Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







GÓC LÀNG




9.



Mùa hè năm nay, thời tiết nóng hơn do hiệu ứng máy bay tăng. Ngày nào cũng có tiếng máy bay trên bầu trời hừng hực mây trắng. Tiếng máy bay địch thường đến sau tiếng kẻng báo động trên núi Voi một hai phút. Tiếng máy bay của ta nghe xa, hiền lành hơn vì bay tít trên cao. Thỉnh thoảng, có một tiếng nổ “bùng”, kèm theo vệt khói trắng vắt ngang bầu trời và tiếng may bay văng vẳng. Ở đầu vệt khói ấy lấp lánh ánh bạc. Người ta bảo đấy là máy bay tăng tốc, những chiếc Mig được đặt lên bệ phóng như tên lửa, rồi phóng đi với tốc độ cực lớn, đón đầu bọn phản lực Mỹ, vì tốc độ lớn nên có khi phi công bị ngất đi mất mấy giây ban đầu ấy chứ. Là bọn tôi hóng hớt chuyện người lớn thế, chứ có thấy đài nói gì đâu!

Dưới cây đa tám cội, ban văn hóa thông tin xã dựng một tấm pa nô cao hai mét, dài tám mét, tuyên truyền về phòng gian bảo mật, cảnh giác với bọn gián điệp mặt đất. “Đồng bào hãy thực hiện ba không để giữ gìn bí mật quốc gia”. Vấn đề ba không này, học sinh chúng tôi được hướng dẫn từ lâu, cũng dễ nhớ vì chỉ có sáu chữ “không nghe, không nói, không biết”. Nửa tấm pa nô bên trái, có hai bức biếm họa. Một bức vẽ hai vợ chồng trung niên, bà vợ thì ăn mặc đặc nhà quê, từ đó suy ra là nông dân. Ông chồng áo bỏ trong quần, đeo kính cận, trông hao hao giống bác Tạ chủ nhiệm hợp tác xã. Dưới bức tranh đề thơ:

Chồng rằng bí mật quốc gia

Chỉ nói với nhà, đừng nói với ai”.

Bức thứ hai, vẽ bà vợ kia, tuy khuôn mặt không được giống bức trước, đang ngồi rỉ tai với một bà nông dân quần đen, áo gụ, khăn mỏ quạ. Dưới lại đề thơ:

Vợ sang hàng xóm lê ngồi

Nói xong lại dặn chỉ tôi với bà”.

Tôi đi học về, ngày nào cũng nhìn vào hai bức biếm họa, không phục ông họa sĩ nào đó vẽ hai bức này. Nó vẫn chưa đủ ý. Theo tôi nên vẽ một bức nữa, có nội dung khác, là ba bốn bà ngồi lê ngoài chợ, vẫn câu chuyện bí mật quốc gia ấy, bên cạnh là một tên “gián điệp” mặc quần áo nông dân ngồi nghe, một bên tai dài ra như tai lừa.

Rồi một hôm khác, giữa hai gốc đa lớn và nhỏ, giăng qua đường tấm băng rôn đỏ chói, dán chữ vàng: “Miền Nam gọi chúng tôi đáp lời”. Thế là sắp có đợt tuyển quân mới. Tôi mong cho hết năm nay, đủ mười tám tuổi để đi bộ đội. Khí thế “vượt Trường Sơn đi cứu nước” hừng hực trong tim bọn thanh niên làng. Trong xã, hình như không có việc gì quan trọng bằng việc đi bộ đội. Những đợt tuyển quân làm xáo trộn cả trường học, cơ quan, nông thôn. Chú Đỗ, Chủ tịch xã vốn là lính nhập ngũ năm “năm chín” về, cũng mới tái ngũ. Thay chú Đỗ giờ là chú Thực, người bé bằng bó mạ nhưng tiếng thì vang như ễnh ương.

Thu gửi thư cho tôi, lá thư viết bằng mực tím trên giấy nứa một mặt mà chữ khá đẹp. Nó trách tôi chóng quên, sáng đi học, chiều vẫn nghỉ mà không thèm gặp nó. Tôi chọn cuốn vở kẻ ô định viết thư, xong lại tiếc. Giấy rất hiếm, bọn học sinh vẫn được mua mỗi đứa bốn tập giấy vào đầu năm học, loại giấy làm bằng nứa, vàng khè, một mặt nhẵn, một mặt ráp. Tôi được ông anh họ đang học ở Ru-ma-ni-a về chơi cho một cuốn tập trăm trang, để dành làm Sổ tay văn học. Bây giờ mà xé ra một tờ, sẽ lãng phí một tờ nữa. Tôi sẽ viết thư trả lời cho Thu, cũng bằng loại giấy nứa, nhưng chữ thì xấu hơn vì ngòi bút Trường Sơn của tôi bị mòn. Tôi không còn được đi chăn trâu nữa, đã có em Minh mười hai tuổi. Ở nhà, tôi đã thành lao động chính, sáng học, chiều theo công điểm. Bác Thọ đội trưởng sản xuất không có cớ để bình điểm thấp cho tôi nữa. Tôi theo công điểm với bầm từ năm mười bốn tuổi, nhưng lúc nào cũng bị coi là trẻ con, chưa bao giờ được chấm quá bảy điểm. Những buổi làm cỏ sắn chân núi Voi, dù tôi và cái Hoa có tích cực đến đâu, cũng không bằng điểm mấy bà nạ dòng vừa làm vừa tán phét. Tôi thích đi làm công điểm vì vui và nhàn, không như việc nhà bị ép như ép mía. Làm tập thể rất khoái, không đi đâu mà vội. Sáu giờ kẻng gõ keng keng, bác Thọ đội trưởng đi trước một vòng, thông báo miệng. “Hôm nay làm mương nhá!”, hoặc “Hôm nay trồng lạc nhá!”. Mọi người lục đục kéo nhau ra ngồi tụ tập dưới gốc đa, dụng cụ lao động kê ngay dưới đít. Cũng phải bảy giờ, đội trưởng mới tập trung đủ người, nhìn lực lượng mà phân công việc, sau đó rồng rắn đi làm. Chín giờ, một ông trung niên nào đó hô:

- Làm điếu thuốc đê... ê... ê!

Bác Thọ đứng lên chỗ cao, hét:

- Giải lao mười phút nhá!

Thường thì người ta kéo vào nhà nào gần đấy, rộng rãi, có nước uống, có điếu hút thuốc lào. Có hôm làm mương gần nhà tôi, cả đội kéo vào vật ba quả mít chín ra, ăn căng rốn. Cuộc giải lao không bao giờ đúng mười phút, mà kéo dài tới nửa giờ. Ra làm được một lúc, là tới mười giờ, lại lao nhao nghỉ. “Chiều vẫn chỗ cũ nhá”. Bác Thọ tuyên bố thế, rồi ngoay ngoảy về trước.

Bữa tối, em gái tôi bảo:

- Mai thứ năm, em phải lao động chiều, anh Cu chăn trâu nhé.

Tôi định chối, đùn cho bầm, rồi sực nhớ tới lá thư của cái Thu, nên đồng ý. Tan học về, tôi tranh thủ đạp xe tìm lớp cái Thu, nó đang cãi nhau với mấy thằng bạn học.

- Tớ nói các cậu đừng buồn. Cái Thu này không bao giờ thèm đổi ghế nhé. Ghế gãy thì ngồi ghế gãy. Có gì đâu!

Thằng bạn thấp hơn cái Thu một cái đầu, da sần sùi cóc ghẻ rôm sảy, loi choi chỉ tay vào trong lớp.

- Cái ghế của bọn tao, có đánh dấu phấn phía dưới hẳn hoi, không lẫn đi đâu được. Cả bàn năm đứa ngồi, bốn đứa kia đều bảo hỏi cái Thu ấy, bọn tao phải hỏi thôi.

Chuyện ghế bàn nọ đổi qua bàn kia, lớp nào chẳng có. Nhưng thường dính vào mấy bàn nam. Chúng nó nhảy nhót quá đà, làm gãy ghế, thế là tranh thủ đi thật sớm, đổi ghế của bàn khác. Bàn nào không đánh dấu ghế, vô tang chứng, coi như thua. Ở lớp cái Thu, tình trạng này lại rơi vào bọn con gái. Tôi gọi:

- Thu ơi! Ra tớ nhờ tí.

