẫy, bắt dăm ba con ăn. Rừng giàu có lắm. Ở lâu chú biết. Có thể không bằng nơi khác nhưng no. Gìơ đi ngủ thôi, chú ạ! Sáng mai giao trâu xong, để thằng Lài cắt cỏ trông lán. Chú cháu mình bắt gà gô. Nó nhỏ, khoảng nửa cân một con. Chú cháu mình ba con đủ chén vì nó béo trục béo tròn như cun cút. Chú đã ăn cun cút chưa? Vài tháng nữa, chúng bay về. Ta đốt lửa to. Chúng kéo về, lao vào nộp mạng. Nướng trên than mỡ nó chảy ra như người nhúng nước. Chú ăn rồi biết. Ngon không chê vào đâu được.

Tin ở Dương Huy hai tháng trời. Công việc bận rộn nhưng không cực lắm. Nghe tin mật thám, lính khố xanh, khố đỏ lùng sục, truy nã gắt gao. Cơ hội trở lại vùng mỏ bị tắc nghẽn tại Đá Chồng. Con đường độc đạo dày vết chân bọn đi tua, đi lùng. Ngựa xe qua lại tuần tiễu. Cơ sở tin cậy chưa có. Lối qua Đồng Ruộng về sở Cũ, chúng xây lô cốt cao án ngữ. Sốt ruột lắm nhưng Tin đành ở lại. Anh đã cùng dân làng đi săn lợn rừng. Lợn rừng là loại tinh khôn nhanh nhẹn nhưng chúng cũng lì lợm. Trên đường đi, dù chỉ thay đổi nhỏ chúng cũng dừng lại, đánh hơi xem xét thật kĩ càng. Đó là lợn đàn. Nếu vắng người, chúng ùa vào rẫy sắn nương ngô. Loáng chốc vườn xơ xác tan hoang không còn nhận ra nhưng chỉ cần nghe tiếng động, tiếng ho khẽ, chúng rào rào chạy. Cả bản phải chuẩn bị hàng tháng, đào hố sâu hơn hai mét, rộng bốn năm mét, rải lưới khắp các ngả rừng chỉ chừa lại lối chúng vẫn đi. Chờ cả đàn qua vị trí quây nhốt, bắt đầu gõ phèng, hò hét xua đuổi. Chúng chạy tán loạn, gặp lưới, quay lộn lại. Người la, phèng gõ, gậy đập. Chốc lát, chúng theo lối người ta dành sẵn rồi cả đàn sa xuống hố. Cuộc đi săn kết thúc. Hố sâu, chúng không lên được. Từng con từng con có chống cự cũng vô ích trước khi nộp mang cho người.

Dân còn gài bẫy. Bẫy bằng dây chão đã phơi sương cho hết hơi người, buộc thòng lọng, đặt ở chỗ chúng hay ra ăn. Khi bị vướng, lợn giãy. Thòng lọng giật lên. Chân bị treo, lợn vùng vẫy lồng lộn, trì níu không ngoạm được vào dây là xong. Bẫy từng con khó. Bắt cả đàn tốn công nhưng rồi được cả. Tin đã bở hơi tai khi bị lợn độc đuổi. Nó là loại lợn không theo đàn. Từng cá thể sinh sống riêng rẽ, khoẻ và ranh mãnh cực kì. Nó phi nhanh kinh khủng và chả coi cây cối dây rợ hố móng là gì. Anh nhìn thấy nó trước. Nó đang nhai quả rụng. Đôi nanh cong cong như hai lưỡi liềm, màu vàng bẩn. Leo vội lên cây, anh thấy nó ngừng nhai, ngước lên nhìn rồi hồng hộc phi tới. Cây lim xanh rung lên từng chập. Anh cố nhoai lên chạc. Cũng may, chạc cây thấp. Anh co người lên, quặp chân ôm được cành. Nó hùng hục lao đầu vào gốc cây mấy lượt nữa rồi vội vã chạy đi. Mãi anh mới xuống. Vừa đi vừa đánh động, vừa chú í tìm về bãi thả. Hìn quạt cho anh. Nó dặn lần sau thấy lợn, anh cứ nhẹ nhàng lẩn đi lối khác ngược gió là nó chịu, không đánh hơi thấy, không đuổi anh.

Khi mùa màng đã thu hoạch, cấy cày xong xuôi, người dân theo thói quen lùa trâu vào núi. Chúng tự kiếm ăn, sinh sản, duy trì giống nòi. Mỗi con trâu đều treo mõ trên cổ. Nghe quen, ta có thể biết con trâu ấy của nhà ai. Đến mùa, dân vào núi, lại dồn trâu vào bãi chăn thả, dùng sức kéo của chúng. Năm này, năm khác đều như thế. Trâu giúp người cày cấy ruộng nương, vận chuyển đồ đạc, lương thực, kéo tre gỗ. Hôm ấy, lùa trâu vào núi, Tin gặp con tê tê. Thường chúng kiếm ăn đêm nhưng chậm chạp thế nào khi trâu ào ào vào rừng, tê tê hoảng, cuộn tròn người lại, lăn lông lốc. Tin túm được. Anh còn chưa biết con gì, lành hay dữ, mang về thế nào, vội gọi Hìn. Hìn chạy đến reo lên. Mấy chú cháu cho vào túi vải, khiêng về, góp với bản vui hội mùa. Đêm sau nữa, tuyến thông. Anh được cơ sở dẫn qua dày đặc mạng lưới truy lùng, trở lại sở.

Ông Bội gặp anh, mừng rỡ quá, vội gọi bà và Đảo dậy. Tin nói về mỏ lần này, xin ông bà cho ăn uống xong rồi đi ngay. Anh đã lộ, lại trốn tù, ở đây không được. Cả nhà tíu tít hỏi han, săn sóc anh. Chuyện đâu có đó. Anh cứ ở lại với chúng tôi, chả phải sợ.

- Không được đâu bác ơi!

Ăn uống xong, đêm đã dạt về sáng, Tin thay bộ quần áo xẫm màu, rời nhà ông bà Bội, tìm lối xuống Cẩm Bình.

Hoán đi làm sớm. Vừa bước lên con đường cua dốc Tài Còng, anh nghe mơ hồ tiếng gọi. Tiếng gọi khẽ. Hoán chú ý nhìn, chợt nhận ra:

- Trời! Anh! Anh ra bao giờ? Anh Phàn đâu?

- Tôi trốn ra, chưa biết đi đâu. Cậu đưa tôi đi đâu đó rồi đi làm, tối về chuyện sau.

Hai bóng người cắm cúi trôi dần ra mé biển. Chó nhấm nhẳng sủa. Không sao. Nhà vắng, bãi rộng lại nhiều bụi cây thấp. Gặp bất trắc cũng dễ ẩn.


Tháng 5 năm 1936, mặt trận bình dân Pháp lên nắm chính quyền. Một số quyền lợi tối thiểu cho những người bần cùng được nới rộng. Hàng loạt tù chính trị được ân xá, được trở lại tự do. Phàn cũng ở trong số đó. Anh bị buộc phải về quê hương bản quán sinh sống, chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương. Trở lại Kiến An, anh sống công khai đàng hoàng ngay cổng chợ Gò Công hai chục ngày rồi bí mật trở lại mỏ. Gò Công trước đây là gò cao. Công về làm tổ, múa suốt ngày, kêu suốt đêm. Ai đã nghe công kêu một lần, cả đời không quên. Những tiêng “ới giời ơi” của nó nghe buồn thảm và khiến gò đã quạnh quẽ càng quạnh quẽ hơn. Thế gian biến cải. Người dần dần đến ở. Công cũng phiêu dạt, tản mát chỉ để lại tên gò. Bà con đến tụ tập, sinh sống lâu ngày. Hàng hoá trao đổi bán mua dần thành chợ. Chợ Gò Công không lớn nhưng hàng hoá khá dồi dào. Phần đông dân ở đây đều biết tiếng Phàn. Một người dám bỏ cả tương lai rực rỡ dành sẵn, lao đầu vào chông gai, làm cách mạng. Họ hiểu gia thế và cuộc sống riêng của anh nên sẵn lòng giúp đỡ.


Cẩm Phả cũng đổi khác. Tầng bè mở nhiều hơn. Sở Cũ, sở Mới, Lộ Chí than ra ào ào. Khu vực người Hoa khai thác xưa cũng được mở rộng tại Cọc Sáu. Than đã ra kết hợp với việc làm đường vận chuyển. Người thợ ngày càng cực. Mức khoán từ mười một, mười lăm chuyến lên mười bảy, mười chín chuyến một ngày công. Tiền lương trả một lần, bỏ kì vay đầu. Ngoài tầng bè do Su ba giăng (Suy Cec Vay ăng) sếp kíp, cai, giám thị toàn quyền định đoạt cốt sao cho than ra nhiều, còn những đường lò mặt tầng các cai thầu khoán mở. Cu li từ nhiều nguồn, nhiều nơi kéo về. Đồn Cẩm Phả trở thành nơi quản lí cả tình hình sản xuất. Mọi hoạt động đều vì mục đích đưa nhiều than ra. Cút lit, cảnh binh, lính khố đỏ, khố xanh…bọn mật thám luồn lách. Cu li vẫn lấm láp, nhem nhuốc từ hình vóc đến chính cuộc đời họ.

Lương công nhân phát định kì. Mỗi tháng ba kì. Kì một đầu tháng. Kì hai vào ngày 11. Kì ba ngày hăm mốt. Thợ làm công nhật đẩy xe goòng một ngày mười bảy chuyến lương mười tám xu. Chủ nhất Béc Na (Ber Ne) vừa được điều về Cẩm Phả đã tuyên bố cắt kì phát lương đầu tháng và khoán cho công nhân đẩy xe goòng nếu được mười chín chuyến sẽ tăng lên hai mươi mốt xu. Sau đó, Béc Na lại tuyên bố công nhân vẫn làm công nhật hưởng mười tám xu nhưng phải giữ mức mười chín chuyến.

Cay cực quá, cu li đứng lên chống đối. Những vụ chống đối nhỏ bé ấy nhanh chóng được dàn xếp, dập tắt. Mồ hôi và máu vẫn đổ trên tầng. Tai nạn xảy ra nhiều. Nhẹ thì máu chảy dầm dề, nặng thì chết hoặc tàn tật suốt đời. Tầng lại nhận thêm những xác mới, vùi nông dưới vài lớp mai. Căng thẳng ngày càng dồn nén. Những người cu li vốn cổ cày vai bừa ấy đã dần đứng vào đội ngũ, đoàn kết đấu tranh. Tình hình ấy buộc Phàn, Tin phải lên tầng, hướng dẫn lãnh đạo phong trào. Tin làm trục hai. Phàn sang nhà máy. Thợ kiên quyết nghỉ việc đòi tăng lương, phải được vay lương kì một lấy tiền mua lương thực thực phẩm. Nếu tăng mức, tăng chuyến vận chuyển phải tăng tiền.

Cuộc đấu tranh rầm rộ sôi sục suốt những ngày đầu tháng bảy năm một ngàn chín trăm ba mươi sáu. Một bầu không khí căng thẳng, hầm hập hơi nóng chỉ chờ có lửa là bùng lên. Chủ mỏ lúc ấy đang ở bên Pháp được tin, điện ngay sang, đồng í tăng lương và bớt giờ làm.

Người người phấn khởi lắm. Chuyện đấu tranh thắng lợi được mang ra kể khắp nơi có người tụ tập đông đảo.

Tin ở dưới Cẩm Bình, trong nhà Hoán. Cuối con đường phân chia phố Mới, phố Cũ, kéo dài ra ngang phía núi Cốt Mìn là bến cho tàu khách, thuyền chã, thuyền câu, mủng mảng, bè tre, bè gỗ… lui tới. Chính vì thế, nó chia tách Cẩm Bình ra làm hai phần. Phía đông là Cẩm bình đông. Phía tây là Cẩm Bình tây. Mãi về sau này, nhiều người còn nhầm có hai xã Cẩm Bình. Thực tế, Cẩm Bình chỉ có một xã. Lúc câu chuyện này xảy ra, xã Cẩm Bình kéo dài từ Bên Gio đến Cẩm Phả Mán (sau này là thị trấn Cọc Sáu rồi phường Cẩm Phú và một phần Cẩm Thịnh) về phía biển. Phía trên kéo qua Quốc lộ vào đến dải núi đất thuộc dãy Bay Màn. Tin được sự đùm bọc của dân đạo (Gia tô) dân lương (Phật giáo). Họ nhường cơm sẻ áo cho anh khi anh và họ cùng đói. Họ che chở, bảo vệ anh

Phàn làm mỏ lại lên vườn ông Bội. Chỗ ấy vừa vắng vẻ vừa nhộn nhạo. Đông đúc tụ tập lúc đầu ca rồi vắng vẻ im lìm suốt ngày.

- Vườn tược không thể nhôm nham như thế. Hôm nào, bác cháu mình phá phía dưới cho rộng ra trồng sắn trồng ngô. Cây cảnh ra cây cảnh mới đẹp.

Nhưng Phàn chỉ kịp đốt le, ỏng, san phẳng được mảnh đất quãng hơn sào rồi bấn bíu quá không thể tiếp tục. Mọi việc lại đến tay ông Bội.

Cẩm Phả đang lên cơn sốt. Cơn sốt than, sốt tiền, sốt giá cả tăng cao, sốt đòi quyền lợi.

