Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới










HÀNH HƯƠNG BA TÔN GIÁO TẠI CAMPUCHIA






   Những ngày cuối tháng tư vừa qua, tôi có cuộc “Hành hương ba tôn giáo tại Campuchia”, nhằm mục đích chiêm niệm và cầu nguyện. Nơi đến đầu tiên và cũng là nơi tôi nghỉ mấy ngày tại đây, là Trung tâm Rêbêca Á châu Kampot, viết tắt TRAK. (Theo Cựu ước, Rêbêca là vợ của Isaac, con trai của Abraham). Đây là nơi thanh tịnh, nơi tiếp đón khách hành hương, cần nơi tĩnh dưỡng, do một hệ phái Tin Lành (gốc từ Đức Quốc) xây dựng. Từ Trung tâm này, tôi lên núi Bokor (người Việt Nam gọi là núi Tà Lơn), viếng ngôi nhà thờ cổ, và ngôi chùa cổ. Điểm đến thứ ba là viếng Đức Mẹ Mêkông. Như vậy, cũng có thể nói đây là chuyến hành hương “tôn giáo” của tôi trên đất Campuchia, ở chặng cuối đời, mặc dù ở một góc nhỏ, nhưng cũng in dấu ấn nơi tâm khảm tôi một vài hình ảnh đẹp và những suy nghĩ về đời sống tôn giáo của con người.


TRUNG TÂM RÊBÊCA Á CHÂU KAMPOT


Chuyến xe tôi đi khởi hành từ bến xe miền Tây, chạy suốt một đêm. Đến sáng sớm ngày hôm sau thì tới Hà Tiên. Người quản lý Trung tâm Rêbêca Á châu Kampot đã đợi tôi tại đây, tôi lên xe của họ để qua đất Campuchia, ghé vào phòng làm thủ tục nhập cảnh, sau đó đi thẳng về Trung tâm, thuộc tỉnh Kampot, mất hai giờ đồng hồ. Tôi được dẫn vào phòng của mục sư khi nào ông tới và sẽ ở tại đây trong những ngày sau đó. Vì đêm hôm vừa qua tôi không chợp mắt được tí nào nên về tới Trung tâm là tôi chỉ muốn nằm nghỉ. Tôi nói điều này với người quản lý. Anh bảo, tôi cứ nghỉ cho khỏe.


Tôi dành cả thời gian chiều để đi thăm Trung tâm, ghi lại mấy tấm hình. Nhìn gần hay nhìn từ xa, nơi nào tôi cũng thấy những cảnh trí rất hợp cho những ai tìm tới đây để tĩnh dưỡng, để tránh cảnh ồn ào của phố thị đông người. Đặc biệt, những ngôi nhà sàn mái tranh, từ gần cũng như xa xa, tất cả như ẩn hiện dưới những cành lá, những thân cây đủ loại kèm theo những chùm hoa nhiều mầu sắc.


Người anh em tôi nói, Trung tâm này rộng khoảng 15.000m2, mười năm về trước, có người giới thiệu Hội thánh khu đất này. Để mua được nó, một giáo hữu ở Đức giúp tiền, khoảng 200.000 euro. Từ Phnôm Pênh mà về tận đây mua đất, dựng nhà, dựng cửa, quả là diệu vợi. Lúc đó, đất chỉ là đất, hoang dã, cây cối um tùm, chỉ có một ngôi nhà nhỏ. Bây giờ nó như thế này, có thể lượng giá khoảng 5 tỉ đồng. Rồi chúng tôi đi khắp chỗ, bàn chân tôi không mỏi, vì nơi nào của Trung tâm này cũng lạ lẫm, cũng có những dấu hoang sơ để những người đã trải qua những gian nan, những khổ ải suốt một cuộc đời 70-80 năm như tôi chỉ muốn mượn nơi này để dừng chân. Ông xui gia cùng sang đây với tôi nói rằng, tui đã có nơi để đi, lúc nào buồn bực con cháu trong nhà, tui sẽ sang đây. Chúng nó hết tìm. Chúng tôi tới một con đê lớn, mấy cái hồ. Một hồ lớn, 3 hồ nhỏ, có sông rạch, có sân chơi trẻ em như ghế xích đu, có sân bóng, khu vực nuôi gà lớn, khu gà nhỏ và một cái kho. Rồi, những con đường thẳng, dài mút mắt, người ở đầu đường này nhìn người ở đầu kia, chỉ thấy một bóng mờ. Còn những đường vòng thì tuyệt đẹp, hai bên là cỏ và hoa. Mỏi chân thì có những ghế đá ngồi nghỉ, dưới những bụi cây hoa hay những cành lá nhẹ đưa trước gió. Đi hết một vòng của Trung tâm, anh dẫn tôi về phòng hội. Tại cổng vào phòng hội, là dàn hoa leo, có gắn một tấm bảng viết bằng tiếng Việt: “Được Phước Khi Đi Vào”. Còn phía trong viết: “Được Phước Khi Đi Ra”. Nơi này, có hai dẫy nhà bằng gạch, duy nhất của Trung tâm, đối diện nhau, cách một cái sân khá rộng, lát gạch Tầu. Chiều ngang của mỗi dẫy nhà dài khoảng 15m, rộng 10m. Một dẫy dùng làm nhà bếp và phòng ăn. Còn một dẫy là Phòng hội. Mỗi sáng sớm, vợ chồng người quản lý và những “người con của Hội thánh”, tụ họp tại đây để cầu nguyện, để học hỏi kinh thánh. Những người con của Hội thánh, tức là những em nam, em nữ đã được Hội thánh nuôi nấng từ nhỏ, lớn lên họ có thể kết hôn với nhau, tình nguyện sống tại Trung tâm để phục vụ Hội thánh và cũng có thể ra ngoài. Họ được tự do chọn lựa.


Người anh em dẫn tôi đến đứng trước một tấm bảng lớn treo tại phòng hội, diễn giải cho tôi về mục đích của Trung tâm Rêbêca Á châu Kampot. Trước hết là một câu kinh thánh:


Ngài muốn cho mọi người được cứu và hiểu biết lề luât” 1.Tim 2:4


Cứu người:

1 1. Truyền giảng cho người Việt, Khmer.