Cái Thu có cớ thoát bọn kia, liền chạy ra. Tôi đưa nó lá thư, cười thật dễ mến, rồi đạp xe đi luôn.

Chúng tôi hẹn nhau ở đồi trẩu cũ. Mười bảy tuổi, dắt con trâu cà nghềnh ngàng ra rừng, tôi hơi ngượng. Cái Thu cũng thế, vì nó không còn phải đi kiếm củi. Cả hai, chưa thành người lớn, đang làm công việc của trẻ con, vậy mà lén lút như ăn trộm. Tôi đánh trâu đến một lúc, ngồi buồn lấy dao nhíp khắc ngày tháng năm lên thân cây trẩu. Tí nữa cái Thu đến, tôi sẽ khắc cả hai chữ T-B, như một trò chơi lãng mạn. Chờ lâu quá, tôi trèo lên cây bứa, chọn những quả chín vàng, bửa ra ăn. Quả bứa lúc xanh chua loét, nhưng lúc chín ăn ngọt và chua dịu. Bọn con gái khoái ăn thứ này, tôi chọn mấy quả chín nhất, phần cho Thu.

Một mình tha thẩn, vừa ngóng bạn, vừa trông chừng con trâu bén mảng đến bãi sắn. Có một bầy chim chào mào bay từ cành nọ sang cành kia. Đó là gia đình nhà chim, gồm vợ chồng chào mào và hai chim con mới ra ràng. Chúng đang tập bay, một con chới với suýt rơi xuống đất, chim mẹ liệng theo nâng cánh chim non gượng vút lên. Tôi mơ màng nhìn theo lũ chim, loáng thoáng nhớ lại chuyện thằng Dũng làm nhục cái Thu cách đây hơn một năm. Từ hồi thằng Dũng bỏ học về theo công điểm, tôi giao con trâu cho em gái, thì hai thằng ít gặp nhau. Chỉ có cái Thu là lớn phổng lên, lớn bằng chị Nguyệt hồi ở nhà. Chị Nguyệt mới lại viết thư về. Tối nay tôi sẽ viết thư cho chị, viết một mình thôi, chứ không cho cái Phúc gửi chung nữa. Con bạn tôi chỉ được cái to xác, còn viết thư và nói chuyện chán phèo. Một viên sỏi từ cành trẩu văng lên bụng tôi. Tiếng cười của cái Thu liền ngay đó làm tôi không giật mình:

- Làm gì mà mơ mộng thế?

Tôi nhảy xuống đất, cười khì:

- Đang mơ được bố cưới vợ cho, để có người đi chăn trâu thay.

Cái Thu nhẹ nhàng phủi vai áo cho tôi, bĩu môi.

- Hỉ mũi chưa sạch, ai người ta thèm lấy.

Tôi dựa vào gốc trẩu, nắm lấy bàn tay Thu, nó không nói gì, chỉ quay người lại dựa vào tôi, hai bàn tay vẫn nắm chặt nhau, nhưng giờ cánh tay tôi đã choàng qua bụng Thu.

- Bà già bên nhà đã quên chuyện đánh ghen chưa?

Tôi biết Thu hỏi chuyện bầm tôi và cô Xuân. Không biết bầm tôi quên chưa, còn bố thì ít thấy nhắc đến tên cô Xuân. Tôi biết chuyện này bố bị oan.

- Bầm tớ chỉ ghen vớ vẩn. Hai ngày đào hầm bên ấy, tớ và thằng Dũng đều có mặt, thấy gì đâu?

Giọng Thu hơi trầm xuống, buồn:

- Mẹ mình lạ lắm! Cứ như là đói khát ấy. Có những chuyện chị em mình thấy, mà phải làm ngơ.

Tôi nắm vai Thu, quay mặt nó lại. Nó ngượng, hai tay đẩy lên ngực tôi, nhích người ra. Tôi bảo nó hãy thương bà mẹ. Cô Xuân cực khổ nuôi ba đứa con, một mình chèo chống, biết nhờ cậy vào ai.

- Bầm tớ không đảm đang được như cô Xuân đâu. Công việc toàn trút lên đầu bố với bà nội. Tớ thương bố lắm, nhưng cũng không dám trách bầm.

Thu đứng dựa hẳn đầu vào ngực tôi, thủ thỉ:

- Mình muốn có một ông bố, mà khó quá.

Bụng Thu ấp vào bụng tôi, phập phồng. Tôi hỏi Thu, giọng tự nhiên khàn đi, như trúng gió.

- Có cần tớ bẻ củi nữa không?

- Không! Hôm nay không cần. Lần trước bẻ củi giúp, chưa cám ơn, bây giờ... cho hôn một cái đấy!

Tôi hơi choáng váng vì lời đề nghị táo bạo của Thu, nhưng cũng không để mất cơ hội, liền hôn lên má nó. Má Thu mịn và nóng, tôi muốn cắn vào đó. Nó lại thì thào bên tai tôi:

- Không hôn kiểu ấy! Hôn kiểu Liên Xô cơ.

Kiểu Liên Xô là kiểu gì? À! Biết rồi. Giống trong phim Liên Xô chứ gì, là đôi nam nữ gắn môi vào nhau. Thu đang gục đầu trên vai tôi, phải dùng hai tay kéo mặt nó ra, đặt môi lên miệng nó. Một tiếng rít xé toang bầu trời, làm hai đứa ôm chặt lấy nhau, nhưng hai cặp môi thì vội rời ra. Tiếng kẻng trên núi Voi lúc đó mới vội vã vang lên. Chiều nay, máy bay Mỹ đột nhập từ phía tây sang, bay thấp theo khe núi, nên đội gác máy bay bị bất ngờ. Tôi vừa lỏng vòng tay, còn nghe tim cái Thu đập loạn trên ngực mình, thì tiếng rít máy bay và tiếng nổ rầm, chát chúa. Phía gốc đa làng, khói đen cuồn cuộn bốc lên.

- Bom lại ném vào làng rồi Thu ơi!

Mái tóc ngắn hất văng, quất trúng mắt tôi nhức xót. Thu quay ngoắt lại, chạy về hướng khói đen. Tôi nhào theo, kéo nó lại:

- Đừng về! Chờ hết máy bay đã. Nguy hiểm lắm.

- Giời ơi! Mẹ giao cho tớ hai đứa em...

Tôi hiểu nỗi lo sợ, hoang mang trong ánh mắt Thu. Đánh cho con trâu chạy trước, hai chúng tôi vừa chạy theo vừa vấp ngã. Đến gốc đa tám cội, thấy mọi người đổ ra đông nghẹt. Tiếng đàn ông quát lên:

- Giải tán! Giải tán ngay, ai về nhà nấy. Nó quay lại bây giờ là chết cả lũ. Giải tán!

Máy bay địch bắn một quả rốc-két xuống gốc đa. Cũng may, đang nửa chiều, chứ đang buổi trưa hay chiều tối, thế nào cũng có người ra ngồi gốc đa. Tôi đánh trâu về ngang dộc Mèo, gặp thằng Dũng chống cuốc đứng bên đường, quần cộc lấm bùn. Nó nhếch mép, nhổ nước bọt:

- Đồ đạo đức giả! Tưởng thế nào, cũng lừa lọc, ôm con người ta. Hôm nay không có máy bay, xong đời cái Thu rồi chứ gì?

Tôi ngạc nhiên. Sao thằng này nó biết nhỉ?

- Mày rình tao hả Dũng?

- Việc gì tao phải rình! Tao đi xem bộ mặt thật của mày thôi.

- Tao thì... đấm vào mặt mày bây giờ.

Nó lại nhổ nước bọt, vác cuốc đủng đỉnh ra về, ném lại lời dọa nạt.

- Mày cứ chờ đấy. Tao sang nói chuyện với bà Xuân, rồi tha hồ mà đấm.

Tôi lo thắt ruột. Chuyện này hở ra thì gay. Bố đánh tôi không sợ, chỉ sợ loang tiếng ảnh hưởng tới cả tôi và cái Thu, nhất là không biết nói thế nào với cái Phúc. Thằng này… Thế mà hai đứa đã từng là bạn thân đấy. Tôi nuốt giận, âm thầm trong đầu một kế hoạch.