Sỏi đã nghỉ việc. Anh về phụ hàng cho vợ. Dạo này, Xuơ trầm tính hơn. Chuyện cuộc đời phức tạp đã qua thì cho qua. Mình là đàn bà phải bươn chải, chịu đựng để chồng con đỡ khổ. Gỉơ lại làm gì, chuyện cũ rối rắm ra, Đàn ông là bọn dày đặc thủ đoạn, bè phái, giành giật chia xén và phóng đãng, đểu giả. Nhiều đứa thao thao những lời rỗng tuếch, ăn cơm độn trộn xì dầu rồi cổ cồn ca vát, ba hoa chích choè trước đám người cổ cày vai bừa, đầu chày đít thớt. Có thằng phồng mang trợn mắt, gân cổ to như chiếc đũa cả, phun bừa ra những điều chính chúng chẳng hiểu gì. Vậy mà trước chủ, chúng xun xoe bợ đỡ, nịnh nọt không biết ngượng mồm. Thực ra, chúng cũng chỉ là những kẻ làm thuê lấy miếng cơm ngon hơn, manh áo mặc lành hơn. Trước mặt chủ, chúng sợ như mèo nhúng nước. Đàn bà cũng chẳng vừa. Bán hàng từ ngày đầu vú bằng hạt tấm đến giờ, Xuơ lạ gì. Họ giỏi dụ dỗ mua chuộc đàn ông lắm. Con gái gì mới tí tuổi đầu, mua dấm mua dúi thuốc lá cho giai. Có cô còn chắt bóp, mua rượu chờ giai uống, mua pháo nhờ giai đốt. Em em anh anh ngọt như mía lùi. Đến khi lấy được nhau rồi mới ra mặt, đè đầu cưỡi cổ anh. Các bà còn ghê hơn, thích ăn vụng chồng, thích ăn nem, ăn chả, thích tắt mắt xà xẻo của chung, của trời ơi đất hỡi. Loại người ấy ở đâu cũng có, thời nào cũng nhiều. Xuơ lại nhớ tới bà Khảo năm nào với lòng biết ơn thành thật. Bà là người săn sắc dạy dỗ Xuơ cả điều hay í tốt cùng những xấu dở. Gìơ bà đang nằm cô đơn lạnh lẽo đầu nghĩa địa ta. Đã lâu rồi, Xuơ chưa tới. Cô tự trách bản thân. Người chết đã làm xong nghĩa vụ đời mình với mọi người mà đấng tối linh đã trao cho khi nhào nặn lên. Con người ta hay dở tốt xấu đều căn cứ vào sự đối xử với mình mà thôi. Cô tính hôm nào rỗi đi thăm mộ bà. Rủ cả chồng con đi một thể.

Người ta ở đời, mấy ai có được hôm nào rỗi.

Từ ngày Sỏi về, việc bếp núc trông coi con Xi tới tay anh. Con Xu bưng bê và giặt giũ. Nhà hàng lúc bấn lúc vãn. Xuơ chỉ ngồi bán, giữ chân khách. Tối. Chờ mọi người lên giường, Xuơ mới mở túi tiền ra đếm. Hàng bán được bao nhiêu, thiếu những gì? Xuơ lặng lẽ tính toán công việc hôm sau. Loại hàng nào dừng lại, loại nào cần mua thêm rành rọt trong đầu. Nhiều hôm khách vắng hàng ế, Xuơ ngồi thuỗn mặt lâu lắm. Nói ra dù là người trong nhà cũng không giải quyết được. Kim chỉ phải có đầu có cuối. Tre có chỗ chẻ. Việc nước, việc nhà…Đồng tiền là quan trọng nhưng điều quan trọng hơn là làm chủ được nó. Tất cả mọi việc chung quy đều bởi có hoặc không có tiền hết.



CHƯƠNG 4


Sau tổng khủng hoảng 1929 -1933, chủ công ty S.F.C.T ráo riết đầu tư, tăng cường khai thác, vận chuyển than. Từ số vốn 38,4 triệu phơ răng năm 1928 đến chấm dứt khủng hoảng năm 1933 mới có 39,950 triệu phơ răng đã tăng vọt trong vòng mấy năm tiếp theo. Năm 1936: 48,410 triệu. 1937: 59,170 triệu. Năm 1939 vốn của S.F.C.T đã đạt con số kỉ lục: hơn 100,60 triệu phờ răng.

Vốn đầu tư nhiều, máy móc thiết bị được bổ xung, tăng cường. Các cơ sở khai thác, vận tải, sàng đãi, bốc rót được mở rộng. Số lượng lao động vì thế tăng nhanh. Năm 1929 số cu li khai thác than toàn khu mỏ khoảng ba mươi lăm ngàn người châu Á và gần ba trăm người châu Âu. Sau đó, số công nhân giảm dần suốt những năm khủng hoảng nhưng đến năm 1936, số người có thẻ đi làm đã trên ba mươi sáu ngàn. Trong số đó, nhân công của S.F.C.T là 24.825 người.

Than khai thác được xuất khẩu và tiêu thụ hết trong nội bộ Đông Dương. Lãi hàng năm sau khủng hoảng tăng vọt. Dẫn đầu là công ty S.F.C.T. Năm 1936 -1939 mỗi năm lãi gần ba mươi triệu phơ răng, chiếm suýt soát sáu mươi phần trăm tổng số lãi của mười công ty mỏ lớn nhất Việt Nam. Chỉ riêng năm 1939, lãi của công ty S.F.C.T với lãi của công ty than Đông Triều là năm mươi ba triệu phơ răng.

Để thu được lợi nhuận kếch xù ấy, chủ mỏ đã có nhiều phương sách, nhiều thủ đoan bóc lột và cưỡng bức lao động. Hàng vạn phu mỏ bị dồn đến chân tường, quắn quại trong đói rét, khốn quẫn. Lương bị hạ trong lúc giá cả lương thực, thực phẩm thiết yếu leo thang, tăng vòn vọt. Mâu thuẫn giữa chủ mỏ và người làm công trở nên sâu sắc đến mức dữ dằn, khốc liệt. Trước khủng hoảng, phu nam từ 30-32 xu, nữ 25 xu một công đến năm 1936 nam còn 20- 23 xu, nữ 16-20 xu một công. Lương không bảo đảm cuộc sống đơn sơ nhất cho cu li lao động thấp, người con thơ cái quấn. Số người lương thấp, khốn khó lại đông, chiếm tới chín mươi phần trăm lực lượng làm mỏ.

Sau cuộc đình công tháng bảy năm 1936, Xanh-cơ-le-rơ-đơ-vi-bô về làm chủ nhất mỏ thay Bô La lại tiếp tục cắt kì lương đầu tháng của công nhân. Khí thề sôi sùng sục. Mâu thuẫn giữa người làm công và chủ đến mức không thể câm lặng, nín nhịn được nữa. Họ chỉ cần có thức ăn dự trữ là đồng loạt đứng lên đấu tranh.

Gái đã lấy Thao trong những ngày nóng bỏng ấy. Biết gian khổ thiếu thốn đấy nhưng làm thế nào. Hoa đến kì phải nở. Trăng đến rằm phải tròn. Bão mưa hay gió rét thét gào cũng mặc. Bố chồng cặm cụi vất vả được cái hiền lành. Thao tuy sống cảnh dì ghẻ con chồng nhưng chân thật làm ăn. Dì Mại chậm chạp nhưng tử tế, không phân con chung, con riêng. Điều ấy giúp Thao đỡ khổ nhưng khiến anh ít va chạm, không từng trải như những đứa trẻ mồ côi khác. Thôi thì chồng khó giữa làng hơn chồng sang thiên hạ. Vả lại, mình đã có “phốt”, kén cá chọn canh làm gì. Gìa kén kẹn hom rồi khổ. Cả hai nhà đều chỗ quen biết từ trước, đều cơm rau áo vá cả. Đứng núi này trông núi nọ rồi thành dưa khú bầu già, ế chơ ế chỏng ra. Đám cưới đúng dịp. Gío heo may đậm đặc. Trời lạnh về đêm. Nhà chồng nghèo, suốt ngày làm lụng chỉ đủ miệng se bụng đằm. Bố mẹ mình khá hơn, có đũa múa bát nhưng đâu đã dư ăn thừa tiêu. Thôi thì chồng vợ bảo nhau, dù no dù đói cho tươi, giữ yên trên thuận dưới hoà, đẹp lòng cả hai bên cha mẹ. SuyCecVayĂng Quỳ vẫn trông tầng, vẫn nhâng nhâng nháo nháo, quát tháo luôn mồm. Cấp trên của Quỳ là thằng tây. Nó có tên nhưng khó đọc khó gọi. Dân An Nam mình cứ gọi tây cóc. Hắn lùn. Cái bụng to như trống cái càng khiến người nó thấp. Không có tên nào thích hợp hơn. Hắn chả giỏi giang gì, chỉ hay vụt người. Tức lên một tí là hắn vụt. Chắc có bệnh nên hắn ăn uống kém, chỉ giỏi ngủ. Khi công việc suôn sẻ, hắn thường đứng, chống ba toong vào giữa hai mông đít. Hai tay choãi ra theo thân người. Chim hót, mây bay, mặc kệ, hắn ngủ. Ngủ say, hắn kéo gỗ ồ ồ từng chập. Dậy. Hắn tỉnh táo đi lại, tảng lơ như không có chuyện gì.

Sau ngày cưới, Gái lên tầng, bắt cặp đẩy goòng than ra đầu trục với Chù. Đêm qua mưa lớn. Tầng nhùng nhũng nước. Chuyến goòng đầu đã cặm. Chù bẩy mãi, bánh xe mới bắt vào đường ray. Anh còn cúi, dồn đá vào kê chặt cho đường vững. Tây cóc thấy xe cặm, xe dừng, lạch bạch chạy tới. Lúc ấy, xe cặm đã bốc xong. Tây cóc chợt thấy trong goòng than bác Bảo đang đẩy có lẫn xít. Không nói không rằng, hắn quay đầu ba toong móc vào cổ áo bác, kéo giật lại. Chiếc áo bật tung. Người cu li già loạng choạng vung tay gượng đứng dậy. Tây cóc tưởng bác đánh hắn. Thế là ...”rắc, rắc”. Chiếc ba toong tới tấp vung lên, quật vào người, vào mặt, vào lưng người phụ nữ lớn tuổi. Một cu li giật được chiếc ba toong ném ra. Tây cóc đứng chống nạnh, mặt hằm hằm. Bác Bảo ngồi một chỗ. Chiếc áo rách phơi cả chỗ bị đập, sưng tím. Máu ứa ra từ cặp môi sưng vù. Bác đứng lên. Căm hờn nhổ ra một bụm máu. Tệ hại hơn, trong bụm máu ấy lại có chiếc răng. Cu li vây quanh tây cóc, khí thế ngùn ngụt. Sự phẫn nộ càng lúc càng tăng cộng với nỗi uất hận âm ỉ dồn nén từ bấy lâu đang đợi bùng lên. Trong ngùn ngụt hơi lửa ấy, Chù rẽ đám đông đến đỡ bác Bảo, dùng tay áo lau vết máu rồi lấy cao xoa vết bầm dập, dìu bác tựa vào chân tầng. Gái dùng nón, quạt thốc quạt tháo cho bác. Chù giục mọi người tiếp tục đun xe. Qủa bóng căng đã được chích. Không khí chùng hẳn lại trong căm uất. Tây cóc thấy yên, nhặt ba toong đi khuất phía đầu tầng. Tiếng xà beng xỉa, tiếng mai xúc, xẻng quệt, tiếng ầm ầm, rin rít goòng lao… bình thường như cũ. Bác Bảo loạng choạng đứng lên, dẹo dọ vài bước. Chù bỏ xe, chạy đến:

- Mệt! Nghỉ đã cô ạ! Không phải anh em không biết nhưng đánh nó thì thay đổi được gì? Muốn được nhiều, muốn thắng lợi phải chuẩn bị, phải có lực lượng, có thời cơ. Lần này cho nó nợ. Nuốt giận đi cô ạ! Con giun xéo lắm cũng quằn. Có điều, phải biết quằn vào lúc nào cơ.


Ngày mười một hàng tháng, cu li được nhận tiền, nhận gạo, gọi là kì phát bạc. Sau khi bị cắt kì lĩnh lương đầu tháng thì trong tháng, đây là kì thứ nhất. Trong thế chiến thứ nhất, Pháp thuộc phe thắng trận nên lấy ngày 11 tháng 11 hàng năm làm ngày hội mừng chiến thắng. Ở các nước thuộc địa, Pháp cũng bắt người dân tổ chức mừng ngày hội ấy, gọi là hội tây. Công sở nghỉ cả. Vì thế, ngày 12 tháng 11 cu li mới được nhận kì lương thứ nhất. Cu li sở tập trung nhận tại kho. Người làm khoán về nhận tại nhà chủ thầu. Ngay từ ngày mồng 10 tháng 11, người ta đã thầm thào bàn tán về việc bảo nhau nghỉ, kêu công với chủ. Tin được truyền miệng, truyền tai xôn xao cả trục hai, khu phố Mới, phố Cũ. Không ai được đi làm, đòi tăng lương, chống đánh đập, cúp phạt bằng được. Nghe loáng thoáng có người còn nhặt được cả truyền đơn.