1 2. Truyền giảng cho thiếu nhi (khmer, Việt)


II. Biết lẽ thật:

21. Xây dựng Hội Thánh (Việt, Khmer)

22. Huấn luyện nhân sự

23. Trại (các kỳ trại)


III. Ngoài ra

31. Tương giao với giáo phái bạn (Fellowship)

32. Chỗ nghỉ ngơi (Restort) cho con cái Chúa.

33. Tự túc: Chăn nuôi, trồng tỉa...


Tôi vốn thích cảnh chiều mưa nhẹ tại một nơi thanh vắng, nhất là một nơi như thế này mà có mưa thì thật hay. Quả thật, trời đã biết điều này ở trong tôi. Cho nên, một chiều sau giờ cơm, lúc đó trời đã tối, lại có cơn mưa, không nặng lắm, nhưng cũng đủ tạo nên những giọt mưa làm mái tranh ướt sũng, gây thêm hơi lạnh theo gió vào căn nhà sàn một mình tôi, thôi thúc tôi ra ngoài ngồi ở cái bàn hình vuông để ở bên ngoài phòng ngủ. Tôi nhìn ra những con đường thẳng, đường vòng chạy thật dài, heo hút, đi tới những căn nhà sàn khác, nhạt nhòe bóng nước. Giờ này, Trung tâm không một người ra ngoài. Tất cả đã lên nhà sàn. Có nhà còn để đèn, ánh đèn mờ ảo như rất xa, ẩn hiện như tại một khu rừng của người thiểu số trên cao nguyên, có nhà bóng tối đã phủ xuống. Đêm hôm ấy, tôi vào phòng ngủ rất khuya, không phải vì buồn ngủ, mà vì tôi không dám tự đặt mình mãi vào một trạng thái, nếu cứ để cái hồn mình tách ra khỏi cái thân xác như không có này, để theo những giọt mưa trên mái tranh, trên những cành lá, lóng lánh như hạt ngọc. Có lúc lại rời căn nhà sàn với mái tranh, đi trên những con đường, hai bên là cỏ xanh, không biết nó dẫn tôi tới đâu trong đêm vắng này. Cái trạng thái của tôi lúc ấy, có lúc thì bồng bềnh, lại có lúc như chìm sâu vào tận đáy lòng. Trước đây, dù không ở một tâm cảnh như lúc này tại Trung tâm Rêbêca Á châu Kampot, có lúc tôi đã phải tự cứu lấy mình, đưa mình ra khỏi cái tâm cảnh có nguy cơ hồn thoát khỏi xác lặng lẽ đi vào thiên thu. Tôi không sợ cái tĩnh lặng và lạnh lẽo của một phần mộ, mà chỉ nghĩ rằng tôi chưa chạm đến cõi sâu thẳm huyền nhiệm bên trong mình, tức là tôi chưa trở về với cái tôi đích thật, nên tỉnh ra và trở về thực cảnh. Đã có lúc tôi tự hỏi:


MỘT THOÁNG


Bao giờ tôi lại gặp tôi

Như không như có, mặc đời bon chen

Sân trường in dấu chân êm

Hắt hiu lời gió…bên thềm lá rơi

Bâng khuâng tôi lại tìm tôi

Hôm nay mà lại nhớ người hôm qua.


KT

(Tháng 7-2008)



THÂN


Bao giờ tôi lại gặp tôi

Như không như có mặc đời thị phi

Tấm thân là tấm thân gì?

Nổi trôi mệnh nước, còn gì nữa đây?

Nước non là nước non này

Lòng đau con quốc, đọa đày nhân sinh

Thế gian là chốn luyện hình

Xem trong lá rụng, sấp mình ăn năn.


KT

(Tháng 8-2008)



LÊN NÚI BOKOR


Hơn mười năm về trước, người anh em tôi sang sinh sống tại Phnôm-Pênh, thuê một căn gác để hai vợ chồng ở. Dưới căn gác có một lối đi ra đường. Nhờ lối đi này, hai vợ chồng anh bán thức ăn. Ít lâu sau, anh để một mình vợ vừa đi chợ, nấu nướng và đứng bán hàng. Còn anh thì làm một hướng dẫn viên du lịch cho một công ty du lịch, vì nhận thấy mình có vài ưu điểm về ngôn ngữ, nên rất thích hợp cho ngành du lịch tại đây. Mỗi lần hai vợ chồng về Sài Gòn, đều đến nhà thăm chúng tôi.

Để viết bài bút ký này, tôi dựa vào những lời kể của người anh em dẫn đường, liên quan đến một vài chi tiết về lịch sử của các di tích chúng tôi đi thăm. Còn về huyền thoại chùa Năm Thuyền, để tranh dị bản, tác giả mượn lời kể của ký giả Loan vtp-Mytour.vn. Xin cảm ơn.


Buổi chiều hôm chúng tôi có mặt tại Trung tâm Rêbêca Á châu Kampot, rồi đi một vòng trong Trung tâm, lúc chúng tôi đứng ở một nhà sàn hai tầng, cũng nhìn thấy ngọn núi Bokor qua màn sương.

Huyền thoại kể rằng, nơi đây từng là biển cả mênh mông, trải qua bao lần thay đổi địa chất đã tạo thành nên nó như hiện nay. Ngọn núi này chứa đầy những truyền thuyết bí ẩn đằng sau sự tồn tại của nó.

Núi cách thị trấn Kampot khoảng 30km về hướng Tây Nam. Bokor theo tiếng Khmer có nghĩa là cái gù của con bò bởi nhìn từ xa, ngọn núi này trông giống như thế, (vừa nói tay anh vừa chỉ ngọn núi, giống cái gù con bò quá).Trải qua nhiều biến động lịch sử khiến Bokor từng bị lãng quên, mãi một thời gian dài mới dần được đánh thức.


Đầu những năm 1920, người Pháp khi đô hộ Campuchia đã phát hiện ra cao nguyên Bokor có địa thế và khí hậu rất lý tưởng nên đã tiến hành xây dựng tại đây khu nghỉ dưỡng cho binh sĩ và giới hoàng tộc.

Hàng loạt các công trình phục vụ nhu cầu văn hóa, hệ thống giải trí phức hợp được ra đời như nhà thờ, bưu điện, trường học, khách sạn và casino…

Những năm 1950-1960 là thời gian vàng son của Bokor, nhưng khi người Pháp rút đi thì nó trở nên hoang phế, gần như đóng cửa hoàn toàn. Mãi đến năm 1993, vua Norodom Sihanouk tiến hành xây dựng công viên Quốc gia trên núi này, cùng với việc cho phép các doanh nhân tham gia đầu tư vào Bokor, biến vùng núi hoang sơ thành điểm du lịch, nghỉ dưỡng hấp dẫn.

Từ đỉnh Bokor, những hôm trời trong, phóng tầm mắt trên làn nước biển xanh biếc, sẽ nhìn thấy toàn cảnh quần đảo Phú Quốc. Với nhiệt độ trung bình tứ 16-22 độ nên khí hậu nơi đây quanh năm mát mẻ, được ví như Đà Lạt của đất nước Chùa tháp. Thời tiết thì thất thường. Buổi sớm mới bừng nắng, chốc lát sương mù đã kéo về dày đặc, cả không gian chìm vào mờ ảo. Có ngày, hai người đứng gần nhau trên đỉnh núi, sẽ không nhìn thấy nhau.