***


Đợt tuyển quân này, hơi đột xuất. Huyện đội công văn xuống gấp quá, thông báo trong tháng mười phải có bốn tân binh, hoặc một nửa tái ngũ cũng được. Anh em phục viên, lính nghĩa vụ thời “năm chín, sáu mươi” có còn ai khỏe mạnh đâu. Cậu Đỗ, Chủ tịch là trẻ nhất, vừa tái ngũ hồi đầu năm. Bây giờ cố lựa chọn cũng còn khoảng chục người, lại đang đảm nhiệm việc này, việc kia ở xã, đi hết thì ai làm. Mình năm nay gần năm mươi tuổi, không thì cũng xin đi cho yên thân. Ở nhà, tiếng là hậu phương an toàn, nhưng biết bao nhiêu việc lao tâm, khổ tứ. Thằng cu nhà mình năm nay mười bảy, chẳng lẽ lại động viên con nhập ngũ cho đỡ rát mặt.

Buổi chiều bí thư đảng ủy triệu tập họp gấp.

Phòng làm việc của bí thư xấu nhất trong các phòng của trụ sở ủy ban, tường trát tốc xi vỡ từng miếng, lòi ra cốt tre và rơm trộn đất. Bàn ghế khập khiễng, mối mọt. Cửa sổ cánh còn, cánh mất, tủ tài liệu cũng chỉ còn một cánh, trơ ra ngăn bên trái xếp đầy những cặp hồ sơ, giấy tờ, báo chí. Bí thư chỉ tay cho mọi người cùng ngồi. Chủ tịch xã; mặt trận tổ quốc; xã đội; công an; phụ nữ; doàn thanh niên... nhìn qua nhìn lại thấy đủ mặt.

- Văn phòng chưa có nước, ta chờ tí nhá. Bây giờ tranh thủ hội ý với các đồng chí một việc quan trọng. Còn ba hôm nữa là giao quân, nhưng cách đây một tuần xã nhận được giấy báo tử của đồng chí Phùng Quang Ninh, con ông Phùng Hữu Phú, đội sản xuất số bảy. Các đồng chí bên mặt trận thì muốn tiến hành làm lễ truy điệu ngay, kẻo tin tức đến tai gia đình thì rất phức tạp. Theo đề nghị của bên xã đội, nên lùi lại mấy hôm nữa, chờ giao quân xong rồi xã báo tử. Ý kiến các đồng chí thế nào?

Chủ tịch mặt trận xã, là ông Thành tóc bạc, người hom hem như bị bệnh ho lao, có ý kiến trước:

- Thưa các đồng chí! Trong khí thế tiến công của cả nước. “Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà”, chúng ta đang thắng giặc trên cả ba mặt trận chiến đấu, sản xuất, ngoại giao. Thanh niên xã nhà hăng hái ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu...

Xã đội trưởng là người nóng tính, bèn chặn họng:

- Thôi ông ơi! Dài dòng văn tự, không có thời gian đâu. Bây giờ ông đồng ý báo tử hay không?

Ông Thành bực bội, mái tóc bạc húi cua dựng ngược lên:

- Thì cũng để cho người ta có vài lời đã chứ...

Ông Thực, Chủ tịch xã cất giọng oang oang.

- Tôi đồng ý với đồng chí xã đội trưởng, nên bàn ngay vào việc. Theo tôi, việc nào đi việc nấy, không việc gì phải giấu. Giờ ta tổ chức báo tử làm lễ truy điệu cho đồng chí Ninh thật trọng thể, xong tổ chức đưa tiễn tân binh lên đường nhập ngũ. Để anh em tân binh biết chuyện này, cũng là nâng cao lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu.

Mọi người nhìn nhau, với những ý nghĩ không hẳn là giống nhau. Mình biết có nhiều điều lo lắng trong lòng mọi người, nhưng không dám nói ra. Nhà mình đã có chú Danh hy sinh, nên rất hiểu tâm lý của người hậu phương. Nhưng nỗi đau đến rồi, thì cứ để nó đau. Đau trước hay sau thì cũng thế thôi. Có lẽ nên tổ chức báo tử sau khi giao quân thì hay hơn. Mình đứng dậy.

- Thưa các đồng chí! Là thân nhân liệt sĩ, nên tôi rất thông cảm với ý kiến của xã đội trưởng. Theo tôi, các đồng chí lãnh đạo đảng và chính quyền xã nên trực tiếp đến thông báo trước, và làm công tác tư tưởng với gia đình liệt sĩ Ninh. Để cho địa phương tiễn đưa tân binh xong, rồi sẽ tổ chức báo tử.

Mình nghe có mấy tiếng thở phào, đồng ý. Cô Lụa còn kín đáo lau nước mắt. Ông Thành mặt trận lần này đứng hẳn dậy.

- Tôi nhất trí với ý kiến đồng chí Hoành. Lúc nãy tôi cũng định nói thế mà các ông chặn họng.

Mọi người cười ồ, xóa đi không khi căng thẳng. Ông Thực phấn khởi ra mặt.

- Có thế mà nghĩ không ra. Ngày mai, tôi và đồng chí chính trị viên xã đội sẽ đến gặp gia đình liệt sĩ. Đồng chí Lụa bên phụ nữ đi cùng nhá. Bố trí cho ấm trà uống đi đồng chí bí thư ơi. Gớm! Đảng ủy gì mà hà tiện quá.

Ngày tháng mười chưa cười đã tối”. Sáu giờ chiều trời xâm xẩm, không nhìn rõ mặt người. Cơm vẫn chưa dọn ra, thằng cu còn chúi mũi trên cuốn vở trắng. Xem kiểu mím môi, mím miệng, nắn nót từng chữ kia, khéo viết thư cho gái. Năm nay mới mười bảy mà nó lộc ngộc như con trâu nghé.

- Lại viết thư cho gái hả cu?

Bị bố bợp lên gáy, thằng cu hơi chúi xuống, rồi ngẩng đầu lên, nhăn nhó:

- Vâng!

- Mày nói đùa hay nói thật đấy?

Mình nóng tiết cầm cái se điếu lên, định vụt. Nó không né tránh như mọi lần, mà chìa tờ giấy trắng có dòng kẻ ra:

- Con đang viết thư cho chị Nguyệt. Chị ấy đang làm đường ở Hà Tĩnh, gian khổ lắm. Đơn vị thanh niên xung phong của chị ấy vừa hy sinh mất sáu người bố ạ.

- Thế à! Con Nguyệt nhà ông Hữu chứ gì. Mày viết thêm là cho bố gửi lời thăm sức khỏe, chúc chị ấy tiến bộ nhá.

- Vâng!

Bà mọ nhà mình hôm nay ngồi buồn, không chịu ăn cơm.

- Mọ thấy mệt trong người à?

Chiếc cối giã trầu nghí ngoáy trong tay bà mọ, lá trầu, cau tươi, dễ trảy và vôi đã giập nát, tạo thành màu đỏ lươm tươm. Vét hết miếng trầu, bỏ vào miệng, bà mọ than thở:

- Bầm có mệt mỏi gì đâu. Trưa nay sang nhà Phú chơi, nghe bố nó kể chuyện mấy hôm trước có con cú mèo bay vào đậu trên đầu giường, đuổi thế nào cũng không bay đi. Thằng bố Phú đập chết, đem chôn, sợ điềm gở. Bầm không nói ra, sợ nhà nó lo lắng, chứ cú mèo vào nhà là độc lắm. Có tang chứ không bỡn đâu. Nhà nó lại có thằng bé Ninh mới đi bộ đội năm ngoái, lo lo là.

Vừa nghe bà mọ nói xong chuyện cú mèo, suýt nữa mình buột miệng báo tin dữ.

- Mọ cứ nghĩ ra thế. Mê tín dị đoan. Cứ cú mèo vào nhà thì có tang à?

- Chứ không ư! Hồi thằng Dại em mày hy sinh, cũng có con cú mèo đậu ngoài chuồng trâu. Các con không biết, chứ từ ngày còn nhỏ, bầm đã thấy chuyện này rồi.

Ngồi trên chiếc chổi rơm cùn, bà mọ tựa lưng vào tường, vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa kể câu chuyện thời xa lắc, xa lơ.

Ngày ấy bầm mười lăm, mười sáu gì ấy. Nhà ông ngoại bầm, tức là cụ ngoại của bố thằng cu ấy, có ba chị em, cậu thứ hai ngang tàng lắm. Nhà gần rừng, ông bảo cậu hai:

- Đi rừng cũng phải chọn cây mà chặt. Cây nào đến tuổi thì lấy, cây nào còn bé phảỉ để lại dưỡng cho nó ấm rừng. Tôi thấy anh chặt bừa bãi lắm, nhìn cây anh mang về mà xót ruột.