Ngày 12 lĩnh lương. Truyền đơn được tung ra. Chù đi làm về, vào lĩnh lương nhận được cả tập. Anh mang ra, phát cho những bàn tay xoè đón. Một bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng bao trùm khắp nơi. Lĩnh được tiền rồi, nhận được gạo rồi, họ còn đứng lại bàn tán mãi. Gái đi lĩnh tiền cả cho chồng. Cô cùng mẹ - bà Đảm - ra nhận gạo. Bưởi vẫn đi làm. Chưa đến đầu dốc thấy mấy người nói, chiều về lấy lương, lấy gạo, có cái ăn, cái tiêu rồi, không đi làm nữa, ở nhà mà kêu công. Ông về sớm. Đến nơi thấy vợ con đợi, ông yên chí quay về, sửa lại dậu rào. Đến tối, phu mới, phu cũ xôn xao tin tức bãi công vào sáng mai. Tất cả mọi người đều nghỉ việc, kêu công. Ai đi làm là phản lại anh em. Khí thế hừng hực như ngày nắng nóng gặp lửa. Cheo hỏi con trai xem tình hình thế nào. Thao xẵng:

- Bố cứ ở nhà. Chúng con cũng không đi làm, tham gia bãi công đầu tiên. Bố sang nhà bác Cải thì biết.

- Thôi! Để tao sang bác Bỉnh. Không biết cái chân gẫy của ông ấy thế nào rồi!

Vừa ngược đến lối rẽ, Cheo gặp Vòi.

- Chào bác!Bác đi đâu sớm thế?

- Bố mày có nhà không, tao sang chơi?

- Bố cháu sang nhà bác Cải rồi. Chả biết chân tay thế còn mò mẫm làm gì? Bác có nghe nói bãi công không?

- Tao mới nghe. Chả rõ đầu cua tai đỉa thế nào?

- Mai! Sáng mai, toàn sở mỏ nghỉ việc, bãi công bác ạ. Đòi chủ mỏ phải tăng lương cho cu li. Cháu đi đây!

Loáng cái, Vòi đi mất. Cheo lững thững vào nhà Cải. Tờ truyền đơn bằng bàn tay đã nhàu, giấy vàng, lổn nhổn cặn. Mọi người truyền tay nhau. Chẳng ai biết chữ. Nói thế chưa đúng. Có mấy người biết nhưng lâu rồi, rơi rụng hết. Họ ê a vừa đánh vần, vừa đọc:

- Hát ơ hơ i hơi ngã hỡi… A nhờ anh…chờ i chi nặng chị. E mờ em… Mãi non tiếng đồng hồ sau, nội dung mảnh giấy ấy được cô Thuần con ông Cải đến tìm bố, đọc vấp váp cho mọi người nghe:

Hỡi anh chị em!

Chúng ta làm việc cực khổ, lương không đủ sống.

Chúng ta không muốn chết đói, chết bệnh.

Vậy chúng ta hãy bãi công.

Đòi chủ tăng lương 3 hào một ngày.

Đòi chủ phải mua cuốc xẻng.

Anh chị em hãy đồng tâm đừng để người ta phá cuộc đấu tranh của chúng ta.

Hãy tỉnh táo đừng mắc mưu khiêu khích.

Kỷ luật và đồng tâm!

Chúng ta sẽ thắng.”

Tờ truyền đơn chỉ có từng ấy chữ. Ông Cải còn cầm lại, lật giở xem. Biết đâu có thể bật ra chữ gì khác nữa. Ông Bỉnh thủng thẳng:

- Chả biết họ bãi công ngày nào?


Sáng ngày 13, Bào cùng mấy người đi làm. Truyền đơn, áp phích kêu gọi bãi công được dán ngay cổng kho gạo, lối lên Mông Giăng, ngã tư phố cũ rồi bên tường rạp Ca xi nô, ngã ba chân dốc ông Đại… Từng tốp cu li đen đúa, túm tụm bên nhau dưới những lời kêu gọi tranh đấu giành thắng lợi. Trong lô nhô ánh đuốc, họ đọc tất cả những chữ trên tờ áp phích, trên tờ truyền đơn:

Hỡi anh chị em lao khổ…”

Những tiếng hò tiếng hô rền vang. Bãi công đi anh chị em ơi! Rồi từng nhóm, từng nhóm tụ tập dọc ngã tư phố cũ, phố mới, đường lên mỏ.

Trời sáng rõ. Đây đó la liệt những bó đuốc đã tắt, bị những bàn chân xéo nát. Phu phen từ sở Cũ, Mông Giăng, Lộ Chí kéo về. Bào cũng có mặt trong số ấy. Phu tầng từ Nui Trọc, sở Mới kéo xuống. Tiếng hò reo, tiếng hô rền vang cổ động cuộc bãi công. Sau vài giờ, cả Cẩm Phả náo động. Phu phen, thợ thuyền…các tầng lò, nhà xưởng, cơ khí, hoả xa…tập trung thành dải dài trước cửa nhà máy cơ khí đến chân dốc kêu gọi bãi công.

Các cơ sở sản xuất ngừng hoạt động. Tầng lò, nhà máy không một bóng người. Những trạm gác cảnh giới xuất hiện trên các con đường dẫn lên mỏ. Họ gồm những người hăng hái dũng cảm, nòng cốt của lực lượng bãi công thành lập đội bảo vệ làm nhiệm vụ đón đường giải thích cho những người chưa nắm được chủ trương bãi công, không đi làm, cùng tham gia đòi hỏi quyền lợi cho mình.

Chiều ngày 13, chủ mỏ và các Su ba giăng (SuycecVayăng), cai sếp, giám thị, kí lục họp nhau bàn cách phá bãi công tại nhà bát giác phía dưới trục hai. Chủ mỏ phân công từng nhóm cai kí, sếp kíp… xuống các lán cu li hù doạ, dụ dỗ và hứa hẹn nhằm lôi kéo người đi làm.

Nhiều lúc đội xung kích bảo vệ bãi công giáp mặt, va chạm với tốp cai kí. Bên vận động cu li đoàn kết đấu tranh. Bên hung hăng đe nẹt yêu cầu người thợ tiếp tục đi làm. Không khí căng thẳng nhưng chưa đến mức xô xát đụng độ.

Sáng ngày hôm sau, 14 tháng11, chính quyền thực dân điều từ Quảng Yên, Hải Phòng bốn mươi xe cam nhông chở năm trăm lính lê dương, lính khố xanh nhằm đàn áp tinh thần cuộc bãi công. Binh lính kéo thành dây, chạy gằn trên đường rồi tập trung tại trại lính và trong đồn Cẩm Phả. Thanh tra Bắc kì Đen xan lơ (Del Sal le), chánh mật thám Bắc Kỳ Ác nu (Ar no cix), công sứ Quảng Yên Mát xi mi (Mas si mi)… lần lượt về Cẩm Phả hà hơi tiếp sức cho chủ mỏ Xanh-cờ-le- đờ- vi- bô.

Gioóc Ray, chánh mật thám S.F.C.T bí mật triệu tập cuộc họp khẩn cấp. Cuộc họp gồm đủ mặt các quan chức chính quyền cai trị và chủ mỏ, SuycecVayăng, sếp kíp, thanh tra mật thám, quản Mai, đội Sinh, đốc Phú… vạch kế hoạch chống phá bãi công.

Sau mấy giờ bàn bạc, tranh cãi, cuộc họp thống nhất, bí mật lệnh cho các cửa hàng gạo không được bán nhằm triệt nguồn lương thực. Kiểm tra gắt gao những người cung cấp thực phẩm vào các chợ. Huy động toàn bộ lực lượng cút lít, khố xanh, mật thám… phá hoại bãi công. Chúng đến tận các lán thợ, dụ dỗ, đe doạ, cưỡng bức phu mỏ đi làm, đồng thời điều tra, tìm bắt những tên đầu têu, xúi giục cu li làm loạn.

Bên này, những người lãnh đạo bãi công thông qua một số cai kí có cảm tình, biết được mưu mô của chủ mỏ, tích cực chuẩn bị dự trữ lương thực. Đội bảo vệ bãi công vận động mọi người không mắc mưu khiêu khích, vạch mặt và cô lập bọn tìm cách lôi kéo doạ nạt anh chị em, trừng trị bọn cai kí gian ác nhăm nhăm tìm cách phá.

Cai Hai kéo một số thợ lên tầng làm việc bị đội bảo vệ vận động quần chúng đến vây. Hắn còn giở giọng đe doạ. Mọi người quây trói lại. Đại lí Va Vát Xơ đưa lính khố xanh đến thương lượng mới đưa được cai Hai ra.

Trong nhà máy cơ khí Cẩm Phả, lệnh đình công đã hai hôm rồi vẫn còn người làm việc. Anh em công nhân đến, gọi to vào bên trong. Cửa nhà máy bị khoá chặt. Cai Bệu đã khoá và giữ chìa, không cho anh em tham gia đình công. Biết được sự việc, toàn bộ số người trong nhà máy bỏ việc tập trung bên trong cổng, ầm ầm phản đối.

Một số người trong ban bảo vệ đình công kéo đến nhà cai Bệu. Không thấy hắn ở nhà. Vợ hắn thấy đông người, hãi quá, cứ lắp bắp nói không ra hơi:

- Mới sáu giờ tối (giờ công nhân tan ca) ông ấy chưa kịp về.

Chờ mãi không được, Chù quát:

- Chúng tôi cảnh cáo những người phá hoại đình công. Chồng chị còn như thế, chúng tôi đón đường đánh cho nhừ tử, chết không kịp ngáp.

Vợ hắn dúm lại, hứa sẽ nói để chồng biết.

Anh em hẹn nhau sáng hôm sau đón đường cai Bệu tẩn cho một trận. Biết tin, cai Bệu sợ quá, bỏ chạy, mang theo cả chùm chìa khoá. Thợ phải lật mái nhà chui ra. Những người khác phá cửa, phá cổng, phá khoá…cùng tham gia bãi công. Người đứng đông đặc. Đội bảo vệ bãi công chia nhau đến từng chủ cửa hàng bán gạo, giải thích vận động, nêu rõ ích lợi của việc giúp đỡ bãi công, giúp đỡ những người thường xuyên mua hàng.

Thuần Gái… cũng tích cực tham gia trong đám ấy. Chẳng rõ họ tuyên truyền thế nào mà nhà bà Đá, bà Ao lại cả vợ chồng Sỏi Xuơ đều mở cửa bán hàng, bán cơm chịu, bán gạo dầu, rau dưa chịu cho phu mỏ. Thấy thế, nhiều cửa hàng sau khi thăm dò trước sau rồi cũng lần lượt mở cửa bán hàng.

Đến chiều, tất cả số công nhân bị nhốt đã thoát ra, tham gia bãi công rất tích cực, hào hứng.

Cuộc bãi công càng lúc càng quyết liệt. Khó khăn cũng tăng thêm. Nhiều nhà bắt đầu hết gạo, hết tiền. mặc dù họ mới lĩnh lương được vài ngày nhưng trả nợ, trừ đầu trừ cuối chẳng còn được bao nhiêu. Những ngày sau, có người dao động sợ không có ăn, sợ bị đuổi việc. Cảnh nách bị tay gậy, cầu bơ cầu bất họ đã thấy nhiều rồi. Hãi lắm. Từ Cẩm Phả min ra Cẩm Phả po, ngả đường nào lính cũng lăm lăm súng, sẵn sàng nhả đạn. Chết mất thôi. Chả biết đến bao giờ mới yên hàn được.

Văn phòng đại lý không ngớt chuông reo. Bề ngoài tưởng chừng yên tĩnh.

Cổng vẫn khép. Chỉ có người lao công biết. Đại lí Va Vát Xơ tới tấp điện cho thống sứ Bắc Kì Tô Lăng Xơ và công sứ Quảng Yên Mát xi mi cứu giúp.

Chù cùng Vòi xung vào đội bảo vệ bãi công, ngăn chặn người đi làm, giải thích vận động, yêu cầu, khống chế, kiên quyết không cho ai chống phá bãi công. Cả Cẩm Phả căng như trống làng những ngày thúc ngũ liên chống lũ. Ban bảo vệ bãi công cử người xuống các xã Đá Chồng, Cẩm Bình, các làng sản xuất nông nghiệp, các làng chài, xóm bãi…mang khoai sắn, cá tôm ủng hộ bãi công. Sự đe doạ của bọn chủ mỏ và bang phố thực sự gây khó khăn nhưng không sao ngăn nổi họ.

Chiều 17, sau năm ngày bãi công, chủ mỏ Cẩm Phả cho dán yết thị, công bố tăng lương lên 26 xu một ngày. Thợ phải trở lại làm việc ngay. Ai không chịu đi làm sẽ bị đuổi việc, đuổi khỏi mỏ. Nhiều gia đình lao đao. Tiền đã hết. Gạo nấu cháo may còn một hai bữa. Vợ chồng Đồng phải đi dỡ sắn thuê, lấy củ bỏ vào nồi. Hai đứa trẻ vêu vao, say sắn nằm lử lả. Ông bà Động xuống phố, mang cho vợ chồng Bào Thãi hơn chục bắp ngô. Khổ. Hai vợ chồng nhút nhát hiền lành, sợ cả tiếng chuột rúc, chả có khí thế nào của ông Đục lừng lẫy tăm tiếng khi xưa. Nghe bãi công, vợ chồng tham gia cho có vì rồi nằm nhà, vừa sợ cai sếp vừa sợ đội xung kích. Được tin chủ đồng ý tăng 26 xu một công, anh cầu mong bãi công thôi đi. Được thế tốt lắm rồi. Bọn họ thay đổi ý thì xôi hỏng bỏng không. Đừng cố néo mà đứt dây.

