Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





LỜI RU ĐẤT MƯỜNG VẪN NGÂN

LÊN GIỮA ĐẤT TRỜI TÂY NGUYÊN








S au hơn một giờ ngồi trên máy bay vào Tây Nguyên. Vừa ra sảnh đón xe đã thấy anh Văn Công Hùng-Nguyên Phó chủ tịch hội Văn Nghệ Gia Lai đang chờ. Ngồi trên xe riêng của anh về trung tâm thành phố, anh hỏi theo pho cách người lính :

- Này các ông đi làm chương trình gì mà đủ cả các “binh chủng” vậy ?

Nhà Thơ Lê Va- Chủ tịch Hội VHNT Hòa Bình cười và trả lời nhà văn Văn Công Hùng cũng rất hóm hỉnh :

- Văn nghệ là một “ binh chủng hợp thành ” mà, đi xa là phải có đủ “ xe, pháo, mã” chứ để còn tùy cơ ứng biến !

Khi biết chúng tôi vào Tây Nguyên để tìm hiểu về văn hóa của người Mường Hòa Bình đi xây dựng quê mới ở miền cao nguyên thì anh Hùng thú thật :

- Các ông vượt cả ngàn cây số vào đây để viết về văn hóa một dân tộc đã đến Tây Nguyên ít cũng hơn 20 năm, nhiều đã hơn 60 năm. Chúng mình ở trong này với đồng bào hoài mà sao không nghĩ tới nhỉ ? Chà chà, thế mới biết văn hóa đất Mường đã thấm vào các bạn lắm lắm rồi nên mới tâm huyết như vậy!

Chiều hôm ấy chúng tôi tạm biệt thành phố Plây ku có Biển Hồ thơ mộng để dong duổi trên những con đường 14, đường 25 đến với bà con ở vùng quê mới. Huyện Chư Pông đây rồi, chắc chỉ vài chục cây số nữa là chúng tôi được gặp gỡ những người anh em quê núi Hòa Bình ở Tây Nguyên. Chúng tôi cho xe lăn bánh từ từ, phía trước là con đường bê tông phẳng lỳ. Hai bên đường là những cánh đồng canh tác lúa rộng tít tắp đến chân núi. Xa xa kia là những vườn mía, vườn Điều xanh ngăn ngắt. Huyện Chư pông thuộc vùng trũng phía Nam tỉnh Gia Lai. Thấp thoáng những bóng thôn xóm đã hiện trước mắt mọi người trong nắng chiều tà. Tôi cho xe chạy rất chậm, rất chậm ngắm những ngôi nhà sàn của thôn 1 thuộc xã Ia Lâu dọc hai bên đường. Bỗng nghe thấy tiếng hát ru nghe rất quen bằng tiếng Mường của bà mẹ chắc còn trẻ vọng ra từ chiếc cửa Vóong ngôi nhà sàn cách con lộ hơn chục mét. Tôi dừng xe, tắt máy, anh em mở của bước xuống và đi nhanh về phía tiếng ru vẫn còn đang cất lên đằm thắm, ngọt ngào biết nhường nào: “ Hà dời…dời ha…ơi..Đong đưa bông lúa trên nương đang chờ..hà ơi/ Sương đêm còn long lanh lời thương…hà dời/ Mẹ ngồi bên vóong nghe gà gáy sáng/ Thương con năm tháng mỏi mòn con ơihà dời…hà ơi….”. Người mẹ không biết chúng tôi đang đứng dưới chân cầu thang. Lời bài hát của nhạc sĩ Huy Tâm đã được cách điệu cất lên bằng tiếng Mường trước rồi sau đó là tiếng phổ thông vẫn đang réo rắt. Tôi đoán chắc cháu nhỏ chỉ ba, bốn tuổi nhưng khi bước lên sàn thì mới rõ cháu bé còn đang bú mẹ. Người mẹ chừng hai lăm tuổi, ấp miệng con vào bầu vú căng sữa. Mắt cô cứ nhìn con đắm đuối và lời ru cứ bay ra khỏi đôi môi xinh xinh thành bài thơ ngọt ướt dưới trời chiều Tây Nguyên. Nghe tiếng động sàn, cô gái khép nép quay lại chào khách. Nghe thấy nói người từ Hòa Bình vào, cô vui đến luống cuống. Cô kéo vạt áo che ngực rồi đứng lên đặt cháu bé đang thiếp thiếp vào chiếc nôi đang bằng tre sấy khói bếp lên màu đen bóng và quay lại mời khách lạ, giới thiệu:

- Cháu tên là Bùi Thị Hạnh, người Mường ở xã Nam Sơn Tân Lạc, còn chồng cháu chạy nước lòng hồ thủy điện từ xã Tiền Phong huyện Đà Bắc vào chú ạ. Chú có biết Đà Bắc không ?

- Tôi cười nói với Hạnh: “ Đà Bắc là quê hương thứ hai của chú đấy. Tiền Phong quê chồng cháu chú đã đi lại mòn mấy đôi giầy bảo hộ lao động ấy chứ . Nam Sơn quê cháu có quýt đỏ ngọt lịm này, có rượu nấu bằng ngô nhanh làm cho khách say lắm ! ”

- Ôi, chú nói cháu mới nhớ. Cháu mời chú uống ly rượu ngô mang từ ngoài quê vào nhé.

Tôi nhâm nhi từng ngụm rượụ nhỏ Hạnh mời. Chén rượu làm cho chủ khách gần nhau hơn. Hạnh cụng ly lấy lệ và bảo tôi uống thêm. Tôi nói mình phải lái xe, Hạnh cười thật tươi khoe hai chiếc lúm đồng tiền và mời tôi cốc nước màu vàng sậm. Khi đưa lên miệng tôi nhận ra ngay là loại dây rừng đồng bào Mường vẫn dùng thay chè búp hay chè xanh, lá vối dưới xuôi. Tôi hỏi Hạnh:

- Ở trong này tìm đâu ra cây “ máu người ” hả cháu ?

- Chú cũng biết cây này ạ.Tuần nào chả có mấy chuyến xe từ ngoài đó vô. Trong này thèm măng đắng, măng chua hay Quất hồng bì hoặc muốn có sản phẩm nào của quê hương theo mùa cũng được ạ !

- Cháu ru con ngọt quá, nghe thấy chú lên thăm. Gia đình cháu vô đây lâu rồi mà sao cháu vẫn hát bằng tiếng của dân tộc mình giỏi thế ?

- Nhà cháu cùng cả xóm vào Chư Pông từ năm 1983. Cháu sinh năm 1992 ở trong này. Bố mẹ cháu vẫn nói tiếng Mường, dạy chúng cháu tiếng Mường. Mẹ cháu hát hay lắm. Cháu biết ru con, biết hát bằng tiếng mẹ đẻ cũng là nhờ mẹ cháu dạy từ năm mười ba, mười bốn tuổi đấy. Chú biết không cứ đến Tết hay ngày Hội đại đoàn kết hàng năm xóm cháu vẫn tổ chức văn nghệ. Người có tuổi thì hát Thường Rang, hát đối, hát Lời Thương. Các cô, các chị trung niên thì xòe, chúng cháu cứ thế mà theo và nó thấm vào mình thôi ạ !

Chia tay Hạnh, tôi bước xuống cầu thang. Cô tiễn tôi đến bậc thang cuối và nói thao thiết : “ Nếu chú có thời gian ở lại đêm mai xem chúng cháu múa Xênh Tiền. Đội văn nghệ đoàn thanh niên xóm cháu đang tập để đi hội diễn đấy chú ạ !”.

