Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

đồi D1 - Điên Biên





TRỞ LẠI ĐIỆN BIÊN PHỦ ANH HÙNG








T ôi cùng đoàn cán bộ CCB Tỉnh Hoà Bình lên Điện Biên. Đầu Hè mây trắng lưng trời, xà xuống thung lũng. Khắp rừng Điện Biên mùa này vẫn còn thấp thoáng những cây hoa Ban nở muộn đón nắng cuối mùa Xuân. Ai đã một lần gặp hoa Ban nở dưới nắng mai trên dải đất miền Tây Bắc trông tựa như những đám mây trắng vắt ngang sườn núi bồng bềnh trong gió cũng mê mẩn. Loáng thoáng những cây Ban đỏ xen với Ban trắng tạo thành sắc màu huyền ảo giữa rừng Tây Bắc bao la. Chúng tôi thẫn thờ khi đứng trên đỉnh đèo Pha Đin nhìn ngắm mây, trời, núi non của Điện Biên không chán mắt. Người bạn đồng hành ở Hội cựu chiến binh tỉnh Hòa Bình thốt lên:

- Hơn 60 năm rồi, Điện Biên thay đổi như trong mơ. Có lẽ chỉ hàng vạn cánh bướm trắng bay ngang lưng núi dưới nắng xuân, đó là mùa Ban nở không bao giờ thay đổi. Đấy là cái hồn Tây Bắc, là phép màu nhiệm của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất này làm bất kỳ ai cũng phải đắm say ngay từ buổi đầu đến Điện Biên!

Sau câu nói ấy của ông, tôi biết còn cái đắm say hơn thế nữa đã gắn cả đời ông với mảnh đất miền Tây này : Đó là tình yêu. Người lính của Đại đoàn 316 anh hùng năm xưa giờ tóc đã bạc như cước, lưa thưa như những lá liễu trên đầu. Sau ngày nổ súng vào A1, dẫn giải tù binh ở Điện Biên Phủ, ông đã ở lại hiến nốt cuộc đời trai trẻ với Tây Bắc thân yêu. Ông là cán bộ của nông trường Điện Biên suốt 28 năm trời. Cho đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, ông mới đưa vợ là một cô gái Thái xinh đẹp năm xưa cùng các con trở lại sinh sống trên quê hương đất mẹ bên dòng Đà Giang thành phố Hòa Bình. Những đêm và ngày cùng các CCB Điện Biên dù ngồi ở Mường Phăng, đứng trên đồi A1, Bản Cúm, D1 hay lặng mình trước nghĩa trang Điện Biên ... Tôi lắng nghe, say xưa nhìn và ghi chép không biết mỏi tay. Tôi biết rằng có thể những lời nói này, có thể những con người này không còn lần thứ hai, thứ ba trở lại Điện Biên nữa...

Ngược dòng lịch sử Điện Biên Phủ cách đây gần một ngàn năm. Khi thời Nhà Lý cai trị đã đặt tên là Mường Thanh. Theo tiếng Thái Mường Thanh là Mường Then, Mường Trời. Trời đất, tạo hoá đã cho Tây Bắc một Mường Thanh với núi non trập trùng bao quanh, che chở. Thiên nhiên thêu dệt cho đất trời Mường Thanh như một cô gái đẹp với trang phục sặc sỡ làm mê đắm lòng người với Hoa Ban nở suốt mùa xuân. Triệu triệu cánh bướm trắng rập rờn trên sườn núi... Có phải vì thế mà ngay từ thế kỷ XVI tướng quân Hoàng Công Chất ngừời thủ lĩnh nông dân ở quê biển Thái Bình lên đây, ông đã dựng xây thành Bản Phủ ở Noọng Hẹt từ năm 1751 để quyết giữ lấy Mường Thanh khỏi ách xâm lăng của người Miến những năm 1753-1756. Có lẽ ông cũng nhìn nhận rõ một điều : Mường Thanh sẽ là miếng mồi ngon đối với mọi kẻ xâm lăng!