Cậu hai cằn nhằn:

- Bố dở vừa thôi. Rừng chung, không chặt thì người khác cũng chặt mất.

Thời ấy rừng còn là của chung, có ai quản lý như bây giờ, vì thế mạnh ai nấy chặt. Đến như ông ngoại nói con trai còn không nghe cơ mà. Nhà ông ngoại dựng toàn bằng gỗ tốt, tường cũng lịa bằng ván vàng tâm. Nhà bếp thì đơn giản hơn nhưng cũng xẻ từ những cây gỗ già hạ trong rừng sâu. Sau này, cậu hai đụng gì cũng chặt, chuồng lợn chỉ cần chục cây bương là xong, mà cũng dùng tới gỗ, toàn những cây bằng cổ tay, cổ chân. Dùng một năm thì mối mọt cũng xơi hết, lại tiếp tục vào rừng chặt nữa. Hàng rào quanh nhà, ông ngoại bảo chặt nứa về ken dày vào cũng được, cậu hai lại thích rào bằng gỗ rừng, chẳng là khu rừng tái sinh gần nhà, dễ kiếm.

Khu rừng phía sau nhà, chênh vênh sườn núi gọi là dốc Trượt. Trên sườn dốc có cây sao chừng một người ôm, cậu hai rất muốn chặt về đục làm cối giã gạo, nhưng ông ngoại bảo, từ lâu lắm trên chạc ba cây sao có cái hốc nhỏ, là tổ của vợ chồng chim cú mèo. Chim nó có tổ cũng như mình có mái nhà, đừng phá. Cậu hai bảo chị gái:

- Bố chỉ vẽ chuyện. Chim chóc thiếu gì chỗ làm tổ, mình chặt cây sao, nó khắc vào rừng tìm cây khác.

Lần ấy ông ngoại nổi cáu, cầm con dao thái chuối lên dọa.

- Thằng đầu bò! Ương gàn cho lắm vào rồi thiệt đời.

Cậu hai bí mật chặt cây gỗ và còn bắt được con chim cú mèo cái. Giống chim cú chỉ tinh về đêm, ban ngày chậm chạp lắm. Cậu đem về vặt lông nướng nhắm rượu. Xong rồi ông ngoại mới biết. Ông chửi suốt một ngày, cấm cậu hai bén mảng vào rừng. Nghe bố dọa, lúc đầu cậu hai cũng hơi sợ, không dám vác rìu, chỉ quanh quẩn ở nhà cuốc vườn, cho lợn ăn. Gần hai chục ngày trôi qua không thấy động tĩnh gì, cậu lại lăm le vào rừng. Thăm dò biết cây sao đã khô hết lá, cậu chuẩn bị mang về nhà. Hồi ấy, bầm có theo cậu út vào dốc Trượt, tận mắt nhìn thấy cây gỗ sao nằm vật, hai ngọn cây hình chữ V quay xuống dưới sườn núi. Một chiều cuối đông, cậu hai trốn ông ngoại, vác rìu đi. Cậu đến chỗ cây sao bị đổ, bắt đầu đốn ngọn nhỏ bên trái, xong quay sang chặt ngọn to bên phải. Hai cành ngọn vừa đứt, không còn vật cản nữa, cây sao bất thần lao xuống, cậu hai đứng giữa chạc ba không tránh kịp, bị cây đè ngã, đẩy xuống phía dưới.

Ở nhà, bà ngoại ngồi trước sân thái cây chuối cho lợn, tiếng dao sắc xoèn xoẹt đưa đều, từng lát chuối mỏng tơi tả rơi xuống nong. Bỗng bà ngừng tay dao, vì vừa nghe ba tiếng cú kêu rùng rợn ngay sau lưng. Ngoảnh lại, thấy con cú mèo đực đang bám chặt vào cây chuối, lắc lư theo nhịp cây xoay đi, xoay lại. Nghe tiếng bà ngoại kêu, ông ngoại chạy ra và biết điềm gở đã đến, ông cầm dao phay chém rụng đầu con chim cú. Cái đầu nó văng ra sân, mắt mở trừng trừng, nhưng hai chân có vuốt sắc vẫn bám chặt thân cây chuối dưới đất. Ông ngoại hốt hoảng gọi cậu hai, không có tiếng trả lời.

- Ba hồn bảy vía thằng Cò (ở nhà tên cậu hai là Cò) ở đông, ở tây, ở nam, ở bắc thì về nhá.

Chỉ có tiếng từ rừng vọng sang uôm uôm. Ông ngoại giục mọi người trong nhà đập nứa khô bó thành mấy bó đuốc, nhờ hàng xóm vào rừng tìm người. Đường vào khu rừng có cây sao hơi xa, nhưng tìm cậu không khó lắm. Cậu bị cây đẩy xuống mãi chân vực, hai cành cây kẹp vào cổ cậu, làm lưỡi thè lè trông rất ghê sợ. Mọi người xúm vào khiêng cây sao ra, đỡ thân thể tướp táp của cậu hai lên. Ông ngoại không tài nào vuốt mắt cho con được, khóc ầm lên, phát đen đét vào mông người chết.

- Con ơi là con ! Đồ bất hiếu. Bố đã bảo rồi mà con không nghe. Cái nợ với rừng, ai cũng cố tránh mà con thì đâm đầu vào.

Cả nhà tròn mắt nghe bà mọ kể chuyện xưa, quên cả ăn cơm. Nếu có chuyện ấy thật, thì cũng nên để ý xem có chính đến đâu. Mình cố nhịn mà không được, bèn nói với bà mọ:

- Thằng bé Ninh nhà bác Phú cũng mới hy sinh bầm ạ. Có giấy báo tử mấy hôm nay rồi.

Bà mọ nín thở, chắp tay trước ngực, miệng niệm A di đà phật. Mình cố vớt vát:

- Nhưng mọ với nhà con không được nói với ai đấy. Để xã làm lễ truy điệu đã.

Ngọn đèn ba dây bỗng phừng phừng bốc lên. Tiếng con thạch sùng chắt lưỡi mải miết trên tường nhà.

Thằng cu bốc mấy hột cơm dán lá thư. Bỗng nó quay sang bảo:

- Sang năm đủ tuổi, cho con đi bố đội bố nhá!



10.


Thằng cu ăn vội mấy củ sắn luộc, nhảy tót ra sân kho. Anh chàng có vẻ thích việc hợp tác, lấy điểm. Thôi thế cũng tốt, có người đỡ đần thêm bầm nó, chứ mình suốt ngày xe đạp, cơm nhà vác tù và hàng tổng. Nhưng cũng phải đe nẹt tính tham lam của thằng con, giống hệt mẹ. Mấy hôm trước, xem sổ điểm, thấy nó gánh phân có mã tới chín mươi cân. Khiếp quá. Tham mấy điểm, gãy xương một cái là khổ. Mình có nói chuyện ấy với lão Thọ đội trưởng, nhờ lão nhắc nhở bọn thanh niên, lao động nhưng còn phải giữ sức khỏe, để cơ thể phát triển. Lão nghiện rượu cười bí hiểm.

- Anh không lo chuyện ấy! Tôi làm theo cách của tôi, miễn sao xã viên có ăn là được.

Khi mình đạp xe đi ngang sân kho, đã thấy lúa gặt về rải thành vòng tròn, ba trục lăn trâu kéo chạy lộc cộc. Dựng xe ngoài bụi tre, vào kho tìm lão Thọ, nhưng không thấy, chỉ có cô Tình thư kí đội đang cân lúa. Những gánh lúa kìn kìn gánh từ đồng về. Đã có mức khoán rồi, gặt lúa một sào được hai lăm điểm. Gánh lúa từ đồng về sân kho, xa thì mười điểm, gần thì sáu điểm một tạ.

- Ông đội đã ra chưa cô Tình?

Cô nàng “gái ba con” khăn trùm kín mặt, chỉ hở đôi mắt, lắc đầu. Cái Thu nhà cô Xuân kĩu kịt một gánh lúa ướt, đặt phịch xuống trước sân, nhanh tay rút ba tay lúa ở quang sau nhét lên quang trước.

- Cân cho cháu đi cô. Còn nhiều lắm!