Sáng hôm sau, Bào ra nghe ngóng. Phía sở mỏ yên tĩnh. Anh qua phố. Thợ vẫn sùng sục đấu tranh. Chết thôi! Bào vội quay về nhà, nằm lo lắng, thở dài thườn thượt.

Ngày 18, tầng sở vẫn vắng teo. Sỏi, Hoán, Đảo đứng gác giữa bốn bề yên tĩnh. Sự yên tĩnh của những giờ phút trước bão. Tuy Sỏi đã nghỉ nhưng anh được sự tin cậy của những người bảo vệ đình công. Cũng như Sỏi, ông Động, ông Bỉnh, ông Cải…đã nghỉ lâu rồi. Bãi công thắng bại không ảnh hưởng trực tiếp đến họ nhưng họ vẫn ra, đứng hàng đầu, xông xáo, khuyến khích phu phen, thợ thuyền, củng cố lòng tin cho những người kiên quyết đấu tranh. Chiều. Cả ba đang đứng gác, Tin chạy tới:

- Không có gì chứ?

- Chả thấy động tĩnh!

- Vậy chú Sỏi ở đây. Hai anh đi theo tôi. Chúng đang đưa người lên tầng, phá hoại bãi công.

Được mật thám và lính khố xanh hỗ trợ. Cai Đăng và cai Ích đã rủ rê, lôi kéo được tốp người lên tầng. Hoán, Đảo chạy theo Tin. Từ xa đã thấy khoảng chục bóng người cắm cúi xúc dọn trên bãi. Ở các hướng khác còn nhiều người đang chạy tới. Cai Đăng, cai Ích không sao buộc mấy người tiếp tục làm việc được. Họ đứng nhìn. Ba bốn phía, dòng người ập tới:

- Đừng phá bãi công anh em ơi!

- Thắng lợi hãy trở lại làm việc! Đừng nghe bọn chúng xúi bẩy.

- Anh em hãy bỏ về, cùng bãi công với chúng tôi!

Hàng chục phu phen xô lên trước mũi súng của lính khố xanh. Cai Đăng, cai Ích lách vào giữa đám lính, mặt ngơ ngác. Hai, ba rồi cả đám người vác mai nhập vào những người mới đến, quay trở về phố. Đi đến đâu nhất loạt hô hào, cổ vũ đến đấy. Ngang đầu trục hai, Tin khẽ giao việc lại cho Hoán, cùng Đảo về chỗ Sỏi. Quỳ cũng thập thò đi theo đoàn bãi công. Đến khu nhà dân, hắn tách ra, lủi theo ngõ ngang về nhà.

Ngày 19 căng thẳng hơn. Vợ chồng Đồng lếch thếch bế ẵm con xuống nhà Đá:

- Bác cho em gửi cháu tí.

- Đi đâu?

- Bãi công!

Tiếng trả lời vừa dứt, vợ Đá nhìn ra đã không thấy bóng dáng hai người. Bà càu nhàu:

- Bố mẹ chúng mày! Bỏ đi mất rồi. Lại bắt tao phải nuôi chúng mày hôm nay đây. Nhà hết gạo rồi phải không? Ăn gì chưa?

Đứa lớn lắc đầu. Đứa bé mếu máo nhìn ra chợ. Ngón tay nó còn đút trong mồm.


Hai vợ chồng Đồng nhập vào đoàn người bãi công đang đông nghẹt. Bọn cai lại đưa một số thợ đang khổ sở vì tiền không gạo hết kèm theo bọn du thủ du thực trong phố được hứa hẹn đủ điều lên tầng 190. Nghe tin, mấy chục cu li lặng lẽ kéo lên. Giằng co một lúc, cảnh sát và binh lính kéo tới. Xô xát, lôi kéo, du đẩy đã xảy ra. Lính bắt một người hăng hái kêu gọi đình công đưa về đồn khố xanh. Tất cả mọi người kéo nhau xuống đồn. Trong số đó có toàn bộ những người định đi làm vì tiền gạo hết. Lính dùng báng súng dồn đẩy dun xô. Đám đông có người ngã, máu me tràn mặt. Một cuộc đánh lộn xảy ra. Anh em phẫn uát, xô vào tước súng, đánh nhau với lính. Tiêng hô, tiếng thét gào đòi thả người bị bắt rầm rĩ rền vang. Một số kéo lên quan Đại lí VaVatXơ (Va vascur) la ó, làm ồn ào, inh ỏi cả hàng phố. Quan Đại lí thường dùng thủ đoạn mị dân để cai trị. Ông nói tiếng Việt khá sõi. Những ngày nghỉ, quan thường la cà trong các lán thợ, xem họ chơi bài, tìm nghe hoàn cảnh gia đình họ. Ông thông hiểu phong tục tập quán người Việt Nam và lẩy những câu kiều vào hoàn cảnh thích hợp. Nghe xôn xao ầm ĩ, quan Đại lí phải ra gặp, xin lỗi bà con anh em về những xô xát, bắt bớ vừa qua, hứa gọi điện yêu cầu thả người bị bắt và can thiệp với chủ mỏ, giải quyết yêu sách cho anh em. Quan khuyên mọi người đừng phá rối, đừng để bị lợi dụng. Tất cả mọi đòi hỏi của anh em sẽ được xem xét thận trọng. Nhẹ nhõm, dịu dàng, ngọt nhạt, quan mong sự biết điều, khôn ngoan lựa chọn của anh em.

Trước tình hình ấy, đoàn người kéo nhau trở lại ngã tư tập trung, giữ vững tinh thần đoàn kết, xiết chặt đội ngũ đấu tranh, kiên quyết giữ vững yêu sách. Họ đứng ngồi suốt đêm. Rào rào những tiếng hô tiếng thét.

Phàn ở trong ban vận động, khuyên các hàng quán bán chịu cho anh em. Họ ít vốn. Hàng cũng cạn. Anh cùng Thuần Gái vào làng, xuống xóm bãi, xuống thuyền bè mủng mảng hô hào sự giúp đỡ. Số người đấu tranh càng ngày càng đông đúc. Cả thợ cũ, thợ mới, cả những thị dân, những người thất nghiệp, thất thế, những người có người thân làm thợ cũng tham gia. Tiếp tế không xuể. Lương thực, thực phẩm ít ỏi quyên góp được mang ra nấu ăn chung.

Ngày thứ tám cuộc đình công, những nồi cháo to đã được mang ra, kê nấu ngay vạ đường. Cu li chuyền nhau bát cháo loãng, cùng nhau chia xẻ nắm gạo cuối cùng, ngọn rau miếng bí cuối cùng. Tinh thần anh em lại sôi sục mạnh mẽ. Rau củ ngô gạo từ Quang Hanh, Đá Chồng đang đến. Cá tôm từ thuyền câu, thuyền chã đang lên…


Vào lúc ba giờ chiều ngày 20 tháng 11 năm 1936, Giám đốc Huy Át- Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ đành đi đến giải pháp chấp nhận yêu sách của công nhân. Chủ nhất mỏ Cẩm Phả Xanh-Cơ –lê- rơ –đờ- vi- bô bước ra trước ngàn ngạt cu li thợ thuyền tụ tập, tuyên bố chấp nhận những yêu sách của anh em.

-“ Chúng tôi trả lương ba hào ba xu một ngày cho nam giới, ba hào một ngày cho nữ giới. Công nhau hai hào hai xu. Đồng ý giảm thời gian làm việc từ mười giờ xuống tám giờ một ngày. Hàng ngày có người nấu nước gạo rang hay hạt muồng muồng cho anh chị em công nhân uống. Chúng tôi trả nửa tiền cuốc xẻng, chịu tiền dầu mỡ tra trục xe goòng cùng các thiết bị khác. Công nhân vắng mặt bất cứ lẽ gì cũng không bị phạt”.

Không khí đang lặng như tờ, nghe xong thông báo của chủ mỏ lại vỡ ra, hò reo náo động. Dòng người huyên náo hát hò ầm ĩ. “ - Thắng lợi rồi, anh chị em ơi!”. “ -Thắng lợi rồi! Bà con ơi!”. Họ mua pháo đốt ăn mừng dọc các con đường khắp phố Cũ, phố Mới. Ai cũng mừng vui trong không khí chiến thắng. Nhiều người cam đoan, thắng lợi cuộc bãi công này sẽ mở đầu một dây chuyền phong trào bãi công sâu rộng trên toàn vùng mỏ, lôi cuốn hàng vạn người tham gia mà kết quả dù không muốn, chủ vẫn phải thoả mãn những yêu sách của họ.

Gío lạnh đầu mùa đã về không xua nổi niềm vui rừng rực tràn ngập trong lòng người thợ mỏ.



CHƯƠNG 5



Cuộc bãi công của hơn năm ngàn công nhân mỏ Cẩm Phả đã khơi nguồn, mở đầu cho phong trào công nhân chống đối sự hà khắc, khổ cực năm 1936- 1939.

Ngày 23 tháng 11, toàn bộ công nhân Hòn Gai bãi công.

Hai ngày sau (25.11) thợ mỏ Mông Dương và bến Cửa Ông, công nhân cơ khí, công nhân máy sàng… đồng loạt bỏ xưởng.

Như vậy, đến 25 tháng 11 năm 1936, toàn bộ hơn ba vạn người từ tất cả các khâu khai thác, chuyên chở, sàng đãi, bốc rót khu vực Cẩm Phả - Hòn Gai thuộc S.F.C.T đã bãi công. Mọi hoạt động bị đình trệ, bị xáo tộn, đảo lộn. Khí thế hừng hực dâng cao. Phu thợ các mỏ Đồng Đăng, Cái Đá, Kế Bào, Uông Bí, Vàng Danh, Mạo Khê, Đông Triều… đồng loạt bãi công. Bối rối trước làn sóng chống đối đòi hỏi ngày càng dâng cao, chủ mỏ phải nhượng bộ, tăng lương cho toàn thể công nhân sau bao toan tính. Ngày 12 (thực ra là ngày 13) tháng 11 hàng năm trở thành ngày hội truyền thống kỉ niệm cuộc tổng bãi công. Trong vòng hai mươi ngày đấu tranh gay go quyết liệt của gần bốn vạn thợ mỏ trên tuyến dài gần một trăm cây số đã hoàn toàn thắng lợi.