Tôi chú tâm đến hai di tích cổ, khi anh nói tới. Đó là ngôi nhà thờ nhuốm màu rêu phong, đơn độc. Đặc biệt là màu rêu đỏ nổi bật giữa không gian mây núi huyền ảo. Kế đến là ngôi chùa Wat Sampov Pram, còn gọi là chùa Năm Thuyền được xây dựng từ thời vua Monivong, lúc nào cũng có khách thập phương tới cúng viếng.


Tôi nôn nóng chỉ mong thời gian chiều và tối hôm đó qua mau để ngày hôm sau lên đường tới Borkor, nơi có ngôi nhà thờ cổ, để bàn chân tôi bước đến nơi đã một thời thánh thiêng, để ca ngợi bộ óc nào đã chọn nơi núi cao, huyền bí dựng lên nơi thờ phương và cầu nguyện này, và để bàn tay tôi chạm vào những bức tường rêu phong, môi tôi sẽ cúi xuống hôn mặt bàn đá mà vị tư tế xưa kia đã từng cử hành nghi thức này, để bắt đầu việc ông diễn tả lại mầu nhiệm khổ nạn của Đấng Cứu thế cũng trên bàn này.


Và ngày hôm sau đã tới.


Đoàn chúng tôi bốn người, đi hai xe máy. Ông thông gia với tôi, con gái tôi và hai anh em chúng tôi. Trước hết, chúng tôi dừng chân trước cổng lên núi đặt ngay tại thành phố Kampot, chụp mấy tấm hình. Điểm dừng chân thứ hai sau một đoạn đường thoáng mát là ba khuôn mặt Thần núi, được đục vào vách núi, chung quanh toàn màu xanh cây rừng. Trong ba vị này, thì khuôn mặt Thần núi thứ hai và ba là phảng phất giống mặt người, có chiều cao khoảng từ 2m đến 2,50m, bề ngang ở hai gò má khoảng từ 45 đến 50cm. Còn vị thần thứ nhất thì nhỏ hơn, không nổi rõ mặt và bị những cành lá nhỏ chung quanh che mất một phần. Tuy nhiên, cả ba khuôn mặt thần núi đều là màu vàng kỳ lạ, phần trán có những điểm đen của thời gian, ở vị trí cách nhau vài bước chân. Ông thông gia của tôi đứng trước ba vị thần núi, đều chắp tay trước trán, cúi đầu vái lạy. Dưới tượng các thần núi, người ta để một cái bàn, trên đó có cắm nhang và bình hoa. Chúng tôi dừng chân tại đây mấy phút, vì trước ba tượng thần núi là một khoảng đất trống, để du khách dừng chân, sau một đoạn đường khá dài. Lúc đó, ngoài chúng tôi ra, trên khoảng đất trống, còn có vài người cũng dừng chân, đứng nhìn ra biển hưởng gió biển và hơi mát của rừng.


Sau một đoạn đường nữa, chúng tôi tới một địa điểm ở lưng chừng núi. Để lên nơi này, khách xuống xe, đi bộ lên. Đó là tượng một phụ nữ dáng tọa thiền, mặt hướng ra biển. Người dân Campuchia gọi đây là tượng thánh nữ Ya Mao. Theo truyền thuyết, vị thánh nữ này gắn liền với câu chuyện đi tìm chồng và bà đã được người dân đất nước Campuchia tôn kính, bà luôn che chở cho mọi người dân trên những cung đường lên Bokor. Bà là biểu tượng may mắn, vì Bokor được bà cai quản. Đứng tại nơi này, có lúc trước mặt là một làn sương mỏng bay qua, che khuất đoạn đường đi tới. Nhưng chỉ một thoáng thôi, làn sương bay đi. Lát sau, một làn sương nữa lại thoảng qua trước mặt, uyển chuyển, thướt tha như tà áo lụa mỏng của con gái đong đưa trước gió. Đây cũng là một ấn tượng khó quên đối với lữ khách nặng tình.


Chúng tôi trở xuống, lên xe tiếp tục đi. Có nghĩa chúng tôi sẽ phải trải qua con đường quanh co uốn lượn trong một không gian bạt ngàn cây rừng, mây núi bồng bềnh. Càng đi càng thấy con đường này rất đẹp, hấp dẫn và thoải mái, xứng danh với ngọn núi có những di tích lịch sử lâu đời, trong đó có nhà thờ và ngôi chùa Năm thuyền.


Tôi thoáng nghĩ đến những bộ não đã đầu tư vào việc bảo vệ rừng, làm con đường lên núi, vừa rộng vừa tạo niềm phấn khởi và an toàn cho du khách, vì họ đang trong cuộc hành trình đến với những huyền thoại, kỳ bí. Con đường một bên là núi cao, một bên là biển, màu nước xanh ngắt mang dáng vẻ bình yên đối với cuộc sống con người. Điểm đặc biệt khác là, ngọn núi thì cao (điểm cao nhất là 1.080m, từ mặt biển) nhưng con đường lên núi bằng xe máy không làm cho chúng tôi thấy có bất cứ một cảm giác bất an nào.


Tâm lý bình an này đã giúp chúng tôi lên tới ngôi chùa Wat Sampov Pram, còn gọi là chùa Năm Thuyền một cách thoải mái. Bên dưới chùa có một khoảng sân để khách dừng xe. Đường lên chùa có khoảng hơn 30 bậc, lát bằng những cục đá. Khách thập phương tới đây khá đông như tôi thấy tại tượng đài nữ thánh Ya Mao. Nhà chính điện nhỏ, bên trong tối. Tôi không thấy ai đi vào phía trong, họ chỉ đứng trước cửa hướng vào trong vái lạy mấy vái. Nơi đây có một khoảng sân, tường gạch xây chung quanh ngôi chùa. Đứng ở mặt trước, khách nhìn ra biển. Đảo Phú Quốc lúc ẩn lúc hiện qua màn sương. Phía bên hông trái chùa, có bốn tảng gạch hình vuông, không cao, chỉ khoảng 40-50cm, tất cả đã phủ rêu phong như toàn thể chùa. Tôi không hiểu 4 cái cột này có mục đích gì? Phải chăng để ngăn gió và sóng biển? Mục đích nhằm bảo vệ chùa? Phía sau chùa, có một ngôi nhà cũng thấp và chắc chắn, dùng để sư tăng ở trước kia? Nhìn toàn bộ, Wat Sampov Pram không có dáng vẻ đồ sộ và tráng lệ. Có lẽ đã trải qua một thời gian bỏ hoang phế, lại nữa chùa ở trên ngọn núi cao, đầy sương gió. Tuy nhiên, mọi công trình ở đây, đều rất kiên cố, cả bức hàng rào bằng gạch, ngoại trừ ngọn tháp thì nhọn và cao.