Móc cân ngoắc vào bên quang trước. “Ba bảy!”. Cô Tình xướng nhỏ. Ba mươi bảy, có nghĩa là gánh lúa nặng bảy mươi tư cân. Chà chà. Bọn này cũng gian lận ghê. Thảo nào thằng cu nhà mình gánh phân tới chín mươi cân, chắc là một bên quang ba mươi cân, một bên bốn lăm cân.

Ba con trâu, chân nhảo bước, miệng tranh thủ vơ từng nắm lúa nửa xanh, nửa vàng. Theo quy định của hợp tác xã, mỗi khi lăn lúa phải đeo rọ mõm cho trâu, tránh lãng phí rơm lúa. Lão Thọ bảo thế thì ác quá, con trâu là đầu cơ nghiệp, nó làm nặng nhọc, ăn vài miếng của tập thể bõ bèn gì. Nhưng lũ trâu mà vừa ăn, vừa làm, mất thì giờ lắm. Hai bà nạ dòng đủng đỉnh rong trâu, thỉnh thoảng quất một roi lên mông đít, làm con trâu chạy lồng lên mấy bước rồi lại gằm mặt xuống cạp rơm. Thằng cu nhảy lên trục lăn, chân dạng ra đứng bám vào hai thành trục, tay cầm chạc trâu, tay cầm roi. Mình phải nhắc:

- Bình! Cẩn thận đấy!

Nhóm trở lúa bắt đầu ra sân với những chiếc dĩa sắt bốn răng nhọn hoắt, cán bằng tre đực. Từng lượt rơm được lật lên. Lượt trên đã trơ cọng rơm, chỉ còn lơ thơ mấy hạt lúa lép. Lượt dưới hạt lúa còn bám dày trên bông.

- Các cô, các cậu trục cho kỹ rồi hãy ra rơm nhé! Hôm qua chia rơm, về nhà tớ đập mãi mới hết lúa sót đấy.

Những tiếng khúc khích cố nén. Một đứa hét lên trong tiếng trục lăn.

- Bác Hoành cứ ngồi tâm sự với chị Tình đi. Chị ấy vừa mua cái su chiêng mới đấy.

Bọn nó cười tung sân lúa chật chội. Láo toét. Lão Thọ ở đâu về, mặt đỏ hăm hia, chắc vừa xúc miệng dăm chén.

- Chào xã đội! Đi đâu mà lạc vào đây? Lại dòm cô Tình chứ gì!

- Hớ hớ hớ! Em nói có sai đâu.

Mình kéo lão Thọ ra góc sân, nói nhỏ:

- Bí mật quốc gia! Tôi chỉ nói với ông thôi đấy. Bảo anh em nó rơm lúa cẩn thận, đừng bỏ thóc vào đống rơm chia cho các hộ nữa. Lão Tạ chuẩn bị cho kiểm tra chéo đấy.

- Các lão ấy làm láo, báo cáo hay. Phơi lúa thì không cho phơi khô hẳn, quạt lúa cũng không cho quạt kỹ, còn đầy trấu mà đem chia cho xã viên, có phải thiệt thòi cho bà con không? Lão Tạ muốn có năng suất cao để lấy thành tích, tớ làm dối để bù lại thiệt thòi cho xã viên. Anh mà báo cáo với họ, nhà anh thiệt trước.

- Chịu các bố! Làm ăn phức tạp bỏ mẹ.

Bà mọ Bích tay cắp chiếc dành, mon men gần mấy đống rơm vừa hất ra, cả thảy mười lăm đống, tức là chiều nay có từng ấy nóc nhà được chia rơm.

- Bác Thọ cho nhà cháu xin nắm rơm lót ổ gà nhá. Nhà không có người theo công điểm, chẳng được chia cọng rơm nào.

- Gà nhà mọ nhiều thế. Hôm nào cũng đẻ?

Bà mọ cười, hàm trên chỉ còn toàn lợi đỏ hỏn, ôm một nắm rơm to, cố nhét vào dành, thóc rơi ra lả tả. Lão Thọ bắt đầu to tiếng.

- Đất đồi núi, quanh năm mưa nắng đều trông ở trời, thủy lợi thì bị động. Thế mà kỳ đại hội xã viên nào, lão Tạ cũng quyết bám năng suất ba tấn tám một héc ta. Có mà cân cả rơm lên.

Mình vỗ lên tấm lưng gầy nhô xương sống của con trâu.

- Nói bé chứ! Lần họp thường vụ tới, tôi nhất định đưa vấn đề này ra.

- Không ăn thua đâu! Có mấy tay cũng to mồm, bảo đến đại hội xã viên sẽ thế này thế kia, cuối cùng pháo tịt hết.

- Ông bạn rượu ơi. Tôi hứa sẽ nói đấy, trước thường vụ đảng ủy hẳn hoi. Chứ cơ chồi này, chết dân. Ai lại lúa chia về nhà, vừa ẩm, vừa trấu. Phơi khô quạt sạch cho vào bồ cót, mỗi tạ chỉ còn tám lăm cân, hao mười lăm phần trăm. Rồi lúc giao nộp nghĩa vụ lương thực, lúa không sạch ai người ta nhận cho? Lão Thọ bảo cứ làm thóc dối, chia lúa cho xã viên thì cân tươi lên mỗi mã vài cân. “Tôi chả sợ bố con thằng nào! Chẳng làm thì về nuôi gà”. Hôm nay lão mạnh mồm tuyên bố. Mình bới thử một đống rơm, bên ngoài lúa còn dối đã đành, bên trong đổ lẫn cả thúng thóc. Thảo nào bà mọ Bích mỗi hôm xin một dành rơm, về rũ ra, đập lại khéo cũng hai lạng thóc.

- Anh nghe chuyện lão Tạ chưa?

- Chuyện gì?

Lão Thọ phì vào mặt mình hơi rượu nồng nặc.

- Lão ấy đang chuẩn bị xây nhà. Gạch chở về rồi.

Ghê nhỉ! Cả làng toàn nhà lá vách đất, chủ nhiệm có được nhà xây là hách rồi. Nhưng đừng có tham ô mà chết. Quái, mấy tay đội trưởng sản xuất còn thính hơn bọn mình nhỉ. Cứ như lão Thọ kể, thì Xí nghiệp Quyết Thắng đổi cho hợp tác xã mười vạn gạch lấy một tấn thịt lợn hơi. Lão Tạ ghé thêm hai vạn là mười hai vạn, chở thẳng về nhà. Tay này gớm thật, khôn như rận. Mấy năm nay, cái gì lão Tạ cũng nhất làng. Đi xe favorit Tiệp, nghe đài orionton của Hung, giờ lại xây nhà ngói. Có ai bảo lão tham ô, thì cũng chẳng có chứng cớ gì. Bên kiểm soát họ chẳng có ý kiến, mình biết gì mà nói. Thôi, chuyện nghe thì biết vậy. Bây giờ ông nhắc nhở xã viên làm cho cẩn thận, kín đáo. Lão Tạ hay mấy cậu kiểm soát đi qua là ông chết.

- Chết làm sao được tớ! - Lão Thọ làu bàu.

Tiếng trục lăn kêu ầm ầm, rồi tiếng kêu hốt hoảng của mấy người phụ nữ.

- Họ trâu! Họ trâu lại!

Mình quay lại nhìn, thấy thằng cu ngã chỏng vó bên cạnh cái trục gỗ và con trâu đực. Chết thôi con ơi! Tao đã lo lắng khi thấy mày đứng chênh vênh trên cái trục lúa rồi. Mình ném chiếc xe Phượng Hoàng đổ kềnh, làm lão Thọ suýt xoa vì xót.

- Có sao không?

Thằng bé nhăn nhó, lắc đầu. Mãi mới đứng được dậy, tập tễnh.

- Sư bố mày! Nhăn như khỉ ăn gừng, lại không đau?

Nó bị ngã trỗ đít xuống cái trục răng khế, may không bị gãy chân. Mày đau chỗ nào? Chỗ xương cụt chứ gì! Ông thì quật cho mày một trận chứ cẩu thả. Lão Thọ vạch đít thằng cu ra kiểm tra, nó xấu hổ kéo quần lên.

- Để yên bác xem nào. Nó chơi đúng lỗ đít, đau phết đấy. Anh về bẻ nắm lá chè xanh, đun lên để nguội, cho cháu nó ngồi vào ngâm.