Vòng xòe đón khách quê dưới nắng ban mai

Chiều chạng vạng, chúng tôi lên xe để tiếp cuộc hành trình đến các xóm thôn

của xã. Trong lòng tôi cứ ẩn chứa bao câu hỏi: Điều gì để một cô gái Mường sinh ra ở cách xa quê gốc hơn ngàn cây số mà vẫn hát tiếng dân tộc mình ngọt thắm như thế ? Tôi chợt nhớ có nhà học giả dân tộc học nào đó đã nói rằng : “ Nếu một dân tộc bị mất tiếng nói riêng của mình, mai một lời ăn, lẽ ở, tập tục riêng biệt, quên cách ăn vận quần áo của mình thì liệu dân tộc đó có còn bản sắc nữa không ?”. Đến thôn 1 của xã IA Lâu huyện Chư pông thì điều trăn trở, lo lắng của chúng tôi đã vợi bớt phần nào. Từng dãy nhà sàn đặc trưng của người Mường Đà Bắc vẫn đứng kia dưới tán dừa, bóng cau và tán cây Điều vùng Tây Nguyên. Những bà mế tuổi đã ngoài 80 theo con cháu vào miền đất lạ vẫn ngồi bên nhau dưới chân cầu thang đợi con, cháu đi làm, đi học về. Trẻ con thấy người lạ đến thôn nói chuyện với ông bà, cha mẹ cũng theo đi và chúng gọi nhau bằng Mường rất sõi. Đêm ấy vì phải gặp gỡ bà con thôn Lũng Vân mà chúng tôi không biết rằng chị em, bà con người Mường người Đà Bắc ở thôn Một đang đợi để giao lưu bằng những tiết mục văn nghệ của riêng dân tộc mình. Nhìn các cô gái đến dự buổi giao lưu ở nhà văn hóa trên đầu vẫn có chiếc khăn c’lâc màu trắng biểu tượng cho khát vọng của tình yêu trong trắng, lòng chung thủy chẳng phai mờ. Những bộ trang phục áo cóm trắng, xanh hay vàng cùng chiếc váy thâm dài thườn thượt đến gót chân. Trên cạp váy có hình hoa văn điệu nghệ, sặc sỡ. Chân váy lẩn khuất dải diềm đỏ mỗi khi bước chân đi mới lộ ra. Vòng xà tích bên hông đung đưa theo bước uyển chuyển…Tôi nói với các bạn mình rằng: Văn hóa Mường vẫn còn đây, bản sắc của người Mường vẫn còn đây giữa Tây Nguyên xa xôi. Dù đã mấy chục năm kể từ ngày đồng bào Mường Hòa Bình vào xứ lạ xây dựng quê hương mới.

Buổi sáng ở Tây Nguyên mới tuyệt làm sao. Nhiệt độ trung bình 25-26 độ. Nắng chưa phả nhiệt đốt đất đai, cây cỏ, dát mặt người. Gió chưa mạnh để thành những cơn thổi dài hun hút, thốc lồng lộng như từ buổi ban trưa đến xế chiều. Chủ tịch xã Bờ Y Nguyễn Duy Cường đưa chúng tôi đến thôn Bắc Phong huyện Ngọc Hồi Công Tum. Thăm nhà trưởng thôn Bùi Văn Linh và gặp Bí thư chi bộ thôn Sa Văn Khoa chúng tôi được biết 90% các gia đình trong thôn là người vùng hồ thủy điện thuộc huyện Đà Bắc vào năm từ 1992 đến 1995. Mới đầu chỉ có 70 hộ thôi mà trải qua hơn hai mươi năm lập nghiệp trên quê mới nay thôn đã có 302 hộ với trên 1000 nhân khẩu. Ấm nước chủ mời khách chưa tàn mà đã nghe tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng. Tôi hỏi anh Sa Văn Khoa:

- Hôm nay thôn mình có ngày hội gì vậy mà Chiêng ngân, trống thúc sớm thế ?

Anh Khoa trả lời :

- Nghe Chủ tịch xã điện xuống là có các bác ở ngoài Hòa Bình vào nên chị em trong đội văn nghệ thôn tổ chức xòe để chào người ở quê gốc vô đó!