Cuộc chiến đấu bảo vệ hòn ngọc của Tây Bắc kéo dài suốt mấy năm liền. Hàng chục đạo quân của giặc Phẻ từ phương Bắc xuống cướp phá Mường Then đã bị các bộ tộc người Mường Thanh đánh cho tan tác. Bờ cõi biên ải lại nở trắng Hoa Ban trong hoà bình. Những điệu xoè, những tiếng khèn lại âm vang núi rừng Điện Biên từ ngày ấy...Lịch sử trôi đi, cái tên Mường Thanh cũng bao lần đổi thay. Năm 1778 Nhà Lê đổi tên cho Mường Thanh là Ninh Biên (vùng đất yên ổn ngoài biên cương). Đến năm 1841 đời Thiệu trị Mường Thanh lại đựơc đổi tên thành Điện Biên Phủ. Là người hay chữ, giỏi văn chương ông chọn tiếng Hán để đặt tên cho vùng biên ải này (Điện là vững vàng, Biên là biên giới, Phủ là huyện hoặc tương đương). Dù tên là Ninh Biên, hay Điện Biên Phủ đều mang một nghĩa mảnh đất vững vàng nơi biên ải của Tổ Quốc Việt Nam. Từ đó đến nay lịch sử đất nước đã bao thăng trầm, song cái tên Điện Biên Phủ vẫn còn đây. Vùng đất biên cương xa xăm vẫn vững vàng trước biến cố của thiên nhiên, trước mọi ách xâm lăng và Điện Biên Phủ trở thành một mảnh đất anh hùng dưới thời đại Hồ Chí Minh. Những chiến sỹ đầu trần, chân đất, áo chấn thủ, mũ nan. Những người dân công từ khắp mọi miền quê một chữ bẻ đôi không có, hàng vạn con em của các dân tộc: Kinh,Tày, Mường, Thái, Hơ Mông, Khơ Mú, Hà Nhì ... ở Tây Bắc dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ Tịch Hồ Chí Minh cùng các tướng lĩnh tài ba của quân đội nhân dân Việt Nam đã làm cho địa danh Điện Biên Phủ thành một mốc son chói lọi, thành một vành hoa đỏ rực rỡ huy hoàng. Điện Biên Phủ - cái tên đã làm điên đảo đến suy sụp ý chí của những đạo quân xâm lăng hùng mạnh nhất giữa thế kỷ XX...

Hôm nay, tôi cùng những người con ở vùng đất Hòa Bình từ cửa ngõ của Tây Bắc giàu đẹp, tóc bạc bơ phơ, cố gắng dựa vào nhau đứng trên đồi A1. Họ im lặng để hồi tưởng về mảnh đất mà máu của mình, của đồng đội mình đã trộn với bùn non trong bão lửa cách đây hơn 60 năm. A1 hôm nay chỉ còn lại bóng dáng chiếc lô cốt cũ nham nhở, vết hằn của hố bộc phá 960 cân đã nổ rung trời Điện Biên, làm kẻ thù khiếp đảm. Một cây đa bị pháo làm cụt ngọn vẫn đứng kia. Gốc nó sù sì, già cỗi lắm rồi song những cành còn lại vẫn xòe ra những búp nhỏ, mầm xanh đón mùa Xuân. Nó đang trường tồn giữa thiên nhiên Tây Bắc, như một nhân chứng lịch sử và khẳng định sức sống của một dân tộc kiên cường. Nước mắt những người lính, của những tướng tá quân đội nhân dân Việt Nam đứng bên cạnh tôi nhoà trong nắng chiều Điện Biên. Họ đứng thành hàng trước nghĩa trang Điện Biên Phủ ngay chân đồi A1 kề sát đại lộ 7/5 rộng thênh thênh. Chỉ riêng số chiến sỹ hy sinh tại đồi A1 trong 60 ngày đêm giành dật với quân thù từng tấc đất, từng mét chiến hào đã là 2.516 người. Nửa thế kỷ đã qua đi, hôm nay chúng tôi lên Điện Biên thắp nén nhang “Nén nhang thơm thấu cửu trùng thiên” để các anh chứng giám cho tấm lòng những người bạn, những thế hệ sau các anh và cả hậu duệ của các anh cũng như cả dân tộc mãi mãi mang ơn những con người quyết tử cho một Điện Biên chiến thắng. Tôi đứng thẫn thở trước tấm bia mộ những người anh hùng: Cù Chính Lan, Bế văn Đàn, Phan Đình Giót và Trần Can. Trên Bảng vàng ghi danh 5.000 chiến sỹ liệt sỹ nhưng có tới 600 bia mộ vô danh . Còn những người anh, người cha, người chú nào chưa tìm thấy ở cánh đồng rộng hơn 4.000 ha này? Đó cũng là điều thế hệ chúng ta trăn trở, day dứt nhất. Một vị Đại tá tóc đã rụng hết, mắt đã mờ. Ông lấy khăn lau nước mắt kể lại với tôi :

- Nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên chiến trường xưa. Ông không cầm nổi nước mắt khi đứng trước các bia mộ vô danh. Đến năm 1994 nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên, tỉnh Lai Châu (trước đây ) có dự án xây cất lại các nghĩa trang liệt sỹ. Đại tướng lên, ông ứa nước mắt nói: “ Thôi đừng đánh thức anh em dậy một lần nữa làm gì. Để anh em mình được yên nghỉ! ”. Chao ôi, câu nói ấy mới ân tình nặng nghĩa và tâm linh mang tính cách Việt Nam biết bao nhiêu. Cho đến lần kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đại tướng lại lên. Bà con ở Mường Phăng, đồng bào các dân tộc ở Mường Thanh, các đồng chí lãnh đạo ở Điện Biên... mà tôi đã gặp ai ai cũng nói : “ Lần nào đến Điện Biên khăn tay của Đại tướng cũng đẫm nước mắt vì thương nhớ các đồng chí, đồng bào đã hi sinh mà nay chưa tìm thấy tên tuổi, hài cốt”.

Thôi, đất trời Điện Biên này là một phần máu thịt của non sông Đất Việt. Các anh nằm xuống cho ngày chiến thắng dù ở góc rừng nào, đường hầm, núi đồi nào cũng là đất Điện Biên. Các anh mãi mãi là những người anh hùng, mãi mãi sống với Tây Bắc thân yêu. Nếu có thế giới bên kia, chắc các anh cũng đang tụ họp nhau, kể chuyện với nhau về Điện Biên Phủ anh hùng như chúng tôi ở trên cõi dương gian này đã và đang làm và mãi mãi truyền nhau từ thế hệ này đến thế hệ khác về huyền thoại Điện Biên, về anh “ Bộ đội Cụ Hồ ”...

Cánh đồng Mường Thanh rộng hơn 4.000 ha giờ đây đã khác xưa nhiều. Lúa Mường Thanh vàng óng kề bên xác xe tăng giặc. Cánh đồng đầy máu và súng đạn năm xưa giờ đã rực những mùa vàng. Năng suất lúa ở Mường Thanh đã đạt tới 40-50 tạ/ha. Lúa gạo Mường Thanh đã làm no ấm 443.414 người dân Điện Biên Phủ. Gạo thơm Mường Thanh đã theo các đoàn xe về Hoà Bình, Hà Nội, Hải Phòng... Dấu tích còn lại từ cuộc đấu sức, đấu trí, đấu lực giữa ta và quân viễn chinh Pháp trên cánh đồng thẳng cánh cò bay, ngan ngát hương lúa mới bây giờ là xác những cỗ pháo, chiếc xe bọc thép rỉ hoen. Đến Điện Biên Phủ đứng trước đồi A1, Him Lam, Bản Cúm, D1... Nhiều tướng lĩnh của quân đội các nước dù trước đây ở phe đối lập với ta, hậu thuẫn cho đội quân của Tướng Na Va, Đơlađơtatxinhi, Đờ Cát... đều phải thốt lên : “Chỉ có những con người của đất nước Hồ Chí Minh mới làm nên một huyền thoại Điện Biên Phủ”. Những câu nói ấy dù có bóng bẩy nhưng chiến thắng của của các sư đoàn quân đội nhân dân Việt Nam ở Điện Biên thì không ai phủ nhận được. Nhà văn Pháp Jules Roi ngay từ tháng 5 năm 1954 đã viết : “Thất bại Điện Biên Phủ đã gieo nỗi kinh hoàng ghê gớm trên khắp địa cầu mà ngay trận Waterlô thời Napolêon cũng không gây nhiều chấn động đến như thế. Vì thất bại đó báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân”. Ngay nhà sử học nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương cũng phải thừa nhận sức mạnh Việt Nam, tinh thần Việt Nam từ những ngày sau khi tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của Pháp bị đập tan: “ Điện Biên Phủ vừa là một thất bại về chính trị hết sức nặng nề, vừa là một thất bại quân sự vô cùng thảm hại. Vì nó là lần đầu tiên một cường quốc thực dân bị một nước thuộc địa nhỏ bé đánh bại...”.