Ngay sau cuộc bãi công, quan hệ vợ chồng Sỏi Xuơ tốt đẹp lên. Họ tính chuyện gả chồng cho Xu. Nó mới hơn mười lăm nhưng to mập. Người hỏi nó là anh thợ xúc dọn lò tầng 150 Mông Giăng, theo bà con ra mỏ được dăm năm. Con gái trước sau gì cũng phải lấy chồng. Bở sướng sượng chịu. Anh ta được bà mối đưa đến nhà, rụt rè thưa gửi. Ai không mang mật đường đến nhà người mình mong lấy làm vợ tương lai. Chủ nhà đang bừng bừng phấn khởi vì bán chạy hàng sau cuộc đình công nên những nếp lo toan trên gương mặt nhàu cũ cũng dãn ra. Đám cưới được tiến hành ngay cuối năm, đầu tháng chạp âm. Sỏi cũng đáng mặt người kế nhiệm làm cha, răn dạy con gái ăn ở cho phải phép. Lấy chồng, Xu về nhà ở phía cầu Trắng gần nghĩa địa tây. Cô Thuần đã yêu, có tình í với Chù từ trước nhưng nấn ná, chờ chuẩn bị kĩ hơn. Bập vào cuộc đình công. Tạm gác việc riêng cho cái chung, họ cùng tham gia tích cực. Chuyện vợ chồng đành gác lại. Thắng lợi đình công rồi càng có điều kiện chuẩn bị cuộc sống tươm tất. Ông Cải không còn khoẻ mạnh nữa. Bà Bí đã phải trông dắng, lo lắng mỗi khi trở trời, mưa nắng hu hi. Chú Phàn, chú Tin đi đâu vắng, gần tháng nay chẳng thấy. Chú Hoán xa, ít khi gặp mặt. Ông Ao, ông Bào, chân trước, chân sau đều muốn nghỉ rồi. Công việc làm than thân khô thế khổ. Hở ra là tai nạn. Nhiều khi thoát gọn cái chết mười mươi. Lắm lúc lại bị tai ách từ những điều vớ vẩn, nhỏ nhặt nhất. Đá lăn, tầng trượt, roi vọt cai sếp…Ông Bỉnh còn què dặt ra đấy. Bác Bưởi một thời đánh đông dẹp bắc, giờ cũng an phận. Thời gian tàn phá sức vóc nhưng cũng nuôi dưỡng con người. Ngày nào, Bí còn chạy nhảy, vồ châu chấu, cào cào ở ruộng làng giờ con bà chậm chứ không đã tay xách nách ôm, con đầu gối con cẳng tay rồi. Ông Động chiếm lĩnh vùng đồi, bận bịu quanh năm không thấy mặt. Bãi công mới qua hơn một tháng, người bị bắt đã đầy ra. Chả ai biết họ mắc tội gì. Người bị bắt tại nhà, nơi làm việc, trên đường đi. Ông Su ba giăng Cù chết dúi ở cầu Hai ngay chân bãi thải đầu khu phố Mới. Đầu úp xuống khe nước. Chả biết vì sao, tội tình gì ông lại ra đấy. Gía cả ngày càng đắt đỏ hơn. Tết đến, pháo vẫn nổ. Nổ giòn nơi đầu ngõ, nổ đỏ sân nhà người có quyền chức, có máu mặt. Trai mỏ đốt pháo quăng vào chân các cô gái đi chơi, đi hội. Trẻ đốt pháo ném nhau. Chúng còn cắm pháo vào phân trâu, đốt nổ bắn toé lên. Nhiều loại pháo: pháo đùng, pháo tép kết thành dải, thành băng, thành dây. Ai đốt rời phải gỡ. Mấy đứa trẻ còn nổ pháo thăng thiên, pháo lăn giật, pháo rút, pháo chuột…Pháo càng nổ nhiều, sau tết người càng méo mặt. Trên tầng, người đi làm uể oải. Mùa than đã qua rồi, người ta nghỉ xả hơi. Giàu có mới thế chứ phu phen, hơi đâu mà xả. Cái rét đậm đặc. Nhà khá, chăn không đủ ấm. Người nghèo, áo không đủ mặc. Cu li vẫn quần bao áo bị, nhếch nhác nhem nhuốc. Mối ngăn cách dân thày, dân thợ ngày càng xa. Những xung đột âm thầm hay lộ liễu đã gây ra những hận thù, xích mích, va chạm không đáng có. Trẻ còn vô tư chưa thấy chứ người lớn cảm nhận khá sâu sắc. Sự phân biệt đối xử với những người khác cảnh có ranh giới rõ ràng. Là cai sếp giám thị…ông có quyền ra lệnh, đe nẹt, doạ dẫm, thậm chí đánh đập cúp phạt tôi công khai trong chừng mực nào đó. Là cu li, tôi buộc phải làm theo, lòng thầm nguyền rủa, đào mồ cha mả mẹ ông. Nếu tức nước vỡ bờ, tôi sẵn sàng tống nắm đấm vào mặt ông, tương đá vào đầu, quật gậy vào lưng ông, làm cho ông gẫy gối tối mặt rồi bỏ sở. Đất trời còn rộng lắm. Đi đâu, đến đâu cũng khổ, tội gì tôi phải bám vào ông nhận miếng cơm hẩm, đồng lương còm. Có nhà cửa, có tài sản, có vợ con còn lo ở lại mà giữ. Chúng tôi, cái bị rách, bộ quần áo chẳng rõ màu gì, cho ông ông không lấy thì sá chi đời. Nhiều cai bị đánh, bị đâm, bị đẩy. Cút lít dùi cui súng ngắn trong tay huơ vung cho oai chứ làm gì được. Cũng có kẻ sợ bóng sợ gió, mũ ni che tai, được sao hay vậy, tưởng khôn mà có khôn đâu… Ở đời, giàu tại phận trắng tại da. Mỗi người nhịn đi một tí. Vợ chồng còn cơm sôi bớt lửa. Anh em ra trông thấy nhau, vào trông thấy nhau, việc gì phải to tiếng. Chín bỏ làm mười. Một sự nhịn là chín sự lành. Bỏ qua cho nhau có phải hơn không? Cuộc sống vẫn chậm chạp trôi trong ngột ngạt, mâu thuẫn âm ỉ, bức xúc dồn nén. Người ta vẫn làm, vẫn ăn, vẫn sinh sôi, vẫn ốm chết. Gía cả gạo ngô, thực phẩm thiết yếu tăng vọt hàng ngày. Định gần tết cưới, Chù dự tính thế nhưng binh tình này xem ra có làm cũng không bằng trước rồi. Thuần cũng lo, đứng ngồi không yên. Con Xu lấy chồng hai tháng đã gằn hắt nhau, nằng nặc về nhà mẹ đẻ. Chúng còn trẻ quá. Được vài hôm, chồng lên đón vợ. Con Xu ngúng ngẩy, thì thụt một lúc, xin túi gạo về. Cơ màu này còn khổ. Rét năm nay lại đậm. Gío như những lưỡi dao lách qua từng khe hở, buốt thon thót.. Mặc áo ngồi trong nhà sưởi lửa còn run.

Sau tết, giá cả hàng hoá tăng dồn dập đến chủ quán, chị em tiểu thương chỉ dám mua cầm chừng. Họ ngồi, ngao ngán nhìn hàng ế ẩm, nhìn nhau than phiền giá cả đắt đỏ, về cuộc đình công của phu mỏ. Nhiều tổ ái hữu được thành lập, giúp đỡ nhau khi khó khăn. Có tổ hoạt động tốt, kéo dài được vài năm. Tổ đầu trục lỏng lẻo, người cầm quỹ dây dưa đau ốm, lạm vào tiền chung, lục đục chửi bới nhau rồi tan. Cuộc tổng bãi công tháng 11 năm 1936 của công nhân Cẩm Phả, Hòn Gai là cuộc đình công có tổ chức quy mô lớn nhất thời kì dân chủ 36-39. Âm hưởng của nó sâu rộng cao dày không chỉ đối với đời sống phu mỏ. Nó còn ảnh hưởng lớn lao đến phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam, tác động đến cả chính phủ Pháp do mặt trận bình dân nắm quyền. Tháng 2 năm 1937, mặt trận bình dân cử Giuyt-xtanhgôđanh sang Đông Dương điều tra tình hình lao động. Chủ mỏ đã tìm mọi cách ngăn cản, không muốn đoàn ông gặp gỡ tiếp xúc công nhân. Ở nhiều tầng, công nhân phải đấu tranh để ông tự do kiểm tra tình hình, điều kiện làm việc. Giuyt-xtanhgôđanh leo tầng, vào nhà sàng rửa, máng rót, trục…tìm hiểu đời sống công nhân. Sau khi làm việc với ông, chủ mỏ, chủ nhà máy cơ khí, nhà máy sàng… đã phải làm thêm nhà ở, tu sửa lại đường công nhân đi làm. Cuộc sống thợ thuyền phần nào được cải thiện.

Nhưng lác đác, lẻ tẻ những phu thợ tự dưng biến mất. Có người mất lặng lẽ. Có người mất ồn ĩ, xôn xao suốt cả tuần rồi tất cả chìm vào im vắng lặng tờ hoặc bị những nguồn tin mới, cần thiết, dồn lấp, đáng quan tâm hơn. Tin không ở Cẩm Bình nữa. Hoán giới thiệu anh với nhà xứ. Đi làm về, anh phụ giúp, sửa sang, thu xếp lặt vặt. Từ năm 1932, nhà thờ mới được xây dựng mở mang rộng rãi bằng gạch đỏ, cột xà giằng…đổ bê tông cốt thép. Năm sau, nhà thờ hoàn thành, cửa chính quay ngược lại, nhìn ra đường cái mới có khoảng chục năm. Hôm mừng công, nườm nượp chức sắc giáo dân. Ai cũng hồ hởi mừng rỡ, đã có nơi thờ phượng chúa đàng hoàng. Linh mục Hoàng Ngọc Đẩu là cha xứ. Đây là vị cha xứ đầu tiên của xứ đạo Cẩm Phả.

Năm sau, cha Huân được cử về phụ giúp cha Đẩu. Giáo dân lúc này khoảng năm trăm người. Năm 1935, cha Kiểm về làm phó xứ thay cha Huân nhưng năm 1937 cha lại đi. Cha Đẩu yếu. Công việc nhiều. Hoán đưa Tin vào giúp nhà xứ. Mọi việc bên ngoài nhà thờ nằm trong khuôn viên do Tin săn sóc, sắp đặt, quét dọn. Anh hiền lành, chăm chỉ, làm việc cẩn thận rất được lòng cha xứ và bà con giáo dân.

Phàn trở lại vườn ông Động. Anh phát dọn phía dưới thành bãi. Bà Động gieo ngô, trồng rau củ quả ở đó. Nhưng đất đầu đường do người đốt hay ai sưởi vô ý đổ xỉ ra, gặp gió, cháy ngầm theo tầng, hun nóng phía đông vườn. Những hôm mưa, khí nóng, khét độc, đặc như sương. Ngày nắng, lửa ngùn ngụt, bốc mùi khó ngửi nồng nặc một vùng. Đêm đêm, lửa rực hồng như bếp lò qua khe nứt. Vườn rau bị nóng và khí độc, rất khó lên. Đám cháy này lưu cữu trong nhiều năm. Mãi tới năm 1981, binh chủng hoá học quân đội nhân dân Việt Nam phải trở về vùng mỏ, bơm nước từ biển lên hàng tháng trời mới dập tắt nổi.

Phàn cải tạo vườn, sắp xếp, tỉa phát cho thanh thoát. Hai bên lối đi, ngâu vàng, ngâu trắng (nguyệt quế) ngan ngát hương. Từng bầy hươu nai to nhỏ từ các loại cây được tỉa xén đứng nghênh nghênh đầu lối như chào đón khach. Mới qua mấy tháng xuân, vườn cây đổi khác hoàn toàn. Sau giờ làm việc và những ngày nghỉ, Phàn miệt mài với đất. Ông Động không ngờ anh quen được mùi khói, mùi cấn rác. Bên những gốc cây trơ rễ, nhẵn mòn vết chà xát là những chỗ rậm rạp um tùm như chưa hề có dấu chân người.

Có hôm, ông Cải, ông Bỉnh thọt cùng lên thăm ông bà Động. Mấy người kéo nhau ra vườn, tán chuyện suốt buổi. Ai cũng góp í thế này thế nọ nhưng về đại thể, họ đều thán phục chủ vườn. Ông Động cười:

- Các ông đừng bắt tôi thành Lí Thông đấy nhé! Mọi việc là nhờ cậu Phàn, cậu Tin làm ra đấy. Cậu Tin xuống phố rồi.

Ông Động vừa rót nước vừa nhắc tới Phàn với sự tôn trọng không giấu giếm.

Từ ngày bị gậy cai Cù phang gãy ống chân, ông Bỉnh phải nằm nhà, lết bết đến mấy tháng. Bao nhiêu gà trống, gạo nếp bó đắp, nẹp xương, ông mới lò dò đi lại được. Vòi uất lắm, lăm lăm trả thù nhưng ông can ngăn. Mình thấp cổ bé miệng, thân yếu lực suy, dây với chúng như dây với hủi. Trắm cũng năn nỉ khuyên ngăn, sớm tối nhắc con chồng. Trời có mắt. Không phải đao to búa lớn. Chân ông đi lại được là may. Chán vạn người sống làm phu mỏ chết bỏ gốc sim ra kia. Ông chắc chắn phúc hơn họ. Mình khổ mình chịu. Đấm đạp người ta nào đã hay gì? Ai chẳng muốn tốt muốn hơn nhưng trời không cho, trời đã sắp đặt. Ông khổ thì biết vậy. Ở nhà trông coi lán phu, giúp dập phụ việc với tôi. Kẻ nào ăn mặn cũng khát nước. Ác giả ác báo ngay ra đấy không phải lấn cấn cay ca làm gì. Vậy rồi thôi. Chân gãy đã lành nhưng thành tật, cong cong đi phết phảy. Còn tốt chán. Nhiều người bỏ mạng, tội tù tai ách đầy mình phải ngậm miệng chau mày, nghiến răng nhắm mắt làm ngơ kia.

Chả rõ thế nào mà lời Trắm thành hiện thực. Cù ác có tiếng. Đánh phu như đánh quân thù. Cu li dưới quyền, Cù tuỳ í đánh đập cúp phạt, tuỳ í hành hạ hãm hiếp phụ nữ, coi họ như súc vật. Thói thường, đã hành hạ cấp dưới lại hay nịnh bợ cấp trên. Dịp tết, vợ chồng Cù quà cáp lên nhà quan. Vợ chồng quan cười nói rôm rả, tuôn ra ào ào những lời sáo rỗng người ta thường chúc tụng nhân dịp đầu năm mới:

- Tôi cũng xin chúc mừng lại ông bà những lời ông bà vừa chúc vợ chồng chúng tôi. Thật ra, tôi chẳng mấy quan tâm. Những lời nói ra là thừa không nói thì thiếu ấy. Mong cho tình cảm hai nhà ngày càng thắm thiết như hoa bông bụt ngày nắng, hoa hải đường ngày mưa.

Tiễn vợ chồng Cù về, quan xôn xao lòng dạ thấy mầm mống quỷ dữ nảy nở. Vợ Cù đẹp quá thể, vừa tươi xinh vừa nồng thắm. Nhất là khoé miệng lúc nào cũng như cười. Và cặp mắt. Ôi chao! Nó sắc lẻm như dao cạo râu. Tiếp đến thời gian dài, Cù cắm cúi tầng bè, ve vãn, làm chuyện đồi bại với chị em cu li. Quan đến nhà mơn trớn, doạ đe rồi cưỡng bức vợ Cù. Trưa ấy, Cù bất chợt về nhà thấy cổng khoá cửa cài. Còn đang ngó trước trông sau, Cù vội vàng nép sát gốc cây khi thấy vợ tiễn quan trên của mình ra. Trước khi rời xa nhau, quan còn bá cổ vợ Cù hôn và dùng hai ngón tay véo vào má con nặc nô ấy. Sóng gió bắt đầu ập đến với vợ chồng hắn ngay phút chốc.