Chùa Wat Sampov Pram còn có tên gọi khác là chùa Năm Thuyền, được vua Monvivong cho xây dựng vào những năm 1924 để ông có thể tới đây cầu nguyện. Tên gọi đặc biệt của chùa Năm Thuyền là do xung quanh chùa có 5 tảng đá lớn mang dáng dấp của những chiếc thuyền nên ngôi chùa này mới có tên như vậy. Viếng thăm chùa, du khách sẽ được nghe kể về chuyện tình của công chúa Nagani và hoàng tử Preah Thong, tổ tiên dân tộc Khmer, cùng bí ẩn đằng sau năm hòn đá hình thú giống năm chiếc thuyền.


Theo truyền thuyết, một vị vua kia có hai hoàng tử, Hoàng tử thứ nhất tên là Preah Thong không được lòng vua cha, nên phải nhường ngôi cho người em trai mình.


Chán nản, chàng rời bỏ đất nước và đi du ngoạn bốn phương.Trong hành trình chu du ấy, chàng gặp một cây Tlork rất cao, loài cây không chỉ ăn được hạt mà còn có thể dùng để thấm nước cho tàu thuyền. Chàng nghĩ đây là thứ mà mình đang cần cho chuyến chu du. Chàng hạ lệnh cắm trại gần cây Tlork. Sau những ngày dài mệt mỏi, buổi sáng thức giấc, chàng thong thả dạo bước trên bờ biển và bắt gặp hình ảnh những thiếu nữ xinh đẹp đang nô đùa gần đó.

Chàng như rơi vào tiếng sét ái tình với công chúa thủy cung Nagani. Ít lâu sau, chàng theo nàng về thủy cung gặp mặt Long vương và xin hỏi cưới công chúa. Nhà vua vui mừng chấp thuận gả nàng công chúa xinh đẹp cho chàng. Sau 7 ngày ở thủy cung, chàng ngỏ ý muốn cùng vợ chu du thiên hạ và xây dựng vương quốc của riêng mình. Nhà vua ưng thuận và cấp cho vợ chồng Preah Thong 5 chiếc thuyền buồm khổng lồ chứa đầy châu báu. Họ ra đi, đến vùng đất Năm thuyền bây giờ và xây dựng vương quốc tại đây.

Thời gian dần trôi, nước biển rút đi, năm chiếc thuyền ngày nào hóa đá, tạo nên một hình tượng tuyệt đẹp mà du khách bắt gặp ngày nay ở địa danh chùa Năm thuyền. Tới mãi tận sau này, nhận ra được địa thế tuyệt đẹp của cao nguyên Bokor và thổn thức về giai thoại của người sáng lập nền văn hóa Khmer, vua Monivong đã cho xây dựng Wat Sampov Pram vào năm 1924 để làm nơi lễ bái, cầu nguyện mỗi khi vua lên Bokor nghỉ dưỡng. Từ đó, chùa Năm thuyền trở thành một địa danh được du khách trên toàn thế giới muốn tìm tới trong tour du lịch Campuchia” (Theo Loan vtp – Mytour.vn) 


Tôi tạm biệt chùa Năm Thuyền. Mặc dù núi Bokor còn nhiều di tích để du khách tới thăm viếng. Như khu Vườn Quốc gia Monivong Bokor, do vua Sihanouk thành lập vào năm 1993. Tại đây còn có khu nghỉ dưỡng cao cấp (5 sao) Thansur Bokor Highland Resort. Chỗ khác, có khu phức hợp khách sạn, casino cổ Bokor Palace Hotel do người Pháp xây dựng lúc trước hoặc thác nước hai tầng Popokvil mang trong mình những dòng chảy lịch sử bí ẩn. Popokvil được dịch ra với ý nghĩa “Những đám mây bồng bềnh”. Xung quanh thác là quang cảnh hoang sơ, trong lành, các dãy đá chất chồng lên nhau xen kẽ các loài thực vật xanh um tùm.

Vì tôi không có ý định tham quan những nơi này, nên mấy người chúng tôi chỉ dừng lại ghi mấy tấm hình thôi, một phần cũng là để nghỉ chân chốc lát.


Bây giờ chúng tôi đi đến nhà thờ cổ, dừng xe ở dưới đường rồi qua nhiều bậc đá mới lên tới nơi. Bước lên bậc đá trên cùng là sân nhà thờ, khung cảnh lặng lẽ như thể đã lâu lắm không có người nào lui tới, tôi chợt khựng lại. Toàn cảnh khu nhà thờ xuất hiện trước mặt tôi. Nền sân nhà thờ là cỏ xanh, trống trải. Hai bên đầu nhà thờ, có hai cây không lớn lắm. Còn nhà thờ thì thấp và nhỏ nhưng dáng vẻ rất vững chãi. Người anh em đi bên cạnh tôi nói rằng, vì ở vị trí cao trên núi, nên tường nhà thờ dày cả mét, mới chống chọi cùng giông báo và mưa gió của núi rừng suốt bao nhiêu năm tháng đã qua. Một ánh sáng nội tâm chợt lóe lên trong tôi. Tôi bước nhanh trên thảm cỏ để vào bên trong nhà thờ qua lối bên hông. Vào tới lòng nhà thờ, tôi đi thẳng lên phía trên bàn thờ, cúi xuống hôn bàn thờ. Bức tường phía sau bàn thờ treo cây thánh giá không có tượng Chúa chịu nạn, phía trên thánh giá là ảnh Chúa Thương Xót bằng giấy, còn mới. Trên bàn thờ thì có thánh giá với Chúa chịu nạn. Phía dưới bàn thờ, có một bình hoa huệ trắng nhân tạo. Mấy điều này nói cho biết vẫn có những người công giáo lui tới đây. Người anh em hướng dẫn chuyến đi này cũng nói rằng thỉnh thoảng có những phái đoàn người Pháp dăm ba người lên đây. Đức tin tôi bảo tôi hãy cầu nguyện, vì Thiên Chúa hiện diện khắp nơi. Thiên Chúa ưa nơi thanh tịnh, cả nơi kín đáo.