Người trong cuộc, kẻ ngoài cuộc dù ở phía bên này hay bên kia. Kẻ xâm lược trực tiếp cũng như kẻ tiếp tay, bơm sức. Tất cả, tất cả phải chấp nhận sự đại bại ở vùng biên ải xa xôi này. Nỗi đắng cay, nỗi nhục ê chề ấy từ Điện Biên Phủ trở thành khối u ác tính cho bất kỳ đội quân xâm lược nào có ý định thôn tính Việt Nam, định đô hộ dân tộc Việt Nam...Hôm nay đứng dưới tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ ngạo nghễ trên đồi D1. Toàn cảnh một Điện Biên Phủ trong dựng xây hoà bình và đổi mới đang hiện ra trước mắt. Kia cầu Mường Thanh bằng bê tông trắng loá vắt ngang dòng Nậm Rốm đã sạch máu thù nay càng trong xanh. Đây đại lộ 7/5 thênh thang con đường đẹp nhất thành phố Điện Biên rực sáng đèn cao áp. Kia bảo tàng Điện Biên Phủ, nhà ga hàng không Điện Biên, một bệnh viện đa khoa hiện đại nhất miền Tây Bắc đã mọc lên. Những toà nhà còn thơm mùi vôi, phản quang lấp lánh dưới nắng mặt trời... hơn 50 năm sau ngày chiến thắng, Điện Biên Phủ đã đổi thay như có phép màu. Một Điện Biên ấm no, hạnh phúc, đoàn kết nắm tay nhau đi lên trong thời đại mới. Tháng Năm này, chúng tôi đứng trước Đền thờ tướng công Hoàng Công Chất và tự hỏi làm sao lịch sử lại có những điều trùng hợp lạ kỳ. Năm 1754 ông phá tan các đạo quân xâm lăng giặc Phẻ giữ vững Mường Thanh. 220 năm sau, năm 1954 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy quân đội nhân dân Việt Nam đập nát boong ke, hầm ngầm của quân viễn chinh Pháp, giải phóng Điện Biên Phủ. Tạo hoá đã làm nên một Tây Bắc, một Điện Biên hùng vĩ. Những con người dân Đất Việt đã làm nên một huyền thoại Mường Thanh - Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu. Có lẽ cái cây đa quấn lấy cây si, cây đề rễ chúng xoắn xuýt vào nhau vẫn đang trường tồn trước đền thờ vị tướng quân áo vải họ Hoàng đã nói lên một phần nào. Bà con nhân dân các dân tộc Điện Biên. Mọi người ở bất kỳ đâu đến Điện Biên, cũng phải đứng lặng chiêm ngưỡng cái cây “ Đoàn kết” ấy. Đoàn kết tạo nên sức mạnh diệu kỳ. Đoàn kết để kết thành khối thép chống trả bất kỳ phản lực nguy hại nào. Đoàn kết để tạo nên chiến thắng giặc ngoại xâm. Đoàn kết để làm nên những kỳ tích trong xây dựng đất nước quê hương.

Huyền thoại và hiện thực. Ước mơ và thành quả. Tất cả, tất cả bằng trí, sức, lực và lòng quả cảm của dân tộc này. Một dân tộc đầy lòng nhân ái bao dung và cũng rất quật cường. Lên với Điện Biên hôm nay, tôi và những người con đã từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ năm xưa tự hào và biết ơn những người viết nên huyền thoại và đã giữ cho mảnh đất biên ải này hơn 60 mùa Xuân trắng màu Hoa Ban được sống trong thanh bình, no ấm, phồn vinh. Nhân dân các dân tộc ở Điện Biên cùng cả nước tiếp bước để cho Điện Biên hôm nay và mãi mãi về sau được sống trong huyền thoại ấy. Một Điện Biên Phủ vô song. Một Điện Biên Phủ chiến thắng đói nghèo. Điện Biên Phủ mãi mãi ở trong lòng chúng ta. Tháng Năm này chúng tôi lên với Điện Biên Phủ, đến với mảnh đất giàu đẹp và anh hùng./.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoàBình ngày 27.5.2018.


Quay Lên Đầu Trang

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004