Chờ cấp trên ra khỏi nhà, Cù ập vào. Hắn bắt đầu hành vợ. Biết không giấu được, vợ hắn nghẹn ngào vừa khóc vừa kể. Dù việc nghiêm trọng đã được giảm nhiều, Cù nghe, sát khí đằng đằng. Hắn nằm vật ra, răng nghiến ken két. Suy đi nghĩ lại mãi, cơn ghen tức rồi cũng chìm xuống, âm ỉ trong lòng Cù. Hắn bắt đầu hành hạ “con khốn nạn” cho thoả. Ăn cơm xong, vợ hắn rón rén mang bát đi rửa. Hắn uống nước, ậm ạch ho hắng, e hèm một hồi rồi gọi vợ lên giường. Hắn giục vợ cởi quần áo vợ, cởi quần áo hắn. Cô vợ khép nép làm theo. Cù quát vợ há mồm, tọng của hắn vào, bắt mút. Mút chán, hắn gối đầu lên hai đùi vợ. Tay mân mê hai vế đùi non rồi bất ngờ, véo một cái. Vợ hắn thét thất thanh. Cù nhẹ nhàng: - Lúc ngủ với nó, sướng thế sao không kêu?. Hắn làm lại từ đầu, lần lượt, đều đều, đều đều. Vợ hắn vừa ngậm, vừa giàn giụa nước mắt, xin tha. Hắn nói to: - Vợ chồng với nhau, anh có yêu em, anh mới đùa thế. Việc gì phải kêu lên vậy. Hàng phố nghe, họ cười cho. Sau ba lần cấu véo như thế, vợ ngất. Hàng xóm ở gần cũng không biết gì. Hôm sau đi làm về, hắn tự vào bếp nấu nướng. Không khiến vợ làm gì nữa, Cù bắt vợ cùng ngồi ăn uống, bắt vợ lên giường, tiếp tục hành hạ. Hai ngày tiếp sau, không thấy vợ về nhà. Chưa kịp nhờ người tìm thì nghe vợ tự tử, xác trôi rấp vào hườm tre chân cầu Một.

An táng vợ xong, chẳng biết có hối hận không, Cù thiểu não hẳn rồi một buổi sáng, người đi làm thấy xác hắn nổi dưới chân cầu Hai. Xác chết ngồi. Hai mắt mở thao láo, trắng lờ đờ. Riêng cái xác đã bao điều được thêu dệt. Người bảo gia đình nhà vợ Cù trả thù. Kẻ kể người chồng có vợ bị hắn hiếp đã đẩy hắn xuống. Người bị hắn hiếp thì nhiều nhưng đã mấy ai dám kể mà biết. Ông Ét nói có thể thằng Vòi cùng bạn bè trả thù cho ông Bỉnh. Chúng cũng định doạ nạt cảnh cáo thôi. Cù sợ mà chết. Thấy hắn chết rồi, bọn thằng Vòi mới đẩy xuống cầu Hai. Ông Úc cụt cam đoan rằng những người bị Cù đánh đến chết, xuống âm phủ không hoá được, thành ma lang thang. Cù buồn ra ngõ vắng. Bọn ma bắt gặp dẫn đi. Oan có đầu nợ có chủ. Tôi hỏi các ông, thằng Cù có việc gì mà phải ra cầu Hai? Ma dẫn lối quỷ đưa đường mới thế chứ!

Ngoài năm mươi tuổi, ông Cải đã thôi làm sở vì sức khoẻ sút giảm không cố được. Ông Bỉnh thì què, nằm ôm chân suốt những ngày trở trời. Hôm nay, hai ông dắt kéo nhau lên thăm ông Động, mong gặp Phàn. Chuyện loanh quanh từ nhà ra ngõ rồi tự nhiên lại quay về chuyện lò, chuyện tầng, chuyện sở chuyện mỏ.

- Chúng bắt nhiều người quá rồi. Chỗ thằng Chù, sáu người bị bắt. Hai người ở lán, đi làm về, chưa kịp rửa ráy. Người bị bắt, Người còn lại vùng chạy thoát, hơn tuần nay không thấy về. Bốn người bị bắt trong đêm, ngay tại nhà. Cậu Oả trên Mông Giăng, cậu Tờ với hai cậu nữa khu phố Cũ. Bà mẹ Oả chính mắt thấy chúng đấm đá con mình rồi trói lại dong đi. Hơn tuần rồi. Chả biết giam ở đâu, chả thấy tin đi tin lại gì dù đã cuống cuồng dò hỏi.

- Con Hội nhà tôi trông con cho chủ - ông Động góp chuyện - nó kể dạo này, ông Hậu hay bẳn gắt, khó tính lắm. Hơi một tí quát tháo om xòm, thậm chí còn chửi tục.

- Khí thế đấu tranh chùng rồi. Thơ lo làm ăn, lo công việc là chính.

- Bãi công do Đảng cộng sản lãnh đạo. Họ có tổ chức, có sách lược của họ, làm sao mà chùng được.

- Tôi nghe người ta nói Mặt trận dân chủ, hội ái hữu tổ chức, hướng dẫn đình công chứ đâu phải cộng sản.

- Mặt trận dân chủ ở Pháp hay ở ta. Họ cũng là cách mạng, là hội kín, bị đàn áp từ mấy năm trước.

- Binh tình này chả biết thế nào! Nhiều người kéo nhau về quê. Đâu chả trời đất ấy. Nhiễu nhương quá.

- Việc con Thuần thế nào ông?

- Cho chúng lấy nhau thôi! Nhớn nhao cả rồi.

Bà Động mang lên vườn một rổ từ luộc và tích nước chè xanh ủ nóng:

- Các ông ăn với nhà em. Quái! Sao hôm nay chú Phàn đi đâu lâu về thế?


Sản lượng than của công ty than Bắc Kỳ tăng nhanh trong vòng mấy năm. Năm 1939 đạt mức cao nhất: 1triệu 600 ngàn tấn. Đời sống công nhân không vì thế khá lên mà điêu đứng hơn. Mặt trận bình dân Pháp sụp đổ. Chế độ hà khắc được dịp hoành hành. Gía cả sinh hoạt ngày càng đắt đỏ, hàng hoá khan hiếm. Chủ mỏ vơ vét tài nguyên trong lúc chính quyền thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào cách mạng, thủ tiêu hết mọi quyền tự do tối thiểu mà người dân cần lao giành được trong thời gian 36-39. Thế giới chuẩn bị bước vào cuộc tàn sát lớn. Đại Pháp ban bố lệnh tổng động viên, tăng cường vơ vét sức người sức của cung ứng cho chiến tranh đồng thời mở rộng cửa trại giam, nhà tù, bắt bớ những người dám đứng lên đòi hỏi lợi quyền. Mọi tổ chức hợp pháp của quần chúng bị giải tán, bị cấm hoạt động. Mật thám, cút lít, lính kín lùng sục ngày đêm. Hàng ngàn người bị tố giác, bị bắt, bị đày đi biệt tích tận đâu không rõ. Không khí khủng bố ngột ngạt bao trùm vùng mỏ.

Bưởi nằm nhà. Kỉ niệm một thời thôi thúc trong ông. Những ngày xa quê, lưu lạc cùng anh Đào, ngày chiến đấu trong phong trào khởi nghĩa Yên Thế lần lượt hiện về. Qúa khứ oanh liệt một thời sục sôi trong huyết quản ông. Những bác Bội, bác Đục… ngày nào cưu mang nâng đỡ ông giờ tan trong đất cả rồi. Nào ai biết điều gì đã thôi thúc hai bác lên đường đánh Pháp rồi xiêu dạt khắp miền Trung, ném tuổi xuân vào gian lao? Ra mỏ làm than đến cuối đời, chỉ biết hi vọng vào lớp trẻ, giành lại non sông gấm vóc. Lớp lứa Bưởi, Bỉnh, các chú Cải, Đá, Ao, Động… dấn mình vào mảnh đất khỉ ho cò gáy mong cuộc đời sáng sủa hơn. Việc đánh tây giành lại nước ngày một xa vời. Con hơn cha là nhà có phúc. Chúng con không hơn cha thì phúc đức để đâu? Nuốt hận thù vào trong lòng. Cả một thế hệ Bỉnh, Bưởi, Cải, Đá, Ao, Động…căm hờn dồn trong bụng, lại chờ trông vào lớp cháu con. Đói khổ vẫn hoàn đói khổ. Bệnh tật thương tích rề rề.

Lớp trước Bưởi, lớp sau Bưởi đều vất vưởng. Người chết đã chết. Người sống cố gắng một nắng hai sương mong ngày đủ hai bữa ăn. Gìa cả rồi. Bản thân ông mấy chục năm gian lao kiếm miếng ăn, đầu quân cụ Đề lo toan vận mệnh đất nước. Được dân đùm bọc chở che, về đến mỏ. Trải qua biết bao gian khổ, ngậm bồ hòn mong được yên ổn đến già. Chẳng cần vợ chồng con cái gì. Những ngày đói khát trên Bố Hạ, Lạng Giang, anh em chia nhau từng mẩu sắn nướng. Bẻ ra, sắn bở tơi, trắng xoá mà không nuốt nổi. Những ngày trốn giặc, nhờ dân đùm bọc cho ăn, cho ẩn nấp. Thanh mai, sim, mai, vả rừng… trở thành lương thực. Đói khát trong lúc bị bao vây, nhìn đâu cũng thấy giặc. Con sông Thương chảy qua Hữu Lũng mùa khô hẹp nhưng sâu, nước xanh ngăn ngắt. Đồng đội qua, đứa thoát đứa chìm. Súng giặc bắn rát rạt. Sang bờ nhìn lại, máu còn ngàu mặt sông. Những điều ấy trĩu trong lòng ông, mỗi khi trở trời nhức buốt, Sáu mươi tuổi rồi, sức lực cạn kiệt, tài sản không có gì đáng giá. Nhờ anh em thợ thuyền rồi cũng lấy được vợ khi đã quá lứa. Cha già con cọc. Lấy vợ muộn màng, con cái nheo nhóc. Lớn lên tí chút, Gái lấy chồng, bỏ lại hai ông bà già và mấy đứa em dại. Cuộc sống đen đúa, chùng chình như đứng trên võng. Không ai có thể ngờ một thời sục sôi hào khí, đánh đuổi giặc tây, giành lại giang sơn Tổ Quốc ngùn ngụt trong ông. Gìơ đây sau mấy mươi năm, một sự chán ngán âm ỉ dằng dai. Bác Đục, bác Bội hi vọng vào lớp trẻ. Ông giờ hi vọng vào ai? Lớp trẻ là em, là con ông ấy ư? Chúng có khí phách gì đâu, làm lụng đầu tro mặt muội. Những ngày tổng bãi công, ông lo nhưng khuyến khích chúng. Tưởng sau mưa gió, trời đất sáng ra. Rồi đâu lại vào đấy. Trước đun xe bây giờ cũng đun xe. Còn ông, từ hồi hộp lo lắng đến chán ngán.

Bà Đảm biết chồng buồn, khẽ giục mấy đứa trẻ đi chơi, khép lại cửa. Bọn trẻ được sổ lồng, ào ào chốc lát, léo nhéo kéo nhau ra. Bà đến bên giường:

- Có thấy con gái về không ông?

- Chưa thấy đâu!

- Thằng Thao cũng không đến. Ông sắp có cháu ngoại rồi!

- Nó nói thế à?

- Lấy nhau quá nửa năm còn gì!

- Thề là thêm thế hệ lầm than nữa! - Ông ngao ngán hơn.


Ông Bỉnh cậm cạch đi lại quanh lán phu. Lán rộng thoáng. Phu đã bỏ về vãn. Sở bắt đầu lại dãn người. Số còn ở sợ bị bắt lính, vừa làm vừa nghe ngóng. Một tay thợ lém lỉnh, pha trò với ông:

- Mời bác ghé vào chỗ em, tán vài câu cho thơm mồm.

- Làm gì đấy? Câu hỏi thay cho lời chào lại.

- Chúng nó cứ xui cháu về. Về thì gần cha mẹ nhưng túng nghèo suốt mấy đời rồi. Ở đây nhọc nhằn nhưng hết ngày có tiền không lo. Quê cháu, bác biết không? Cắm cây lúa xuống lo đủ thứ bác ạ! Sâu bệnh, lụt lội nắng mưa, đến lúc thóc vào bồ còn lo vụ sau. Lo cất giữ kẻo ngập lụt, chuột bọ, mối mọt.

- Tao cũng ở quê mãi đây. Trồng lúa lúa chết, chăn nuôi lụn bại. Nheo nhếch lếch thếch ra mỏ. Vợ chết, con chết tự tay chôn vùi. Nhục nhã cơ cực hết chỗ nói. Bây giờ lại thành tật. Gậy của thằng Cù phang tao đấy. Mấy năm rồi. Gìơ nó đang ngủ với giun dế ngoài nghĩa địa. Trời phạt nó đấy! Thằng Ư còn khổ hơn. Nghe nói giàu lắm nhưng thất sủng. Con vợ nó theo tây. Tranh cướp lại không được, nó chán, lao vào cờ bạc, rượu chè, thất tán tài sản rồi bệnh tật, dặt dẹo không đi nổi, chết trong nhà thương làm phúc.

- Như bà Phạm thị Hảo chứ gì?

- Cũng vậy!

- Bác cũng biết bà ấy ư?

- Tao chưa làm với bà ấy nhưng nghe nói bà là phụ nữ thông minh nhưng đĩ thoã, năng nổ và quyết đoán. Nhờ quan tây nâng đỡ, bà làm chủ thầu khai thác than khu sở Mới thuộc Đèo Nai trên. Mỗi khi kiểm tra tầng, bà thường cưỡi ngựa. Lúc đó, con đường còn um tùm, rậm rạp, nhiều thú lớn. Yếu vía nghĩ đã kinh. Bà giàu có nhưng chưa ai nói bà ác cả. Sau rồi rầy rà thế nào, bà mất tại nhà thương làm phúc. Nhà thương dành cho những người khổ nghèo, mạt hạng, vô gia cư, không bạc tiền, không nghề nghiệp, thường chứa lưu manh, ăn mày, không người thân thích săn sóc. Thói đời đen bạc vậy!