-Lạy Chúa xin hãy đến nhà Chúa đây, để nơi này trở thành Nhà cầu nguyện của các tín hữu Chúa. Con đã không được tham dự thánh lễ tại đây, trên ngọn núi này. Nhưng lạy Chúa, giờ này, chính giờ này Chúa dẫn con đến đây thì lạy Chúa, từ nơi đây con hướng về quê nhà con, nơi con đã sinh ra và đã ra đi, nơi đây, lúc này, con có những người cháu đã chọn đời sống tận hiến, đang hướng tới ngày dâng lời khấn Trọn đời theo linh đạo Hội dòng Mến Thánh Giá. Xin Chúa xuống trên những nữ tì này ơn Khôn ngoan, Vâng phục, Thánh thiện và Sức mạnh để những người này chiến thắng ác thần. Lạy Chúa, cũng từ nơi đây con hướng lên đồi Can-vê xưa, nơi Chúa đã chịu chết, đã hoàn tất Thánh ý Chúa Cha. Phần con, xin Chúa cũng giữ gìn con khỏi ác thần. Nhưng con xin theo thánh ý Chúa cho tới hơi thở cuối cùng. Amen


Tôi bồi hồi nhớ đến một linh mục người Pháp, dòng Tên, cha Phêrô Teilhard de Chardin (1881-1955).Ngài là một triết gia, một nhà địa chất học và cổ sinh vật học danh tiếng. Cha Teilhard de Chardin tham gia cuộc khai quật di chỉ hóa thạch người vượn Bắc Kinh, khởi sự từ năm 1923 kết thúc vào năm 1941 tại Chu Khẩu Điếm, phía tây nam Bắc Kinh, Trung Quốc.


Cha Teilhard de Chardin đã để lại cho Giáo hội và mọi Kitô hữu trên toàn thể giới một thánh lễ, một lời nguyện giữa sa mạc vào một buổi sáng tinh mơ cách nay đã 95 năm. Với mục đích chia sẻ điều tuyệt diệu này, tôi xin dẫn từ website: cgvdt.vn, bởi Huệ Khải, Thứ Sáu, 22 tháng Chín, 2017. Dịch giả ẩn danh.


Theo một bài báo cho biết, “mùa hè năm 1923 linh mục Teilhard de Chardin thám hiểm sa mạc Ordos, nằm về phía tây Bắc Kinh, trên một cao nguyên ở phía nam khu tự trị Nội Mông hiện nay. Đất ở Ordos là một hỗn hợp gồm đất sét, cát, bất lợi cho nông nghiệp. Linh mục de Chardin đi vào sa mạc này vào mùa hè, khí hậu quá gay gắt và điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt. Cuộc hành trình gian khổ đó của nhà khoa học đã là nhân duyên để kho tàng văn học về huyền nhiệm tâm linh của nhân loại được lưu giữ cho tới hôm nay và mai sau một áng văn trác tuyệt.

Sáng tinh mơ hôm ấy, linh mục nhận ra mình đang lẻ loi giữa bao la sa mạc hoang vu trong ánh triêu dương đang bừng tỏa từ cuối chân trời xa xăm. Một màu vàng cam nhuộm khắp càn khôn thế giới. Đẹp quá! Huy hoàng quá! Thiên nhiên rực rỡ này Thiên Chúa đã ban trao cho con người và vạn loại. Lòng ngập tràn nỗi xúc động thiêng liêng khi cảm thụ trọn vẹn lẽ huyền nhiệm của Thiên Chúa hiện hữu giữa đất trời, ngay tức khắc, đúng vào lúc xuất thần đó, linh mục de Chardin muốn cử hành một thánh lễ đầu ngày. Nhưng, giữa sa mạc Ordos, thấy mình chẳng có bàn thờ, chẳng mẩu bánh thánh, chẳng giọt rượu lễ, linh mục de Chardin bèn lấy cả trái đất làm bàn thờ, lấy hết thảy vạn vật chúng sanh đau thương và hạnh phúc trên trái đất để làm bánh và rượu cho thánh lễ. Sau đây là lời cầu nguyện trong thánh lễ hy hữu ấy:


Lạy Chúa, vì con không có bánh, không có rượu, cũng không có bàn thờ, nên con sẽ nâng con vượt lên khỏi những thứ tượng trưng này; con xin lấy trọn vẹn trái đất làm bàn thờ và trên đó, con sẽ dâng lên Chúa tất cả mọi nhọc nhằn cùng những nỗi đau khổ của thế gian.

Khi ánh triêu dương ló dạng, dịch chuyển như một màn lửa băng qua chân trời, thì trái đất tỉnh giấc, rùng mình và bắt đầu những công việc hàng ngày của trái đất. Lạy Chúa, con sẽ đặt trên dĩa của con những gì gặt hái được bằng sức cần lao mới vừa phục hồi này. Con sẽ rót vào chén tất cả nhựa sống được ép ra từ hoa quả của trái đất trong ngày hôm nay. Dĩa và chén của con là những chiều sâu thẳm tâm hồn đang được phơi bày rộng mở ra cho tất cả các sức mạnh sẽ trỗi dậy trong khoảnh khắc nữa từ mọi ngóc ngách của trái đất và đồng quy về Thần Khí.

Lạy Chúa, xin ban ơn cho con nhớ tới và hiện tại hóa một cách huyền nhiệm tất cả những ai vào lúc này đang được ánh triêu dương đánh thức để đón chào ngày mới. Khi con gợi lại những điều này trong tâm trí, trước tiên con nhớ đến những người đã chia sẻ cuộc sống với con, đó là gia đình, cộng đoàn, bạn bè, và đồng sự. Thế rồi mơ hồ hơn nhưng hoàn toàn đầy đủ, con cũng nhớ đến toàn thể nhân loại, đang sống và đã chết, mà đặc biệt là chính trái đất hữu hình này, lạy Chúa, khi con đứng trước Chúa, thì con là một mẩu nhỏ của trái đất (...).

Và như thế, lạy Chúa, trước mọi sự sống trong ngày hôm nay sắp nảy nở, lớn lên, trổ hoa, đỏ chín, con xin lặp lại những lời này: “Đây là mình Ta”. Và trước mọi thế lực chết chóc đang chực chờ sẵn sàng để gặm mòn, để tàn héo, để đoạn lìa, con xin lặp lại lời Chúa diễn bày huyền nhiệm tối thượng của đức tin: “Đây là máu Ta”. Trên dĩa của con, con xin dâng tất cả những ai sẽ sống tràn trề sinh lực trong ngày hôm nay, người trẻ trung, người mạnh khỏe, người dào dạt mừng vui; và trong chén của con, con xin dâng tất cả những gì trong ngày hôm nay sẽ bị nghiền nát và tan vỡ khi sinh lực rút ra khỏi sự sống. Trên bàn thờ đang dung chứa muôn loài vạn vật này, con xin dâng lên Chúa mọi sự trên trần gian chúng con, mọi sự đang trỗi dậy và mọi sự đang chết đi, và xin Chúa ban ơn lành cho tất cả.