Định bảo thằng cu ngồi lên sau xe, bố đèo về, nó lắc đầu. Chắc đau không ngồi được. Thế thì đi bộ nhá, mấy nhảng chân chứ gì. Dựng xe trước hè, mình phát hiện bên đùi đĩa bị sước. Lúc thằng cu bị ngã, cuống lên mình ném cái xe xuống, bây giờ lớp mạ trắng bạc bị một vết cào, xót cả ruột.

- Bầm nó bẻ cho tôi nắm chè tươi, đun lên nhá!

- Hôm nay anh uống chè xanh à?

- Không! Cho thằng cu nó ngâm đít. Vừa ngã ngoài sân kho, tí nữa trục lúa đè chết rồi.

- Ối mèo! Thật thế hử? Cháu ơi là cháu ơi!

Tiếng bà mọ rên rẩm bên thúng rau lợn, rối ruột. Thằng cu tập tễnh bước vào sân, bà nội vứt dao chạy lom khom, lại kêu: “Ối mèo ơi!”. Bầm nó cầm nắm lá chè, chỉ liếc qua vẻ mặt con trai, hỏi:

- Có sao không? Rõ đồ bị thịt!

Mình muốn vả vào mặt vợ. Đồ đàn bà vô phúc. Con nó đau đến đi không được, mà nó còn rủa.

- Đi đun nước nhanh lên! Nãy giờ loanh quanh mãi không xong.

Cái Thu nhà Xuân chân thấp, chân cao, ở đâu chạy vào, vẻ mặt lo lắng.

- Bác ơi! Bình có sao không ạ?

- Cũng chưa biết! Nhưng chắc là đau đấy.

Con bé xán ngay lại gần thằng cu, ân cần:

- Bị thương ở đâu? Tớ xem nào. Hay là đưa Bình lên trạm xá đi bác?

Vợ mình mặt hầm hầm, tay vẩy mạnh nắm lá chè, bước tới.

- Không phải việc nhà cô nhá!

Cái Thu đứng sững, không dám hé răng. Trước khi bước vào đây, vì quá lo lắng cho thằng cu mà quên béng mối hận thù giữa hai bà mẹ. Giời ơi! Từ nãy đến giờ chưa bắc được nồi nước lên, còn quay ra gây sự với con bé vắt mũi chưa sạch.

- Bà có định nấu cho nó nồi nước hay không?

- Kệ xác bố con nhà ông! Đú đởn cho lắm vào.

Nắm lá chè vứt toẹt ngoài sân giếng, cặp mông thúng quýt nguây nguẩy bước ra vườn. Cái Thu vội chạy tới, nhặt nắm chè tươi, chạy vào bếp. Ngoài vườn vọng vào tiếng chửi:

- Cha tiên sư nhà nó. Đúng là con nhà tông.

Bà nội lập cập bước vào bếp với cái Thu.

Đám người ồn ào ngoài cổng. Tổ lăn lúa chắc bây giờ mới xong, kéo nhau vào thăm thằng cu.


***


Tôi đau buốt ở vùng xương cụt, đau không dám cựa mình. Mấy bà trong tổ lăn lúa còn cười hơ hớ.

- Ngã trỗ đít xuống, may mà không dập cà. Cưới vợ cho nó thôi anh Hoành ơi. Để chúng nó chăm sóc nhau. Mình già còn lo việc già.

- Xuềnh xoàng đánh bạn xuềnh xoàng/ Trẻ chơi bạn trẻ, già choang bạn già. Ông Hoành nhể?

Bố cười tươi như không. Ông này đóng kịch giỏi, vừa giận vợ đùng đùng mà cười ngay được. Tôi muốn đi tắm, thay quần áo khác cho đỡ ngứa, mà Thu lại ngồi trong bếp, ngay cạnh giếng. Bụi rơm rơi đầy người, ngứa ran, tôi phải cởi áo ra, lấy khăn phủi qua người. Ồn ào như chợ vỡ, một lúc sau thì mọi người về hết, tôi mới được tắm rửa. Bố đổ nồi lá chè vào cái chậu đồng, bảo tôi ngồi vào, ngâm cho đến khi nguội nước:

- Cởi quần ra! Xấu hổ cái gì. Đưa tao kiểm tra xem nào!

Tôi nhất định không chịu, đẩy bố ra khỏi nhà tắm. Mười bảy tuổi, cơ thể tôi đã khác trước rất nhiều, không thể cho người khác nhìn thấy. Vừa ngồi xuống chậu, tôi vội nhổm dậy, đau điếng. Nước còn nóng quá, tí nữa thì lột dái. Trong người có nỗi buồn bực, khó chịu, không biết tại sao. Khi dưới xương cụt đã bớt đau nhức, tôi mới nhớ ra nỗi buồn bực ấy là do bầm gây nên, từ cách đối xử với Thu. Tự nhiên tôi ghét bầm ghê gớm, muốn bố nện cho bà ấy một trận thật đau, nhất định tôi không nhào vào đỡ như mọi bận.

Có tiếng chó sủa nhấm nhách, kiểu vừa sủa vừa mừng. Thằng Dũng chứ không ai cả. Nó cũng đến thăm mình cơ à? Chiều hôm nọ, tôi rình ở ngõ nhà cô Xuân, nếu gặp thằng Dũng tới mách lẻo chuyện tôi với Thu trên đồi Bắp Bò, là nhào ra đấm cho một trận. Nhưng nó không đến. Hôm nay đến thăm tôi, chắc muốn giảng hòa.

- Chào chú ạ!

- Dũng đấy à! Sao lâu nay không thấy mày đến chơi?

- Cháu bận quá. Bây giờ lớn rồi, đủ việc phải làm.

- Ừ nhể! Mày với thằng cu nhà chú, năm nay mười bảy rồi.

- Cháu mười tám, hơn thằng Bình một tuổi.

- Láo nào! Hôm cúng đầy cữ mày thì đẻ thằng Bình, tao còn sang uống rượu cơ mà. Hơn nhau có mấy ngày chứ gì.

Hình như thằng Dũng đã vào trong nhà, nó cất tiếng chào bà nội. Rồi nó nói gì với bố, tôi cố dỏng tai mà nghe không rõ. Chỉ thấy bố: “Thế à! Thế à!”. Tôi nghe bố to tiếng, hỏi nó đã suy nghĩ kỹ chưa. Tôi lại giận sôi trong bụng. Thằng này gớm thật, nó sang tố cáo với bố chuyện tôi hôn cái Thu đây. Hãy chờ tao khỏi đau thằng ranh nhá. Tao sẽ tẩn cho mày một trận. Đồ hèn, tôi nghĩ thầm.

Ăn xong bữa cơm, bố cũng chẳng nói gì, làm tôi nắc nỏm lo.

- Thằng Dũng nói gì thế bố?

Tôi liều hỏi. Mình đang đau vì ngã, bố không đánh đâu mà sợ. Bố rít xong hơi thuốc lào, ngửa cổ nhả khói:

- Thằng ranh! Nó viết đơn tình nguyện nhập ngũ.

- À ra thế! Hoan hô Dũng. Nhưng sao không chờ tới sang năm, cùng nhập ngũ với con. Đã hẹn nhau rồi mà - Tôi chợt hẫng. Chắc nó vẫn hận tôi.

Khoảng nửa tháng thì tôi hết đau. Bố tôi lấy thuốc lá của bà lang Hòe, đắp mấy miếng, thấy đỡ. Hôm ấy, bố cũng định đưa tôi đi trạm xá để khám như lời cái Thu, nhưng bầm khăng khăng gạt đi.

- Việc gì phải dắt nhau lên đấy, rồi ai cơm bưng, nước rót cho. Sang nhà bà lang Hòe mà lấy thuốc, người ta gãy xương đắp còn khỏi nữa là đau cái xương cụt.

Bây giờ thì cả nhà cuống lên, lo lắng. Tôi đã hết đau, nhưng chân phải bước đi hơi tập tễnh, không ngay ngắn như trước. Bà nội bảo tôi đừng lo, ít ngày nữa, chân cẳng lành lặn như cũ thôi. Nhưng bốn tháng rồi, tôi vẫn tấp tểnh thế.