Chúng tôi hơi ngỡ ngàng nhưng lại thấy đã gặp may mắn nên dục nhau đến ngay. Khoảng sân nhỏ của nhà văn hóa thôn đã đông đủ chị em với những bộ trang phục Mường và cả trang phục Tày –Mường rất đẹp. Chiêng treo trên giá, trống để góc sân. Tiếng : binh… bong… binh… binh… thùng… theo chặp cách quãng vang lên và cứ thế ngân xa giữa bầu trời cao nguyên. Các cô, các chị, các em đủ ba lứa tuổi nắm tay nhau và bước chân nhún theo nhịp Chiêng, tiếng trống. Vòng xòe cứ xoay tròn, những bước chân thôn nữ uyển chuyển, tay đưa lên ngang mặt rồi hạ xuống. Chân bước nghiêng tiến, lùi và vòng xòe cứ thế mở rộng, xoay tròn mỗi khi có người mới bước vào. Những gương mặt thanh tú, đằm thắm tươi như hoa lung linh dưới ánh nắng ban mai. Những chiếc váy của con gái Mường đung đưa nhè nhẹ như gió thổi vào màn nhung đen sao mà yêu đến thế…Tôi đến bên anh Bùi Văn Linh –trưởng thôn Bắc Phong, khẽ hỏi :

- Từ ngày vào trong quê mới chị em vẫn múa hát thường xuyên hay chỉ có khách đến thôn mới “ chiêu đãi ” đặc sản văn hóa Mường như hôm nay ?

Anh Linh cười và chỉ người phụ nữ đứng tuổi có gương mặt đôn hậu và thổ lộ :

- Lát nữa anh hỏi chị đội trưởng đội Văn nghệ thôn thì rõ. Nhưng xin thưa với các anh rằng năm nào cứ đến lúc chào Xuân mới là chúng tôi tổ chức cho chị em, các cháu thanh thiếu niên múa hát. Khi có các sự kiện quan trọng của thôn, xã hoặc trọng đại của tỉnh Công Tum hay của đất nước là bà con lại múa hát. Những điệu múa như Xênh Tiền, múa sạp, xòe hoa …và những bài dân ca của dân tộc Mường được đem từ quê Hòa Bình vào đấy. Chúng tôi múa hát cho bà con trong thôn, trong xã hưởng thụ. Chị em múa và hát bằng tiếng Mường cho các dân tộc khác ở Bờ Y cùng thưởng thức. Những năm gần đây do đi lại thuận lợi nên bà con ra thăm quê vào bao giờ cũng tìm được những ca khúc viết về Hòa Bình. Mua thêm được Chiêng, sắm thêm được áo váy của dân tộc mình. Dẫu xa quê đã gần ba chục năm trời nhưng nhờ nhìn vào những bộ áo váy, nghe lời ca tiếng hát, xem những điệu múa mà mình vẫn cảm thấy như ở giữa quê nhà !

Tôi cứ ngẫm lời thổ lộ của trưởng thôn Bắc Phong xã Bờ Y suốt chặng đường lên với bà con người Mường ở xã Hòa Thắng thành phố Buôn Ma Thuột. Đến Hòa Thắng thì chúng tôi lại thấy những gì nói về văn hóa bản sắc tưởng như lý thuyết nhưng lại hiển hiện ngay trước mình. Hòa thắng có ba thôn người Mường vào Tây Nguyên đã hơn 60 năm rồi. Thời gian trôi đi theo dòng lịch sử của đất nước có lúc trầm, lúc thăng. Sự biến động của lịch sử, sự giao thoa của lề lối làm ăn, nếp sống, kiến trúc hạ tầng giữa một vùng đất đa sắc tộc tưởng chừng đã làm phôi phai những cái gì gọi là bản sắc văn hóa Mường. Nhưng khi được nhìn tận mắt những bộ trang phục của con gái Mường Thàng, Mường Bi, Mường Vang, Mường Động mà chị Đinh Thị Tường Vy con một nhà Lang còn cất giữ như đồ gia bảo để dùng trong những ngày hội của thôn xã, những ngày Tết hay khi có con, cháu xây dựng gia đình…mới biết ý thức bảo tồn của mỗi gia đình người Mường ở đây như thế nào. Tôi mê mẩn bên những chiếc cạp váy Mường xịn nhất, cổ nhất với những hoa văn sặc sỡ, tinh xảo. Tôi đắm đuối ngắm nhìn dàn cồng chiêng đủ bộ mà đội văn nghệ thôn 1, thôn 2 xã Hòa Thắng đang lưu giữ. Tim đập rộn ràng khi xem, nghe các cháu gái 14, 15 tuổi hát Thường Rang, hát đối, hát Lời thương bằng tiếng Mường. Tôi nghe những lời Mo của anh Đinh Công Chinh chưa đến tuổi 50 mà ngỡ ngàng, nể phục. Khi ngồi với cụ bà Đinh Thị Khuyên gốc người Mường Thàng vừa tròn 80 tuổi thì những điều thắc mắc trong lòng được hóa giải. Cụ Khuyên nói với tôi như nói với một đứa con của dân tộc mình :