Và sự hiệp thông của chúng con với Chúa sẽ không được trọn vẹn, sẽ không đúng nghĩa Kitô, nếu như cùng với những thu hoạch mà ngày mới này mang lại, chúng con nhân danh chúng con và thế giới, không chấp nhận những tiến trình ẩn tàng hay hiển bày vốn dĩ đang làm cho vạn vật suy yếu, già cỗi và chết đi. Không ngừng đốt cháy vũ trụ, những tiến trình ấy hướng đến ơn cứu độ và phán xét vũ trụ. Lạy Chúa, (…) chúng con tin tưởng vô điều kiện rằng những cái tôi hẹp hòi của chúng con sẽ được thay thế bằng sự hiện diện thiêng liêng của Chúa. Chúng con xin hợp nhau thành một lời nguyện cầu duy nhất, vừa mừng vui với những gì chúng con đang có và vừa khao khát những gì chúng con còn thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin nhốt kín chúng con vào những chiều sâu thẳm nhất trong tim Chúa, thế rồi khi giữ chúng con trong đó, xin hãy đốt cháy chúng con, thanh tẩy chúng con, hãy đặt chúng con trên lửa, tôi luyện chúng con, cho đến khi chúng con hoàn toàn trở nên đúng như Chúa muốn, bằng cách triệt tiêu mọi ích kỷ bên trong chúng con. Amen.” (Theo Huệ Khải, website: cgvdt.vn).


Trở lại với ngôi nhà thờ cổ trên núi Bokor


Tôi lui ra ngoài, rảo mấy bước ngoài sân. Phía chính giữa cuối nhà thờ thay vì cửa ra vào như các nhà thờ khác, thì ở đây là tường, giữa tường là cây thánh giá bằng gạch phủ một lớp vữa.Tôi lên đứng bên cạnh, đặt tay phải lên thanh dọc của thánh giá, biểu tượng của cuộc đời mỗi Kitô hữu là sự tương quan giữa họ và Thiên Chúa, như thể giữa thân cây nho và cành nho, không thể tách rời.

Lối tôi vào nhà thờ vừa rồi ở bên hông, không có cánh cửa vì tất cả là những khối gạch rất kiên cố. Mái nhà thờ vòng cung cũng là một khối liền nhau bằng bê tông, phủ rêu phong.

Đứng ở đây mà nhìn chung quanh, cảnh trí thiên nhiên thật đẹp. Rừng và núi, mây trôi và sương mù, tôi có cảm tưởng như mình đang ở trên cung đâu suất (chữ của Hàn Mặc Tử) chẳng muốn bước xuống đường trở lại cảnh đời.

Ở một gốc cây cuối sân nhà thờ, có cặp tình nhân trẻ đang ngồi với nhau. Họ chọn nơi này, qua bao nhiêu chặng đường, như chúng tôi vừa đi, để tỏ bày tình yêu với nhau. Thật diệu vợi nhưng cũng thật lý tưởng và chắc chắn là họ hạnh phúc.

Thật sự là tôi yêu mến nơi đây, không phải là một cảm xúc nhất thời, vì tôi không có ý tưởng nào về việc mong được ở lại. Điều này là không thể. Tuy nhiên, ngay hồi còn trẻ, tâm tư tôi thì vẫn hướng về những nơi thanh tịnh như thế này. Mặc dù thế, khi biết phải rời xa nơi này, tôi có dòng quyến luyến trong từng bước chân lúc lui xuống để trở về. Tôi bịn rịn, bước xuống thật chậm, những người khác cũng bước chậm theo tôi.


Chúng tôi về tới Trung tâm Rêbêca Á châu Kampot khoảng 11 giờ trưa, ngồi vào bàn tròn ăn bữa cơm thanh đạm rồi ai nấy về lều tranh, là một nhà sàn dành cho mình, trong mấy ngày đến đây.


Buổi chiều tôi thức dậy trễ, có lẽ do cảnh trí trung tâm này mát mẻ và thanh vắng, mặt khác là cả buổi sáng đi đường và lên núi Bokor gần 100km. Tôi xuống nhà ăn pha một ly cà phê sữa rồi đi một vòng nữa trong Trung tâm. Theo chương trình, ngày hôm sau chúng tôi lên Phnôm Pênh để đi viếng Đức Mẹ Mêkông, nơi đã có nhiều đoàn công giáo tại Sài Gòn đi hành hương.


LÊN PHNÔM PÊNH – VIẾNG ĐỨC MẸ MÊKÔNG


Từ Trung tâm Rêbêca Á châu Kampot lên Phnôm Pênh khoảng 150km, chúng tôi đi trên chiếc xe hơn mười chỗ ngồi, rời Trung tâm từ sáng sớm, lúc 5g30’, tới nơi hơn 9 giờ. Chúng tôi về căn nhà của vợ chồng người anh em, đã ở từ khi sang Campuchia trên 10 năm nay. Chúng tôi chỉ còn ít giờ ở tại đây. Hơn nữa, chúng tôi còn đi viếng Đức Mẹ Mêkông trước khi lên xe đò về Sai Gòn qua ngả Mộc Bài, Tây Ninh, theo chương trình xe khởi hành từ Phnôm Pênh vào lúc 11g30’. Vì thế, gần tới nhà, vợ của người anh em đã gọi về bảo các con chuẩn bị mấy đĩa cơm để lúc chúng tôi về là có cơm ăn ngay.

Ăn xong dĩa cơm, chúng tôi ra đường lên xe Tuk Tuk, một loại xe đặc trưng tại Phnôm Pênh, chở 4 người là tối đa. Xe đi qua quảng trường lớn, có tượng đài Quốc vương Sihanouk, được đặt trong một tòa tháp nằm cạnh Đài Độc Lập, giữa giao lộ hai đường là đường Norodom và Sihanouk. Xe chạy một quãng nữa, tới bến phà. Tại đây phà qua lại liền liền hai bên bờ sông Mêkông. Nhà thờ nơi đặt Đức Mẹ Mêkông gần bờ, chúng tôi đi mấy phút là tới nơi.


Được gọi là Đức Mẹ Mêkông vì được vớt lên từ dưới lòng sông Mêkông. Có hai bức tượng được vớt lên ở hai thời điểm khác nhau, mỗi lần đều được báo mộng. Vì nhà thờ nhỏ, nên cả hai tượng Đức Mẹ được để bên ngoài nhà thờ. Bên cạnh hai tượng Đức Mẹ, có tấm bảng ghi bằng hai thứ tiếng, một tiếng Anh và một là tiếng Việt, nói về lịch sử hai tượng này. Chúng tôi ghi lại đây từ hai bảng.