CHƯƠNG 6



Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Phát xít Đức tấn công Ba Lan. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 6 năm 1940, nước Pháp đầu hàng Phát xít Đức. Tháng 9, Phát xít Nhật tấn công Đông Dương. Thực dân Pháp ở Đông Dương nhanh chóng đầu hàng. Người dân càng bị áp bức đến kiệt quệ, điêu đứng. Than sản xuất ứ đọng, không tiêu thụ được. Hàng loạt phu thợ bị sa thải khiến tình hình rối ren hơn. Người còn ở mỏ làm cầm chừng, tháng mươi, mười lăm công. Phong trào cách mạng, hội kín…bị truy bức ráo riết, tan vỡ từng mảng. Người lao động chân tay, lao động cơ khí sống trong lo âu, phấp phỏng chờ đợi một điều gì lớn lao thay đổi cuộc sống hàng ngày.

Chù lấy Thuần đã được hai năm. Giao cháu cho bà ngoại như lẽ đời vẫn thế, vợ chồng làm buổi đực, buổi cái. Thuần tất tả thu vén thêm cặp. Chù đi làm thuê. Những công việc nặng cần người có sức. Chỉ một số cai kí, sếp kíp có tiền, có quyền, những chủ thấu xà xẻo, bớt xén công thợ còn của ăn của để mới mát mặt. Những người khác bốc tay sốt đổ tay nguội, chạy đôn chạy đáo như cờ lông công. Dân Cẩm Bình trồng rau bán ế ê hề. Tiếng phàn nàn xôn xao mỗi khi gặp nhau. Rau chất đống, ủ làm phân, để thối giữa đồng. Các hàng quán trong chợ, phe phảy quạt nan, quạt mo, nhìn nhau xua ruồi. Cu li hết việc, kéo nhau về quê. Lán phu cũng vắng. Hàng quán teo tóp tiêu điều. Quan binh đi lại rầm rập không đủ sức khua phố mỏ sống dậy. Mới năm giờ chiều, đường phố đã vắng ngắt. Những giọng hát buồn ư ử ông ổng từ nhà ai lan ra trải dài một đoạn phố. Tầng mỏ im lìm xám xịt lọt thỏm trước những dải đồi trùng điệp cây xanh. Ao thất nghiệp.

- Ông cũng đấm thèm vào. Về nhà, nằm khểnh dái bán hũ dưa. Vợ chồng đủ ăn. Con cái lớn, chúng tự lo lấy.

Vợ Đồng cũng nghỉ. Thôi thì rời tay mai sai tay cuốc. Đất đồi đấy, vỡ ra mà giồng. Gieo giọt mồ hôi lên đá cũng phải được gì chứ. Cai Quỳ, Cai Quý, cai Lạng, cai An… không thấy hò hét quát tháo gì nữa. Thời thế thay đổi, người ta lo liệu xa. Cờ chưa đến tay, nhìn sau trước đã. Sểnh chân còn chống sểnh miêng đỡ sao. Làm được đến đâu hay đến đấy. Mũ ni che tai chờ thời. Không phải việc mình đừng có chõ vào, có ngày nó vả cho tan mặt. Vợ Đồng nghỉ, đi cuốc vườn thật. Được đâu chục ngày gì đó, chị em bàn tán rủ rê, cô lại lên tầng.


Đứa con gái của Thao đã miệng ăn chân chạy được rồi. Vợ chồng làm. Con vứt cho bố và dì. Dì Mại châm chạp hiền lành lại sợ miệng lưỡi đàm tiếu nên chú tâm săn sóc cháu. Trẻ con nhạy cảm. Nó biết ngay ai quý mến nó. Vì thế, nó xán bà. Bà lại mẩu sắn, bắp ngô dành cho. Nó càng thích ăn ngủ cùng bà. Nhà đã thấp lại cũ kĩ hơn. Làm sao mà mới, mà thay đổi được khi vợ chồng chỉ biết chân chỉ làm ăn thật thà trong thời buổi nhiễu nhương này.

Quệ bỏ việc tầng, chữa đồng hồ. Chẳng mặn mà giữ niềm tin với khách nên không ăn thua. Chả mấy người đến. Bụi bám dày mặt kính. Với số tiền ki cóp được từ ngày làm mỏ, Quệ dựng nhà mới ngay đầu phố Li ông trên nền đất cũ, ở chếch phía đông khu nhà Cải. Ngót sáu mươi rồi, tuy khó chịu với tiếng ồn ào, tiếng gọi giật, tiếng thét thúa phường phố nhưng không dám tìm đất khác cắm nhà. Người lão càng còng gập do tuổi tác và lối sống sa đoạ thời trẻ.

Quệ sinh ra trong một gia đình cu li than nghèo đói và tật bệnh. Tự nhiên vô tâm vô tính như cây dại, gặp gì ăn nấy, Quệ lớn ào ào. Bố mẹ bận việc không còn thời gian dạy dỗ giáo dục, coi đó là việc chẳng quan trọng. Nắng chiếu sương tan, trăng đến rằm trăng tròn. Quan trọng gì việc răn dạy con khi bố mẹ thô lỗ cục cằn và dốt nát, ăn bữa hôm lo bữa mai. Quệ lớn lên bên những người lầm than lam lũ, chạy nhảy nô đùa cùng trẻ lông nhông mũi dãi nhếch nhác, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Cao lên tí chút, Quệ lại cùng bạn leo tầng, bới móc bòn nhặt than lẫn trong xít thải. Tối tối, nếu còn hơi sức, Quệ a dua theo mấy đứa cùng phố thường ao ước được như bọn cà tẩm, bọn rởm đời loanh quanh trên con đường ngang xóm thợ thanh bình, bụi bặm và nhỏ hẹp. Đến thời thanh niên, Quệ làm hăng hái, nếu cần thông ca, đi đêm về hôm. Chơi bời dông dài cũng lắm. Mười sáu tuổi, Quệ đã một mình đi rình xem đàn bà, con gái tắm, đã biết quay mặt vào tường, vuốt ra vuốt vào những lúc thích chí lại vắng người. Quệ thường lang thang, khuya lắm mới về. Sáng dậy, hai mắt căng như có ai xô đập, vỗ vả vào… Miệng khô khó há. Mồm đắng như ngậm mật cá trắm. Trên tầng, Quệ làm như điên lấy lòng chủ, dần dần được cất nhắc. Lên làm cai, lão chăm chỉ, tận tâm với công việc. Tuổi càng ngày càng chín, Quệ lấy vợ, không chơi bời tối tối như trước. Tầng bè được săn sóc. Dụng cụ lao động của cu li, Quệ thường xem xét, nhắc nhở chu đáo. Do cả hai phía, người quản lí và kẻ làm công, Quệ thường chung chạ với bọn đàn bà hư thân mất nết. Quan hệ nhiều, sức lực chơi bời phung phí khiến lão ngày càng tổn hao khí huyết. Có khi đang ngồi, Quệ ngáp liền hai ba cái, uể oải đến ruồi bậu mép không buồn xua. Có lần nghe bọn mất dạy xui lão nuốt sống trứng gà cho hăng hái. Hăng hái đâu chẳng thấy. Tào Tháo đuổi chí chết. Người lão lử lả, thất thểu đến cả tuần. Mấy thằng cu li mất dạy lại còn cười:

- Chẳng biết bụng dạ bác ra sao. Chúng cháu thấy nghiệm lắm. Hay là bác tham, hút năm sáu quả liền? Hay bác hút trứng cũ?

- Cũ là cũ thế nào? Gà nhà đẻ, tao rình lấy trộm, làm có hai quả!

- Chắc là bụng bác xấu!

Nhiều đêm nghĩ lại, Quệ tự ghê tởm mình.. Nếu được sống lại, lão sẽ nghiêm chỉnh, chỉ một vợ một chồng, thuỷ chung yêu thương nhau. Gìơ quá đà rồi, chó đen giữ mực. Lại đi, lại tìm, lại kiếm, lại tán tỉnh, lại dụ dỗ, lại thức ngủ cùng xác thịt. Đối với Quệ, đàn bà là thứ bùa mê trị bệnh. Có điều thứ bùa ngải ấy, càng dùng càng nặng thêm. Mới ngoài sáu mươi lưng lão đã gập xuống thế kia. May mà lão tỉnh, nghỉ việc sớm. Bọn đàn bà con gái sớm trưa đú đởn với lão, lạnh nhạt hẳn. Thì ra nói yêu thương cho oai chứ chúng ngủ với lão, cho không lão để chúng đỡ phải làm, không bị cúp lương, bị đánh đập. Nào có thiệt gì. Thiệt là thiệt cho thằng chồng hèn kém không trông nổi vợ để vợ đi ăn nem. Thiệt là thiệt cho con vợ tham tiền, không biết giữ chồng để chồng đi nhai chả. Gìơ lão hết quyền. Có đứa thấy từ xa đã ngoảnh mặt làm ngơ. Có đứa thầm thào dè bỉu, đổ tiếng xấu xuống đầu lão. Thây kệ! Việc ai người nấy làm. Quệ về, xây nhà gạch đỏ, lợp ngói Mác xây, vui với các cháu nội ngoại. Ai nhớ thì thăm, ai quên thì thôi, ai quen thì hỏi. Cuộc đời là nơi sống tạm ấy mà. Vài mươi năm nữa, lần lượt kéo nhau về đất tất. Ai mang được gì, kể cả điều hay lẽ tốt.


Tin ở nhà thờ đã được vài năm do Hoán giới thiệu và ông Động bảo đảm. Siêng năng cẩn thận, anh được cả linh mục và giáo dân quý mến. Con Hội không còn trông con cho cai Hậu nữa, về theo anh Đảo làm mỏ. Tham gia đội đồng ca nhà thờ lại quen biết Tin, cô hay xưng tội nơi nhà chúa. Linh mục Hoàng Ngọc Đẩu đã có í khuyên Tin bỏ làm thợ trong xưởng, làm phu xúc than về nhà chúa giúp việc. Ngày 15 tháng 9 năm 1938, ViCenTê Hoàng Ngọc Đẩu qua đời, thọ 62 tuổi. Xác cha được quàn tại nhà thờ và an táng tại nghĩa trang Cẩm Bình, rồi được cải táng đưa vào khuôn viên nhà thờ ba chục năm sau. Năm 1939, cha Lục được bề trên cử về làm quản xứ. Cha cho lát gạch quanh nhà thờ, xây dựng đường kiệu. Bao nhiêu công việc nhà xứ, Tin đều tích cực tham gia. Hơn hai năm sau, cha Lục được điều đi. Công việc nhà xứ bề bộn. Bà con giáo dân muốn anh bỏ tầng nhưng Tin xin bà con giao việc quản lí điều hành cho các trùm. Anh chỉ thạo tỉa cành cắt lá, làm việc lặt vặt. Công việc ấy, Tin sẽ làm vào những ngày nghỉ.

Thời gian này, giáo dân đông và đi lại cách trở, một nhà thờ mới được xây trên núi Trọc, không bề thế nhưng chững chạc, lộng lẫy. Đối diện với nó, ở phía thấp hơn, một ngôi đền năm gian lợp ngói tàu, hình chữ nhất được xây dựng từ trước, quay hướng đông. Nhà thờ quay hướng bắc, xây gạch đỏ, lợp ngói Mác xây, trồng nhãn. Đền xây đá vữa, trồng đại.


Ngoài người Hoa họ Lục và nhiều họ khác tiếp tục đến ở, những người làm mỏ và những người hành nghề sơn tràng, săn thú, làm nương, chăn thả, nhiều người làm nghề khác cũng tới tá túc rồi hứa hẹn định cư lâu dài. Ông Ca - bang trưởng - nhận tất. Có là gì. Cơm ai người ấy ăn chăn ai người ấy đắp. Đất rộng, hoang hoá đầy ra. Người đông sức lắm, vỡ ra mà làm. Càng đông càng vui. Có người chả cần gặp ông, theo anh em, bạn bè, người quen đến ở. Ông không biết. Nếu có biết, ông cũng nhắc nhở rồi quên ngay. Ông Toàn vôi - con bà Lồng - dân núi Trọc chính hiệu, sống lêu bêu, du thủ du thực mấy chục năm giờ trở lại, mang theo một cô gái xinh ơi là xinh có cặp mắt buồn sâu vời vợi. Chả rõ họ ở nhà ai trong đêm. Sáng ra, vợ chồng kéo nhau lên ba ra (đập chắn nước) con, thắp hương trước mộ mẹ, xì xụp xi xeo khấn vái rồi vào chợ Trời mua một vác nặng. Gần trưa, vợ chồng Toàn vôi khoác túi vào nhà ông Ca, nhờ ông cho tìm bà Thức và một số người xung quanh đến.

Mọi người tụ tập đã đông, Toàn vôi giở trong túi vải, vốc ra một vốc bạc trắng:

- Chỗ này! Tôi mua nhà. Mấy chục năm xa, mẹ chết vách xiêu, không ở được. Tôi mua nhà bà Thức. Trước vong linh thày mẹ tôi, xin các ông, các bà, các bác, các anh, các chị làm chứng cho. Bà Thức đếm đi. Thiếu bao nhiêu, tôi bù, thừa thôi. Mấy bàn tay xúm lại, giúp bà Thức. Chả đợi đếm xong, Toàn vôi gạt bàn, vốc ra vốc bạc tiền lẫn lộn nữa.