- Khi theo ông bà, cha mẹ vào đây thì chỉ có hai bàn tay trắng. Bố mẹ nói rằng con người là vốn quí nhất. Con người sống phải có cả vật chất lẫn tinh thần. Vật chất thì do đôi bàn tay, do cần cù, do trí sáng tạo mà có. Tinh thần của một tộc người là cốt cách của một dòng họ, văn hóa một tộc người là lời ăn, lẽ ở, là nhà cửa, đồ dùng hàng ngày, là quần áo, là tập tục trong việc vui, chuyện buồn…được đúc kết, lưu giữ truyền từ đời này sang đời khác. Lớp người sau học hỏi, kế tục lớp người đi trước. Người Mường tính cách vốn dĩ chân thật, dễ hòa đồng nhưng thầm lặng, kín đáo cũng như tiếng chiêng lúc thanh, lúc khầm nhưng phải biết động vào thế nào thì nó mới ngân lên. Văn hóa Mường hình thành từ nhiều dòng họ trong cộng đồng tập hợp lại. Cái hay, cái tốt, cái đẹp thì trân trọng nâng niu, gìn giữ và lưu truyền. Cái dở, cái lạc hậu không phù hợp trong tiến trình phát triển chung của đất nước thì loại bỏ nó đi. Nói như cụ Nguyễn Du là “ gạn đục, khơi trong” để thành bản sắc riêng của dân tộc mình con ạ !

Đêm ở Tây Nguyên gió vẫn lồng lộng thổi. Đọng lại trong tâm trí chúng tôi đó là sự đổi đời của bà con người Mường xa quê. Nhà cửa khang trang, kinh tế khá giả, tình nghĩa gắn kết yêu thương, đường làng ngõ thôn sạch đẹp, hòa đồng với bà con người bản địa. Điều vui hơn đó là người Mường Hòa Bình ở Tây Nguyên nhiều thì hơn đã 60 năm, ít cũng gần ba chục năm rồi nhưng vẫn giữ gìn bản sắc của dân tộc khá nguyên vẹn.Tiếng cồng, chiêng vẫn ngân lên giữa rừng núi điệp trùng để ngợi ca cuộc sống, chào bạn bè gần xa…và những khi đưa tiễn người về với Mường Trời. Câu hát, lời ru vẫn ngọt thắm, chan chứa tình cảm yêu thương bay lên giữa bầu trời Tây Nguyên đầy nắng và gió. Khi trao đổi với các đồng chí lãnh đạo các cơ sở ở Gia Lai, Công Tum, Đắc Lắc…chúng tôi đều được nghe lời nhận xét đáng tự hào là đồng bào Mường Hòa Bình vô đây sinh sống đã làm cho vườn hoa các dân tộc ở Tây Nguyên thêm sắc màu rực rỡ.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoàBình ngày 14.5.2018.


Quay Lên Đầu Trang

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004