Ở tượng thứ nhất, vớt Đức Mẹ lên ngày 16 tháng 4 năm 2008, ghi: “Lịch sử sơ lược về việc vớt Đức Maria Mêkông”:


Một ngày kia có ghe đánh cá của dân tộc người Chăm, họ đánh chà rà cách xa bến đò Arey khsath khoảng 250m. Khi ấy lưới của họ đã mắc vào một khối sắt ở đáy sông.

Họ lặn xuống tháo gỡ chà rà, họ lấy dây buộc miếng sắt để kéo lên ghe nhưng không thể được. Họ liền đi báo cho anh em Việt Nam nuôi cá bè ở gần. Người nào cho họ 30.000 ria, họ sẽ trao khúc sông có khối sắt ấy cho mà lặn lấy sắt”.

Ngày 15 tháng 4 năm 2008, một nhóm gồm 8 người Việt Nam theo đạo Phật gồm: anh Thiệt, anh Liền, anh Độ, anh Hoa, anh Thu, anh Gấm, anh Phệt, anh Đề đồng ý cho người Chăm 30.000 ria để lặn tìm kiếm khối sắt bán lấy tiền nuôi gia đình.

Ngày đầu tiên lặn xuống họ chỉ tìm được một miếng sắt nhỏ dài khoảng 2,5-3m, phần còn lại vẫn còn chìm trong bùn dưới đáy sông.

Ngày hôm sau là thứ tư, ngày 16 tháng 4 năm 2008, họ gồm 8 người không thất vọng, họ tiếp tục bàn luận và góp ý kiến với nhau, rồi lấy máy bơm bắn xuống đáy khoảng 1,50-2m, lúc đó họ phát hiện được một khối sắt lớn, họ lấy dây cột lại và trục kéo lên ghe. Khi họ nhìn thấy cục sắt thì họ phát hiện ra tượng của một người phụ nữ. Họ đem về để trên bè cá của họ.

Lúc ấy, có người hàng xóm của 8 thợ lặn, tên là Lý, ông đã nhận ra bức tượng đó là của người Công giáo, ông liền báo cho ông Khui Chanh Đa là Kitô hữu thuộc họ đạo Arey khsath. Ông Khui Chanh Đa đến coi xem là tượng gì? Ông nhận ra đó là tượng Đức Maria. Ông liền nói với 8 người thợ lặn: “Đừng đạp bể, đừng đem đi đâu, để cho Ban hành giáo Arey khsath đến thỏa thuận rồi chuộc lại. Tượng này là tượng Đức Mẹ bên đạo công giáo chúng tôi. Hai bên đã đồng ý thỏa thuận rằng: Ban hành giáo bồi dưỡng cho tám người thợ lặn 2.000.000 ria. Vào khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, tượng Đức Mẹ được rước về đặt ở cuối nhà thờ của họ đạo Bãi Cải.

Đêm 16 tháng 4 năm 2008 một người trong tám thợ lặn tên là Thiệt thấy một hiện tượng lạ xảy ra, anh nhìn thấy tượng Đức Mẹ bay 3 đến 4 vòng trên bè cá của họ. Đêm hôm đó, anh không thể ngủ vì sợ có vấn đề xảy ra với gia đình. Sáng thức dậy, anh kể cho mọi người biết chuyện đã xảy ra đêm qua.

Sáng ngày 17 tháng 4 năm 2008, khoảng 7 giờ, tám người thợ lặn đến nhà thờ quỳ trước tượng Đức Mẹ Maria vừa vái lạy vừa van xin cho được bình an, xin Mẹ đừng chấp nhất đến sự thiếu tôn kính, những xúc phạm và thiếu hiểu biết của họ.

Khi đó Ban hành giáo đem số tiền 2.000.000 ria (hai triệu ria) trao cho họ, nhưng họ không nhận, họ xin dâng số tiền này cho nhà thờ. Chiều tối hôm đó Ban hành giáo đã làm một bữa tiệc đãi họ, và thời gian sau đó, Ban hành giáo đã mua gạo, mua mì gói và phân chia dần dần cho họ, cho tới khi hết số tiền ấy, vì họ là những người rất nghèo.

Ngày nay, tượng Đức Mẹ Maria Mêkông cao 1,50m, nặng 130 kg được đặt trên núi cao 1,80m, được giữ gìn và tôn kính tại nhà thờ Nữ Vương Hòa Bình (thuộc họ đạo Arey khsath).


Bảng để bên cạnh tượng thứ hai, vớt lên ngày 19 tháng 11 năm 2012, ghi:

Ông Phan Văn Hú sinh năm 1953, sinh sống tại xóm Arey-khsath, xã Arey-khsath, huyện Lvi-em, tỉnh Condai. Ông là người đạo Phật, từng làm nghề thợ lặn.

Đêm 18 tháng 11 năm 2012, ông chiêm bao thấy một tượng bằng đồng, giang tay, hình thù một người thanh niên to lớn. Người đó nói với ông: “Hãy vớt tôi lên, tôi đang nằm dưới đáy sông Mê kông, tôi ở gần nơi mà các người đã vớt Đức Mẹ lần trước”. Ông vội vàng đi vớt, nhưng tượng quá nặng, ông phải thuê máy cẩu để cẩu lên, hết ba trăm đô la Mỹ mà vẫn không vớt được lên. Nhưng chỉ là chiêm bao.

Sáng sớm hôm sau, ông ngồi quán cà phê của người hàng xóm là người Kitô hữu. Ông nói: “Hôm nay, tôi phải đi lặn vớt Chúa Giêsu vì đêm hôm qua tôi mơ thấy Chúa”. Mọi người nghe ông nói, nhưng chưa mấy ai đủ lòng tin. Ông gọi hai người con trai là anh Phan Văn Ì và anh Phan Văn Mận cùng ra khơi với ông. Đến nơi, ông chỉ chỗ cho hai con xuống sông mò tìm. Chỉ một lát sau anh Mận đã chạm vào tượng.

Ba cha con dùng máy bắn bùn ra khỏi tượng rồi lấy dây cột và dùng cẩu lắc cẩu tượng lên. Khi đưa tượng gần lên mặt nước, ông gọi điện cho ông Nguyễn Hoàng Anh là người hàng xóm cũng là cựu ban hành giáo họ đạo Arey-khsath (Bãi Cải) đến giúp ba cha con ông.

Vào lúc 12 giờ 38 phút ngày 19 tháng 11 năm 2012, tượng Đức Mẹ bồng Đức Chúa Con (Mẹ Thiên Chúa) cao 2,3m đã được đưa vào bờ sông Arey-khsath.


Tất cả người dân lương giáo trong xóm đổ xô đến ngắm nhìn sự kiện này. Khoảng 50 thanh niên hết sức đưa tượng Đức Mẹ lên bờ, đưa về nhà thờ Nữ Vương Hòa Bình (Arey-khsath) để tôn kính.