- Đây! Số tiền này tôi xin tạ lỗi với bà con anh em. Ông là trưởng bang phố, xin ông nhận lấy, xung vào công quỹ, giúp cho hàng phố. Gọi là tấm lòng của vợ chồng tôi.

Ông Ca thay mặt dân, gom số bạc lại. Toàn vôi bốc ra từng vốc nhỏ:

- Chỗ này, tôi xin biếu ông. Có gì ông che chở cho. Chỗ này tôi biếu ông Tẩu đã trông nom hương khói cho cha mẹ tôi mấy chục năm trời. Còn đây …

Toàn vôi trao cả túi cho người con gái:

- Em cầm lấy chi dùng lặt vặt hàng ngày. Xin giới thiệu với bà con, đây là vợ tôi. Người sẽ cùng tôi sống quãng đời còn lại sao cho có ích. Mong được bà con anh em giúp đỡ…

Hai ông bà ở với nhau đến hết đời. Cuộc sống không sung túc nhưng cũng không khổ so với dân mỏ. Ông vào tầng làm than. Bà ở nhà nấu ăn cho chồng và đẻ. Bà mất sau ông, mãi đầu những năm chín mươi. Chuyện của ông bà chả biết thực hư thế nào qua lời thì thào lan truyền như nắm kim bọc giẻ…

Toàn vôi đi theo bọn cướp, giành giật miếng ăn từ tay kẻ khác. Trong một lần chống trả với lực lượng mạnh hơn, tên chủ tướng chạy, đánh lạc hướng những người đuổi, bị bắn chết. Bọn còn lại nhờ đó tản mát. Toàn vôi men theo lạch nước, lủi dần theo chân núi thoát được. Cả một đêm chạy, ngày nhịn đói, tối thẫm, hắn lần ra bến sông, ăn mặc như người thường, lỡ đò, xuống thuyền xin ăn và nhờ đưa về Cát Hải vì biết đây là thuyền chuyên chở mắm. Thấy vợ chủ thyền đẹp quá, đêm ấy, hắn thừa cơ đâm chết chủ thuyền. Người đàn bà mặt tái như cắt, xo ro run rảy. Đẩy xác chủ thuyền xuống nước, hắn vừa lăm lăm con dao, vừa vát thuyền vào bãi sú. Toàn chọc thủng thuyền, kéo tay người đàn bà, bấy giờ khác gì cái xác:

- Em theo tôi. Tôi còn sống không để em đói rét.

Ba ngày sau, hai người mới lần về núi Trọc. Chả rõ thật giả đến đâu, nghe chuyện, mọi người nhớ lại. Từ khi về núi Trọc, người đàn bà ấy an phận, một đời thui thủi, không bao giờ cười. Kể cả khi vui, con cháu hát hò mừng rỡ. Bà ấy đẹp. Đẹp đến lúc chết già. Trong đôi mắt tuyệt vời ấy luôn giấu nét buồn thăm thẳm.

Phía bắc nhà Toàn vôi có ông Tắc Vềnh. Ông Tắc Vềnh giỏi võ. Hai mươi tuổi, ông chẳng sá gì vực sâu núi cao. Ông người núi Trọc trong phường săn. Hôm ấy, do chủ quan lơ đễnh hay quá tin vào bản thân, ông đưa súng cho người đi trước cầm hộ. Bước xuống vạ khe, ông loay hoay gỡ chùm dom chín. Không ngờ trượt chân. Lá rụng tầng tầng lớp lớp ẩm ướt trơn nhẫy càng lúc càng kéo ông xuống. Không thể gượng nổi dù dây dợ chằng chịt. Ông rơi đúng vào hang báo. Ba con báo con đang nhoai. Vừa gỡ được dây, ông đứng lên đúng lúc báo mẹ về. Nó hùng hục nhao vào. Sau một hồi xông xáo vần vã quật lộn, ông đấm đúng vào hàm dưới con báo đang vươn ra. Bị cú ấy, con báo chỉ còn giãy không chống đỡ được nữa. Một vùng cây cối nát nhàu. Mấy con báo con chạy biến. Báo mẹ vỡ xương hàm, nghẹo cổ nằm thở. Hai mắt lồi to dại đi. Mỗi khi thở, bong bóng máu từ lỗ mũi lại phồng to, vỡ ra. Khi phường săn quay lại tìm gọi. Ông không còn nói được. Con báo mẹ đã chết.

Ngoài ba mươi tuổi, chẳng vợ con gì, ông thường lang thang khi gần khi xa tìm việc, kết giao bạn bè, cướp bóc lấy đồ ăn khi phường săn nghỉ. Hôm ấy vào Huy. Trời đổ mưa. Rừng rậm rạp. Những cơn mưa liên hồi như người đổ nước. Ông trú dưới gốc cây. Trong chốc lát, thân cây thành máng rót. Ông vọt lên. May quá, ở phía xa có ngôi nhà, ông vừa kêu vừa chạy vào. Nhà ấy chỉ có hai vợ chồng trẻ. Đi một chốc, một chốc là vào làng nhưng mưa càng lúc càng to. Sấm đập đùng đùng. Chớp dựng xanh lét. Người chồng loay hoay không biết làm thế nào với người khách trú mưa không quen. Tắc Vềnh biết, nói to:

- Cô chú cho tôi nghỉ nhờ đêm nay. Tôi ở xa. Trời lại đang mưa. Cô chú cho tôi bữa cơm. Tôi không mang tiền theo nhưng hứa sẽ trả đủ. Tôi xin nằm ngay cạnh cửa này, chờ tạnh mưa là đi.

Vợ chồng nhà ấy buộc phải cho Tắc Vềnh ăn nghỉ. Nửa đêm thấy động, cô vợ tỉnh dậy còn mơ màng ngơ ngác. Tắc Vềnh kéo cô ra gian ngoài:

- Nó chết rồi. Cô đẹp! Ở với nó làm gì cho phí đi. Đi theo tôi. Tôi lo cho cô!

Cô gái hoảng hồn la lớn. Tắc Vềnh đưa tay bịt chặt miệng kéo cô vào lòng mình. Cô oằn oài giãy. Tắc Vềnh gằn giọng:

- Mày muốn theo nó không? Tao cho đi.

Cô gái hức lên một tiếng, thở hắt ra rồi ngất.

Đêm ấy là đêm cuối tháng, hắn bồng cô ra mé suối, đặt cô nằm gọn gàng ở đấy rồi quay lại. Mưa đã tạnh. Từng làn nước mỏng lay phay như có như không. Trăng cuối tháng sau mưa vàng như rơm ải. Trở lại chỗ cô gái, Tắc Vềnh chậm rãi vác cô lên đồi. Nhìn về phía nhà cô, lửa bốc cao, hồng cả phía trời. Cô gái bừng tỉnh, người nấc lên từng chặp. Ánh mắt ngây dại nhìn về phía quầng lửa. Tắc Vềnh bảo:

- Đến nước này, cô có muốn làm vợ tôi không?

Trong đêm, ánh lửa còn hắt hồng khuôn mặt. Xa xa ồn ào những tiếng động tiếng la. Cô gái không kêu gào, chỉ rưng rức khóc. Tắc Vềnh đứng lên, lôi cô:

- Đi theo tôi!

Vừa kéo vừa dìu, Tắc Vềnh đưa cô về núi Trọc. Ở đó, nhà cửa sẵn. Bà mẹ Tắc Vềnh vui ra mặt. Cô dâu còn khóc quá. Chắc vì thẹn, vì nhớ nhà thôi. Nó xinh xắn đến thế cơ mà.

Khóc suốt hai ngày, ngày thứ ba cô gái nín, chịu làm vợ Tắc Vềnh. Con gái đã khổ rồi, xinh đẹp lại càng khổ. Ngay khi biết chạy nhảy cùng chúng bạn, cô hồn nhiên biết mình đẹp. Mẹ nhìn ngắm, theo dõi bước chân cô, lặng lẽ thở dài. Cô hỏi mẹ, mẹ bảo:

- Con đẹp lắm! Nhà lại nghèo. Cái nghèo lại đẹp bao giờ cũng mang mầm hoạ vì biết bao thế lực nhòm ngó và muôn ngàn mưu ma chước quỷ tranh giành chiếm đoạt. Cái đẹp là của chung. Ai cũng cần, ai cũng thích, ai cũng muốn. Họ cướp làm của riêng, làm tài sản sở hữu. Con gái đẹp dễ bị đau khổ, phiền toái và trắc trở suốt đời.

- Nhưng con ứ thế đâu!

- Mẹ thường cầu mong cho con được vậy!

Mẹ nói mẹ buồn suốt mấy ngày sau khi sinh cô. Đến khi ngực cô phập phồng sau lần vải thô, mẹ cô càng lo lắng, nghĩ ngợi đến héo hon. Lúc đó, bố cô đã mất trong một trận dịch. Chờ đoạn tang, mẹ cô bán tống táo nhà cửa, đưa con về nhà ngoại trong Huy. Cô vẫn vô tư như không, nhảy chân sáo, lòng lâng lâng không vướng bận. Cô rạo rực hi vọng vào tương lai tươi sáng tốt đẹp vu vơ. Mẹ cô mừng khấp khởi khi anh trai bản khoẻ mạnh nhờ người sang manh mối. Cô thành vợ khi vừa mười sáu tuổi. Đứa con trai đầu lòng ra đời được hơn bảy tháng, đã tập bò, tập ngồi, tức bực gì không nhìn ánh mặt trời nữa. Nó lên cơn sốt, người nóng bỏng. Mắt nhắm nghiền, nằm li bì mấy ngày, không bú, không đái ỉa rồi đi. Mẹ cô cũng mất ngay sau đấy. Đưa tang mẹ mới được mấy tháng trời. Khổ đơn khổ kep, hết dập lại vùi thế này thì sống làm sao? Có lẽ chết đi cho rảnh nợ. Đàn bà như đầy tớ, theo hầu chồng, phục vụ chồng, phụ thuộc chồng. Ngay trong bản, có kẻ nợ nần cờ bạc còn dắt vợ ra, gán cho chủ nợ. Người vợ la khóc mãi rồi cũng phải chịu. Mà chồng nào có ra chồng. Làm vợ ba cái thằng râu dài ngang cạp quần, bằng tuổi ông, tuổi bố mình. Trăm cay ngàn đắng mẹ khuyên con, chị khuyên em cố sống nốt kiếp đàn bà khốn nạn này thôi. Đêm ấy, vừa nhớ con vừa thương chồng chết, cô như lả đi, mặc thân xác cho Tắc Vềnh dày vò.

Sáng hôm sau còn sớm lắm, Tắc Vềnh kéo cô ra trước cửa đền xanh om sáu cây đại to. Bà con thấy lạ, tò mò kéo đến. Trước đông đảo mọi người, Tắc Vềnh tay kéo vợ, miệng dõng dạc:

- Đây là vợ tôi! Aó có tràng làng có lí. Tôi là Tắc Vềnh. Diều có dây cây có chủ. Đừng đứa nào xớ rớ đụng chạm vào mà khốn. Tôi sẽ lấy máu mình giành lại nó.

Không cần nói năng thưa gửi ai, hắn kéo vợ về nhà mẹ. Một mình Tắc Vềnh lên đồi dựng nhà. Hắn chặt gỗ, lấy cỏ tranh. Hơn tháng sau, một căn nhà hiện lên, nhỏ nhắn xinh xắn và gọn ghẽ. Dậu rào kín đáo.

- Không mất một cắc mẻ!

Tắc Vềnh đưa vợ lên, hào hứng khoe thế. Ai cũng chịu là giỏi. Chắc cô vợ phục quá, lộn về nhà mẹ chồng, xin đôi ngan, bỏ vào thùng gỗ mang lên. Tắc Vềnh đeo gạo, bắt con chó con. Giữa trưa nắng, hắn bỏ tất cả vào ang, vác ngược đồi. Mồ hôi chảy trên tấm lưng trần, tràn xuống ngực bụng. Hắn đặt cái ang vào hiên nhà. Hôm sau, hôm sau nữa, bọn trẻ con kháo nhau đã có đường dẫn nước từ khe núi vào ang, vào nhà Tắc Vềnh. Khi cô có thai, bụng lùm lùm, khu đồi trước nhà mươn mướt rau xanh. Ngoài rẫy, kê chín vàng, to như đuôi trâu bên những luống đậu, luống từ, củ canh, cọc dậu. Cô vợ thực sự tin cậy Tắc Vềnh, nhẫn nại làm tròn nhiệm vụ dâu con, người vợ, người mẹ. Ngày ấy, việc giết chồng cướp vợ xảy ra không ít. Chính quyền biết thì xử, không cũng thôi.

Suốt ba chục năm sống trên núi Trọc, không ai biết tên thật của cô. Những năm sau này khi buộc phải kê khai tên tuổi làm hộ khẩu hộ tịch, cô nói là Nhềnh Thề Vềnh. Mãi đến cuối thế kỉ 20, khi viết gia phả dòng họ Tắc Vềnh, hậu duệ chép cụ bà không có tên. Nhềnh Thề Vềnh chính là Nhân Thê Vềnh (người vợ ông Vềnh). Điều đó thật sự hay suy diễn? Bà làm gì biết chữ hoặc giả bà nghe ai mà có tên ấy chăng. Suốt đời bà, quê hương không về lại, không nói năng gì đến.


... còn tiếp ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 29.5.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004