Cái Phúc rủ tôi lên chơi nhà dì Hoa. Nó bảo trên ấy giờ vui lắm, rất nhiều phạm nhân, ngày ngày mặc quần áo sọc mang cuốc, mang thùng đi làm qua nhà dì. Chuyện có trại tạm giam của tỉnh mới sơ tán về núi Sở, tôi nghe đã lâu, nhưng chưa biết rõ như Phúc. Mà cái Phúc thật lạ. Toàn tù với tội, vui nỗi gì. Dì Hoa cười giòn. Từ ngày trại giam sơ tán về đây, lại vui. Ngày nào cũng thấy những tù nhân mặc quần áo sọc đen lặng lẽ đi về từ trại ra cánh đồng sát bìa rừng. Mấy hôm rét mướt, sương muối phủ trắng mà mấy ruộng rau của trại vẫn xanh mơn mởn. Rau muống, rau cần, su hào, bắp cải, chẳng thiếu thứ gì.

- Tao quen anh Dục quản giáo. Anh ấy bảo sắp tới trại còn đào cái ao to nuôi cá. Đúng là “nước sông công tù”.

Tôi và cái Phúc lân la gần ruộng rau để xem tù. Một nhóm bảy, tám người toàn đàn ông, vừa gánh nước tưới rau, vừa nhổ cỏ. Họ cặm cụi làm, thì thầm nói chuyện, rồi cũng có lúc cười phá lên. Những chiếc nón lá che kín mặt, những cái đầu và cẳng chân gầy gò, chỉ từ thắt lưng trở lên phình to, tròn quay do chiếc áo sọc mặc ra ngoài áo rét. Đây là nhóm tù tự giác, không bị canh gác. Trong số kia, có nhiều gương mặt còn trẻ, chỉ chục ngày hay một tháng nữa là được về nhà. Bây giờ có bảo họ trốn trại, họ cũng chẳng thèm trốn.

- Tổ trưởng ơi! Hôm nay lại mất bốn cái bắp cải.

- Có dấu chân lợn rừng không mi?

Người tổ trưởng giọng trọ trẹ.

- Vẫn rứa bọ nờ!

Cả nhóm cười nhỏ. Dường như chuyện con lợn rừng ra là điều đương nhiên.

- Đ... mạ mi! Chửi cha không bằng pha tiếng. Tau vả vô miệng mi chừ.

Người tù to con nhất, lật cái nón ra, kê đít ngồi. Khuôn mặt chữ điền sạm sụi. Anh ta khoảng hai lăm tuổi, miệng rộng há ra, cố khạc cục đờm nhổ về phía người tổ trưởng.

- Đề nghị anh Trường không chửi bậy nhá. Đến tai cán bộ quản giáo, lại om thêm một năm nữa, vợ ở nhà theo trai sớm.

- Cần gì! Bỏ đi thì tau cưới mụ khác.

Một người còn trẻ, giơ hai cánh tay lên ngang vai, vươn ra sau.

- Tao về đợt này, chí thú làm ăn. Chỉ mong mấy ông xã cho đi bộ đội. Tao muốn có khẩu súng bắn nhau quá.

- Thôi đi ông! Chỉ hão huyền. Ai người ta tuyển mấy thằng tù vào bộ đội.

Tôi kéo tay cái Phúc.

- Về thôi! Có gì mà xem.

Phúc vùng vằng ghì tay tôi lại.

- Từ từ! Để xem có con lợn rừng nào ra không? Tớ chưa biết nó ra thế nào.

Chờ đến lúc toán phạm nhân về trại, cũng không thấy con lợn rừng nào.

Dì Hoa mở to mắt:

- Chuyện con lợn rừng chúng mày cũng biết à? Nó to lắm, cứ như dấu chân để lại thì phải hơn tạ. Anh Dục quản giáo đang rình đấy, thế nào cũng bắn được.

Tôi nghĩ đến khẩu súng kíp của bác Thọ. Khẩu súng nòng dài như đòn gánh, bác ấy mang từ Cao Bằng sang. Khẩu súng nổ một lần duy nhất, là lần con chó nhà mọ Bích bị dại, cứ tru lên ông ổng, bò lết dưới ruộng ướt nhẹp. Cả đám người mang gậy gộc đuổi đánh con chó mà không được. Tôi lần ấy chạy sắp kịp con chó, nó quay lại nhe răng trắng nhởn định cắn, làm chiếc gậy trong tay run quá, đập trúng đuôi chó. Nó hoảng sợ chui vào vườn nhà bác Thọ. Khẩu súng kíp được lấy xuống. Bác Thọ chĩa nòng vào bụi chanh, oàng một phát. Con chó giãy giụa trong lùm gai thấp, bị đập mấy cây gậy nữa mới nằm im. Tôi định bụng sẽ về mách bác Thọ chuyện con lợn rừng.

Bố tôi bàn cãi đến to tiếng vì cây dổi trên đồi nhà bác Thọ. Bố bảo bác Thọ, mới ngoài năm mươi mà hay lo việc bao đồng. Việc làng xóm, việc đội tổ thì không nói làm gì, lại lo cả việc mẹ con cô Xuân đêm ngủ có cài cửa không? Lại lo cả việc sau này mình chết sẽ an táng ở đâu? Bây giờ thì bác Thọ quyết định chặt cây dổi ba lăm tuổi, xẻ gỗ bán lấy món tiền, rồi tiện đóng cho hai ông bà hai cỗ hậu sự. Bố tôi bực mình bảo ông vớ vẩn, người to như gấu biết khi nào chết mà lo quan tài.

- Bà cụ nhà tôi, hồi trước cũng đòi đóng hậu sự, giờ hơn mười năm rồi có dùng đến đâu, toàn để chứa sắn khô.

- Đóng trước, con cháu đỡ lo. Với lại đóng theo ý mình vẫn hay hơn.

Bác Thọ giải thích như vậy và nhờ cụ Nhân thợ mộc sang lấy mực gỗ. Ông cụ Nhân bấm đốt ngón tay rồi khuyên:

- Tôi năm nay tám chục tuổi, đã ghép không biết bao nhiêu cỗ hậu sự, nên có chút kinh nghiệm. Nhà bác để sang năm hãy ghép, năm nay thì đừng.

Bác Thọ khoát tay cười.

- Cháu không phải người mê tín, dị đoan. Tiện có anh em bạn xẻ gỗ giúp, cháu làm con cầy uống rượu, mời ông trưa sang nhá. Ông cứ đóng cho thật đẹp. Chết cháu chịu.

Cụ Nhân chép miệng:

- Con người ta có số cả, biết đâu nhà nó mệnh cao.

Thế rồi cụ bào gỗ, ghép quan.

Tôi theo bố tới giúp bác Thọ xếp gọn đống gỗ chưa kịp xẻ, phần vì lòng quý mến bác, phần vì thèm thịt chó. Sau khi chén một bụng no, tôi nằm kềnh trên đống gỗ, miệng ợ ra mùi riềng, mẻ.

- Bác Thọ ơi! Thịt lợn rừng ăn có ngon không?

Ông gìa mặt đỏ lựng, chĩa đôi đũa dính đầy mắm tôm vào mặt tôi.

- Tuyệt cú mèo! Bao giờ bố con mày sang quê bác chơi, tao đãi một bữa lợn rừng, ăn nhớ đời. Rừng Nà Rậm hồi tao mới về, vẫn còn lợn rừng, bây giờ bom đạn ùng oàng, nó đi đâu hết.

- Vẫn còn một con to lắm, hơn tạ bác ạ.

Bắc Thọ buông vội bát đũa.

- Ở đâu? Mày thấy à?

- Trên núi Sở ấy. Cháu lên xem tù, thấy các chú công an bảo có lợn rừng hay ra phá rau, họ rình bắn mãi mà không được.

Bác Thọ “chót” một tiếng, hết chén rượu, hai tay xua loạn trên đầu:

- Lợn rừng nó khôn lắm, thách mấy thằng bắn được đấy. Mai mày dẫn bác lên xem dấu, tao bắn về ăn tết dương lịch.

Rừng cuối năm mang mang sương khói, suối như dừng lại, không chảy được vì giá rét. Người làng không mấy ai vào rừng, những tháng trước đó họ đã chuẩn bị củi đốt cho cả mùa đông. Ven rừng, vẫn chỉ những người tù tự giác tẩn mẩn với mấy thửa ruộng rau và bàn chuyện về những ngày sắp tới.

Tôi đèo bác Thọ lên núi Sở bằng xe đạp. Đèo một ông già khó hơn bạn gái. Cái Phúc ngồi sau thường ngả về đằng trước, ôm lấy thắt lưng tôi nên dễ đạp xe. Ông này ngồi ngất ngưởng, tay nắm mép yên, người ngay đơ như khúc gỗ, nhiều lúc xe loạng choạng, muốn ngã. Tôi chỉ ruộng rau và những phạm nhân:

- Đấy! Chỗ ruộng bắp cải ấy bác ạ.