Vào lúc 13 giờ chiều ngày 19 tháng 11 năm 2012, tất cả tín hữu trong họ đạo Bãi Cải hết sức vui mừng vì đây là lần thứ hai giáo xứ được đón tượng Đức Mẹ từ đáy sông Mêkông.

Ông Phan Văn Hú nói: “Khi vớt được Đức Mẹ lên ghe, tôi có cảm giác Mẹ không phải là bức tượng nhưng là một thân thể của một người đang sống như chúng ta, tôi vừa mừng vừa run.. Lúc đó tôi thầm thĩ cầu xin Mẹ ban cho vợ tôi được khỏi bệnh.

Tôi xin dâng tượng Đức Mẹ cho nhà thờ, không tính toán hơn thiệt.”


Sau những phút chiêm bái hai tượng Đức Mẹ ở bên ngoài nhà thờ, tôi vào bên trong nhà thờ, đi thẳng lên Nhà Tạm, lặng lẽ cầu nguyện vắn tắt, hướng về quê với hai nữ tu trong nhà đang chuẩn bị khấn Trọn.


Kết


Việc Đức Maria linh ứng ở một địa điểm tại sông Mêkông bên Campuchia trên đây là sự kiện mới nhất chúng tôi được biết. Nhìn ra thế giới Kitô giáo, người Kitô hữu có những Trung tâm hành hương chẳng những để người tín hữu Kitô mà cả những người ngoài Kitô giáo, đến kính viếng Đức Mẹ. Ở đâu cũng đều có một lịch sử huyền nhiệm về việc Đức Maria hiển lộ.


Như ở Quebec (Canada), có đền thánh Đức Mẹ Cape. Hằng năm, vào mùa xuân và mùa hạ, cả triệu người tuôn về ốc đảo không gian xanh mát, khu vườn yên tĩnh này với ngôi nguyện đường có từ năm 1714 cùng bức tượng Đức Mẹ linh thiêng..Tại Mêxicô, năm 1531, Đức Maria hiện đến với một thổ dân tân tòng da đỏ, tên là Juan Diego, đang trên đường đi học giáo lý do các thừa sai Âu châu phụ trách. Diego đi trình bày sự việc với đức giám mục Juan de Zumarraga, nhưng lúc đầu ngài không tin. Vì thế khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ hai với người tân tòng da đỏ, Juan Diego xin Đức Mẹ cho một dấu chỉ, để có thể minh chứng cho Đức giám mục. Đức Trinh nữ Maria dạy Diego hái một ít hoa hồng tại chỗ. Đây là điều ngoại thường vì lúc đó là tháng chạp và nơi đó toàn đá. Diego hái được một ít hoa hồng và cho vào áo choàng đem về. Khi ông mở áo để trình hoa cho Đức giám mục thì thấy một hình Đức Mẹ đã được in trên tấm áo. Từ đó, hình ảnh này được các tín hữu Mêxicô tôn kính tại Guadalupe (Theo Từ điển Đức Mẹ của An-phong-sô Bốt-sa, S.M.M. Dịch giả: Matthia M. Ngọc Đính, C.M.C). Người tín hữu Kitô còn thấy Đức Mẹ xuất hiện ở nhiều nơi khác, như Knock (Kơ-nốc), Ái Nhĩ Lan (1879); La Salette, Pháp (1846) v.v...Nổi danh là Lộ Đức (Pháp), là Fatima (Bồ Đào Nha). Tại Lộ Đức năm 1858, thụ nhân là trẻ nữ Bernadette. Đức Mẹ hiện ra xưng mình là Vô Nhiễm. Còn Fatima, năm 1917 Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ. Trong đó có Lucia 12 tuổi, là thụ nhân sống mãi đến ngày 14-2-2005 mới về trời, ở tuổi 97. Ngoài những lần Đức Mẹ hiện ra tại Fatima năm 1917, năm 1925 và 1929, Lucia lại được Đức Mẹ hiện ra với mình.


Còn tại Việt Nam, có các Trung tâm hành hương kính viếng và cầu nguyện với Mẹ Maria, như La Vang, (Quảng Trị); Trà Kiệu, (Qui Nhơn). Hai địa danh này ghi dấu thời cấm cách dưới triều nhà Nguyễn. Về miền Tây, có La Mã, một họ đạo thuộc Bến Tre. Năm 1950, quân Pháp bố ráp vùng Bầu Dơi (tên cũ của La Mã), bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại nhà một giáo dân là Nguyễn Văn Thành bị mất, vì nhà anh bị phá nát. Ba tháng sau, một đạo hữu Cao Đài là Võ Thị Liền, đi xúc cá, tình cờ gặp được bức ảnh dưới một con rạch. Bức ảnh còn đủ kính nhưng đã phai mờ hết mầu, không còn hình dáng gì hết, chỉ toàn mầu bùn lấm lem. Bà lão tri hô lên và nhiều người xúm lai, nhận ra là bức ảnh để tại nhà anh Thành. Anh nhận lại bức ảnh, nhưng vì lem luốc nên dùng che mưa nắng nơi vách nhà bị thủng. Ông biện tên là Hạt thấy bất kính nên đem về nhà mình đặt trên tủ bàn thờ.

Lễ Đức Mẹ Mân Côi ngày 7-10.1950, Bầu Đơi lại một lần nữa chìm trong khói lửa, dân làng chạy trốn hết. Nhà ông biện Hạt cũng bị bắn phá tan nát. Ông Hạt và người con út 14 tuổi không kịp chạy, nấp phía sau một tấm liếp trong nhà. Hai cha con ông Hạt luôn miệng kêu cầu Đức Mẹ. Sau cơn bố ráp, hai cha con chạy ra, thấy nhà cửa tan hoang, cột kèo xiêu vẹo, duy có bàn thờ là không sao. Hai cha con thoát chết, chạy đến trước bàn thờ cám ơn Đức Mẹ. Ôi lạ quá! Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, ở dưới bùn hơn ba tháng đã phai nhạt hết, nay phút chốc lộ hình ra tốt đẹp và xinh tươi lạ lùng, ngoại trừ hai mũ triều thiên thì đến ngày 15 tháng 8 năm 1951, lễ Đức Mẹ Mông Triệu mới lộ rõ (Sđd). Từ đó nơi đây trở thành trung tâm hành hương, giáo hữu rủ nhau đến với Đức Mẹ. Còn Đức Mẹ Tà Pao, Phan Thiết, Đức Mẹ Núi Cúi, giáo phận Xuân Lộc cũng là hai trung tâm hành hương lôi cuốn nhiều tín hữu đến kính viếng và cầu nguyện.


(Tháng 5-2018)


Ghi chú hình: Hai lữ khách. Người đi sau là tác giả




cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 27.5.2018

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004