Bác Thọ sờ râu cằm, băn khoăn nhìn từ ruộng rau tới bìa rừng.

- Nếu không có tù, mình xuống tận nơi xem dấu chân nó bằng nào.

- To lắm. Chú Dục quản giáo bảo nó phải nặng hơn tạ. Chú ấy mấy lần ra kiểm tra dấu chân rồi.

- Sao mày biết nhiều thế?

- Thì cháu với đứa bạn lên chơi nhà dì nó. Hay cháu đưa bác vào nhà dì Hoa hỏi kỹ xem nhá?

Bác Thọ vội xua tay.

- Thôi! Lộ bí mật. Về mày!

Tại nhà cụ Nhân, việc ghép quan tài đã xong, chỉ còn đánh giấy rám cho nhẵn và sơn đỏ là đem trả bác Thọ. Cụ Nhân ngắm nghía chiếc quan tài bằng gỗ dổi nâu bóng, tự khen mình đóng đẹp. Cụ chỉ buồn lo trong lòng là bác Thọ năm nay hạn chủ vong, không kê đệm thì nguy.

Chiều chạng vạng, bác Thọ đã đạp xe tới gần ruộng rau của trại giam. Hôm trước, tôi nghe cái Phúc ở trên nhà dì Hoa về, kể chuyện lợn rừng lại ra, chú Dục lần này quyết xử quân phá hại. Tôi chạy sang mách với bác Thọ, ông vội đeo bao, mang khẩu súng kíp một mình lặng lẽ vào rừng, còn mặc bộ quần áo đen để hoá trang. Bác Thọ dặn vợ:

- Tôi vào rừng, tối mới về. Cấm nói với ai nhé.

Tôi đang dắt trâu về chuồng, thấy bác Thọ đeo súng đạp xe ngang thì biết ngay. Bác dừng lại, rỉ tai tôi.

- Tao lên núi Sở rình con lợn. Nếu bắn được, về chia cho mày một đùi ăn tết. Nhớ “ba không” nhé!

Tôi không giữ được lời hứa “ba không”. Khuya hôm ấy, thấp thỏm không ngủ được vì chờ tin lợn rừng, tôi nghe bà vợ bác Thọ hốt hoảng tới nhà báo với bố:

- Ông ấy mang súng kíp đi từ lúc năm giờ chiều, bây giờ không thấy về.

Tôi phải khai thật là bác Thọ đi rình bắn lợn rừng. Chuyện có người vào rừng Sở bị mất tích làm ồn ào cả xóm. Cụ Nhân thợ mộc là người đưa ra quyết đoán đầu tiên.

- Phải tổ chức vào rừng tìm bác ấy ngay. Tình hình nguy rồi. Tôi mà biết bác ấy đi, thì đã ngăn cản.

Hơn chục thanh niên trai tráng đập nứa khô, làm mỗi người một bó đuốc. Sáu chiếc xe đạp chạy ào ào trong bóng đêm. Bố dẫn đoàn người đi, tôi ưu tiên được đi cùng vì biết đường. Mấy bà phụ nữ phải ở lại nhà bác Thọ động viên, an ủi bà vợ. Khi đoàn người tới nơi, đốt đuốc sáng trưng, thì phía cửa rừng cũng lấp lóa ánh đèn pin, đèn bão. Thấp thoáng bóng mấy người công an kèm bốn phạm nhân nặng nhọc khiêng chiếc võng trùm kín chăn chiên.

Sự việc mãi sau này tôi mới được tường tận, khi dự phiên tòa xử chú Dục về tội sử dụng trái phép súng quân dụng, vô ý làm chết người.

Buổi chiều ảm đạm đó, khí lạnh tụ lại ở chân trời vàng xám, ngoằn ngoèo mấy vệt mây đỏ quạch như máu loãng. Lối tắt vào khu rừng rậm, nơi có thể con lợn rừng trú ngụ, lổn nhổn đá hòn và những gộc cây mục. Qua được vạt dốc chằng chịt dây leo, lằng nhằng gai song mật, là xuống đến thung lũng đầy lau sậy. Phía bên phải thung lũng có những hang đá nhỏ, có thể con lợn trú trong một cái hang. Chú Dục căng mắt nhìn, hai tay vạch lau sậy tìm lối đi. Chú rất giận con lợn vì mấy luống bắp cải bị phá. Bên luống su hào không bị mất cây nào, chỉ mất bên luống bắp cải. Bắp cải chắc mềm và ngọt hơn nên con lợn quen mùi chén mãi. Cơm chiều xong, chú Dục lặng lẽ xách khẩu súng trường ra thăm ruộng rau. Lại có dấu chân mới và mấy cái bắp cải bị nhổ. Phải bí mật vào rừng tìm con lợn thanh toán món nợ. Nếu may mắn hạ được nó, trại sẽ được bữa tiệc bất ngờ mừng tết dương lịch. Đang thời chiến, lãnh đạo cũng xuê xoa cho mình. Với lại đi diệt thú rừng giữ tài sản cho trại, chứ có săn bắn gì đâu.

Bắt đầu từ phía mặt trời lặn, chú Dục lội tắt qua đầu con suối, men theo bờ bên phải có những cây dọc quả chín vàng. Những quả dọc chín nục tụt cả cuống rơi quanh gốc, vị chua ngọt có thể làm con lợn tìm đến. Quanh quẩn vạt bờ suối có nhiều cây dọc, chú không phát hiện ra dấu vết nào. Gió lạnh thổi từ đằng trước tới, chú Dục vội băng về phía trái bìa rừng, vòng lên phía đầu gió đề phòng con lợn đánh hơi thấy mùi lạ. Bước chân đang rón rén, chú dừng lại nghiêng tai lắng nghe. Hình như phía bên phải có tiếng sột soạt. Kẻ trộm rau đây rồi. Chú Dục mừng rỡ, khẽ mở khoá súng, căng mắt nhìn nhức nhối. Tiếng động lớn dần, khoảng năm chục mét về phía phải, con lợn đen xuất hiện. Nó chui qua đám lau sậy rậm rạp, tiến về phía những cái hang. Chú Dục hồi hộp quỳ một chân, giương súng lên, nín thở. Trời nhập nhòa tối, bóng con lợn rừng mờ mờ. Chú bóp cò. Tiếng nổ chát chúa, vang động thung lũng. Con lợn rừng hự một tiếng, nằm im. Trúng rồi! Chú Dục chạy tới, vẫn cảnh giác chĩa súng về phía trước. Không thấy con lợn cựa quậy. Hết đời tên trộm, mày không biết tao là xạ thủ số một của trại sao. Chú hả hê cúi xuống nhìn cho rõ chiến công. “Trời ơi!”. Chú kêu thất thanh, ngã phệt xuống cỏ. Dưới đất không phải là con gấu đen mà là một người đàn ông mặc đồ đen, khẩu súng kíp dài thượt văng bên cạnh. Chú Dục vội vàng xé áo cuốn quanh vết đạn trên bụng nạn nhân, nặng nhọc ẵm để lên tảng đá cao, rồi cắn răng chạy về trại.

Lần sau, tôi và Phúc lên chơi, dì Hoa buồn bã bảo, làm gì có con lợn rừng nào. Là do mấy đứa tù tự giác dựng chuyện. Bọn nó xin muối nhà bếp, mang ra ruộng rau, chọn cây cải bắp gần bờ, khoét một lỗ bên trên, bỏ muối vào, che kín lại. Chỉ ba bốn hôm, lá bắp cải non bên trong mềm ra, giống dưa cải mới làm. Phạm nhân thì đói, nhổ cả cây lên chia nhau ăn. Thằng đầu trọc, mặt chữ điền là người miền núi, nó làm giả dấu chân lợn rừng thật giống. Thế là chú Dục bị lừa, rồi bác Thọ bị chết oan.

- Tiên sư cha chúng nó! Đã vào tù rồi vẫn còn làm khổ người ta. Khổ thân anh Dục. Thế là mất hết.

Tôi chỉ muốn khóc. Tội này có cả tôi dính vào. Bác Thọ ơi! Tha tội cho con.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ TâyNinh ngày 29.5.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004